Kinh Thánh Cựu Ước

Thánh Vịnh

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


Thánh Vịnh :  | | 001 | | 002 | | 003 | | 004 | | 005 | | 006 | | 007 | | 008 | | 009 | | 010 | | 011 | | 012 | | 013 | | 014 | | 015 | | 016 | | 017 | | 018 | | 019 | | 020 | | 021 | | 022 | | 023 | | 024 | | 025 | | 026 | | 027 | | 028 | | 029 | | 030 | | 031 | | 032 | | 033 | | 034 | | 035 | | 036 | | 037 | | 038 | | 039 | | 040 | | 041 | | 042 | | 043 | | 044 | | 045 | | 046 | | 047 | | 048 | | 049 | | 050 | | 051 | | 052 | | 053 | | 054 | | 055 | | 056 | | 057 | | 058 | | 059 | | 060 | | 061 | | 062 | | 063 | | 064 | | 065 | | 066 | | 067 | | 068 | | 069 | | 070 | | 071 | | 072 | | 073 | | 074 | | 075 | | 076 | | 077 | | 078 | | 079 | | 080 | | 081 | | 082 | | 083 | | 084 | | 085 | | 086 | | 087 | | 088 | | 089 | | 090 | | 091 | | 092 | | 093 | | 094 | | 095 | | 096 | | 097 | | 098 | | 099 | | 100 | | 101 | | 102 | | 103 | | 104 | | 105 | | 106 | | 107 | | 108 | | 109 | | 110 | | 111 | | 112 | | 113 | | 114 | | 115 | | 116 | | 117 | | 118 | | 119 | | 120 | | 121 | | 122 | | 123 | | 124 | | 125 | | 126 | | 127 | | 128 | | 129 | | 130 | | 131 | | 132 | | 133 | | 134 | | 135 | | 136 | | 137 | | 138 | | 139 | | 140 | | 141 | | 142 | | 143 | | 144 | | 145 | | 146 | | 147 | | 148 | | 149 | | 150 | |


- Thánh Vịnh 088 (087) -

Lời cầu khẩn tử vực sâu khốn quẫn

 

1 Ca ngợi. Thánh vịnh. Của con cái Côrê. Phần nhạc trưởng.

Lúc bệnh hoạn. Lúc sầu muộn. Thi khúc. Của Hêman. Người bản xứ.

2 Yavê, Thiên Chúa cứu độ của tôi,

thời tôi kêu la lúc đêm hôm trước mặt Người.

3 Xin cho lời tôi nguyện thấu trước nhan Người,

xin lắng tai nghe tôi rên xiết!

4 Vì mạng tôi đã ứa đầy hoạn nạn

và sinh kiếp tôi đã thấu lề âm phủ.

5 Họ kể tôi như kẻ xuống mồ,

tôi đã nên như người tận số.

6 Tôi bị giam giữa những thây ma,

như những tử thi nằm sâu trong mồ,

những kẻ Người chẳng còn nhớ đến

chúng đã bị chặt phăng dưới tay Người!

7 Người đã dìm tôi xuống hố thẳm âm ti,

trong chốn tối tăm, trong vực không đáy,

8 trên tôi, án thịnh nộ Người dằn xuống

ba đào của Người, Người trút tất cả.

9 Cố tri với tôi, Người cũng cho họ lảng xa,

làm họ coi tôi như đồ nhờm tởm,

nhốt lại một nơi đâu còn có thể đi ra,

10 mắt đã lờ đờ vì bao gian khổ.

Suốt ngày tôi kêu lên với Người, lạy Yavê,

hướng lên Người, tôi dương tay khấn vái.

11 Dễ đâu vong nhân được Người làm cho phép lạ,

hay bóng ma sẽ chỗi dậy mà ngợi khen Người?

12 Dễ đâu tự đáy mồ có kẻ doãn lại ơn Người,

và sự thật của Người ở chốn diệt vong?

13 Dễ đâu trong tối tăm có kẻ biết đến sự lạ Người làm,

và đức công chính của Người nơi vong địa?

14 Còn tôi, tôi kêu cứu với Người, lạy Yavê,

tảng sáng lời tôi nguyện đã chực hầu Người.

15 Nhân sao, lạy Yavê, Người lại từ rẫy mạng tôi,

và đối với tôi Người cứ ẩn mặt?

16 Tôi, con người khốn khó và hấp hối từ hồi bé thơ,

kinh hoàng của Người tôi hứng lấy, làm ê ẩm cả mình.

17 Những trận lôi đình của Người tới tấp trên tôi,

hãi hùng của Người làm tôi chết điếng.

18 suốt ngày chúng bao quanh tôi như sóng nước,

tất cả một trật chúng siết lại bên tôi.

19 Thiết nghĩa bạn bè, Người tách xa tôi,

bầu bạn với tôi chỉ còn bóng tối!

 

Trở về Mục Lục Kinh Thánh Cựu Ước

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page