Kinh Thánh Cựu Ước

Thánh Vịnh

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


Thánh Vịnh :  | | 001 | | 002 | | 003 | | 004 | | 005 | | 006 | | 007 | | 008 | | 009 | | 010 | | 011 | | 012 | | 013 | | 014 | | 015 | | 016 | | 017 | | 018 | | 019 | | 020 | | 021 | | 022 | | 023 | | 024 | | 025 | | 026 | | 027 | | 028 | | 029 | | 030 | | 031 | | 032 | | 033 | | 034 | | 035 | | 036 | | 037 | | 038 | | 039 | | 040 | | 041 | | 042 | | 043 | | 044 | | 045 | | 046 | | 047 | | 048 | | 049 | | 050 | | 051 | | 052 | | 053 | | 054 | | 055 | | 056 | | 057 | | 058 | | 059 | | 060 | | 061 | | 062 | | 063 | | 064 | | 065 | | 066 | | 067 | | 068 | | 069 | | 070 | | 071 | | 072 | | 073 | | 074 | | 075 | | 076 | | 077 | | 078 | | 079 | | 080 | | 081 | | 082 | | 083 | | 084 | | 085 | | 086 | | 087 | | 088 | | 089 | | 090 | | 091 | | 092 | | 093 | | 094 | | 095 | | 096 | | 097 | | 098 | | 099 | | 100 | | 101 | | 102 | | 103 | | 104 | | 105 | | 106 | | 107 | | 108 | | 109 | | 110 | | 111 | | 112 | | 113 | | 114 | | 115 | | 116 | | 117 | | 118 | | 119 | | 120 | | 121 | | 122 | | 123 | | 124 | | 125 | | 126 | | 127 | | 128 | | 129 | | 130 | | 131 | | 132 | | 133 | | 134 | | 135 | | 136 | | 137 | | 138 | | 139 | | 140 | | 141 | | 142 | | 143 | | 144 | | 145 | | 146 | | 147 | | 148 | | 149 | | 150 | |


- Thánh Vịnh 022 (021) -

Ðã bị bỏ, rồi lại được nhắc lên

 

1 Phần nhạc trưởng. Ðiệu "con nai hừng đông". Thánh vịnh. Của Ðavít.

2 Lạy Chúa Trời tôi, lạy Chúa Trời tôi,

nhân sao Người lại bỏ tôi?

Cứ đứng xa chẳng tiếp cứu tôi,

xa vời với lời tôi kêu gào!

3 Lạy Thiên Chúa tôi, tôi kêu thâu ngày,

mà Người chẳng đáp,

đêm đến, tôi cũng chẳng được im hơi!

4 Còn Người, Người là Thánh,

Người hiển ngự giữa lời ca ngợi của Israel!

5 Nơi Người, tổ tiên chúng tôi đã tin cậy,

họ đã tin cậy, và Người đã giải thoát họ.

6 Họ đã kêu than với Người và đã được cứu,

họ đã tin vậy vào Người và đã không phải thẹn thuồng.

7 Còn tôi thân sâu bọ, chứ có phải là người,

cho thiên hạ bêu diễu,

cho dân chúng khinh phiêu:

8 Hễ thấy tôi là họ nhạo cười,

họ trề môi, họ lắc đầu:

9 "Nó đã quay lại với Yavê,

thì Người hãy giải thoát nó,

Người hãy cứu lấy nó, vì Người yêu thương nó".

10 Người đã kéo tôi ra dạ mẹ,

và ký thác cho mẹ tôi bú mớm.

11 Vừa bỏ tử cung, tôi đã được trao trả cho Người,

từ dạ mẹ, Người đã nên Chúa Trời của tôi.

12 Xin đừng ở xa tôi vì quẫn bách sát lại,

mà không một người hộ giúp.

13 Bò dữ nhiều con bao quanh tôi,

bò tót Ba-san bủa vây tôi.

14 Há mõm chực hại tôi,

có đàn sư tử cấu xé gầm vang.

15 Thân tôi tan rữa thành nước,

xương cốt hết thảy đã rã rời.

Lòng tôi như thể sáp nung,

chảy loang ra giữa phủ tạng tôi.

16 Hầu thời khô ran như mảnh sành,

lưỡi dính liền với cuống họng,

người ta vất tôi với tro bụi tử phần.

17 Ðàn chó nhiều con bao quanh tôi,

quân bất lương cả phường siết lại bên tôi,

chúng trói lại tay chân tôi.

18 Xương cốt tôi, tôi hầu đếm được,

còn chúng thì chòng chọc nhìn coi tôi.

19 Chúng chia áo xống tôi,

và xiêm y tôi chúng bắt thăm.

20 Nhưng Người, lạy Yavê xin chớ đứng xa,

thần lực của tôi, xin mau đáp cứu!

21 Xin giật mạng tôi khỏi lưỡi gươm,

cái đơn phận này khỏi tay đàn chó.

22 Xin cứu tôi khỏi mõm sư tử,

khỏi sừng đàn trâu!

Người đã đáp lại lời tôi!

23 Tôi nguyện loan báo danh Người cho anh em tôi,

giữa đám hội, tôi sẽ ngợi khen Người.

24 Những ai kính sợ Yavê hãy ngợi khen Người,

dòng giống Yacob hết thảy hãy tôn vinh Người,

hãy giới sợ Người, hỡi dòng giống Israel hết thảy.

25 Vì Người đã chẳng khinh dễ cũng chẳng xem thường

nỗi khổ của kẻ khó nghèo,

Người đã chẳng ngoảnh mặt làm ngơ với nó!

và tiếng nó kêu cứu, Người đã khấng nghe.

26 Xuất tự Người, lời tôi ca ngợi nơi đại hội,

lời tôi khấn, tôi xin giữ trọn,

trước mặt những ai kính sợ Người.

27 Hạng nghèo hèn ăn uống và được phỉ tình,

những kẻ tìm kiếm Yavê sẽ ngợi khen Người:

"chúc lòng các người sống bền mãi mãi".

28 Chúng sẽ nhớ đến và trở lại với Yavê,

khắp cùng mặt đất.

Họ sẽ thờ lạy trước tôn nhan Người,

gia tộc muôn dân hết thảy.

29 Vì vương quyền chính thuộc Yavê,

và Người thống trị muôn dân.

30 Một mình Người,

hạng phú cường trên đất hết thảy sẽ tôn thờ.

Trước tôn nhan Người, hết thảy những ai

đã nằm trong tro bụi, sẽ bái lạy.

Và hồn tôi sẽ sống cho Người.

31 Dòng giống tôi, sẽ làm tôi Người,

thiên hạ sẽ rao truyền Chúa cho hậu thế.

32 Họ sẽ loan báo đức công chính của Người cho kẻ hậu sinh:

Ðó là việc Yavê đã làm.

 

Trở về Mục Lục Kinh Thánh Cựu Ước

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page