Kinh Thánh Cựu Ước

Habacuc

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


Chương :  | | 01 | | 02 | | 03 | |


- Chương 03 -

 

Ðề

1 Kinh nguyện của tiên tri Habacuc, theo điệu than vãn.

 

Van nài

2 Lạy Yavê, tôi đã nghe Danh Người.

Tôi giới sợ việc Người làm, lạy Yavê.

Giữa năm tháng đời chúng tôi, xin tái diễn việc ấy.

Giữa năm tháng đời chúng tôi, xin tỏ cho biết,

Dù trong lôi đình xin nhớ xót thương!

 

Thần hiện. Yavê đến

3 Êlôa từ Têman đi đến, Ðấng thánh từ núi Pharan.

Uy phong của Người rợp các tầng trời.

Ðất đầy lời ngợi khen Người.

4 Hào quang của Người như ánh sáng.

Tự hai bên Người quang tuyến loé rạng.

Ðó là nơi sức mạnh của Người mai ẩn.

5 Trước nhan Người, ôn thần tiến bước.

Dõi theo chân Người, ma sốt xuất chinh.

6 Rướn lên, Người làm chư quốc rởn mình.

Núi non vạn đại tan tành. Gò nỗng ngàn xưa sụp xuống!

Thuộc về Người những đường lối ngàn xưa.

7 Tôi thấy: lều trại Kushan (sụp) dưới hư vô,

Dinh tướng xứ Mađian run khiếp.

 

Yavê giao chiến

8 Phải chăng Người bừng nóng với sông ngòi, lạy Yavê?

Cơn giận của Người lan thấu thủy ba.

Lôi đình của Người giáng trên biển cả!

Quả Người sẽ cỡi đoàn chiến mã, những xe vạn thắng của Người!

9 Người đã lột trần cung nỏ của Người.

Lời nguyền với các chi tộc, lời vàng.

Người xẻ đất làm ra sông ngòi.

10 Núi non vừa thấy Người, chúng đã quằn quại.

Mưa rào nước xối ngang qua.

Vực thẳm cất tiếng giơ cao tay lên hàng.

11 Nhật nguyệt đứng sững nơi trấn ngự,

chúng khuất đi dưới ánh lòa cung tiễn của Người,

dưới quang uy giáo mác của Người chớp nhoáng.

12 Phẫn nộ, Người dẫm đi trên đất.

Nóng giận, Người chà chư quốc.

13 Người xuất chinh đi cứu dân người,

đi cứu kẻ Người (tấn phong) xức dầu,

Người đập bể đầu nhà của ác nhân,

lật trần nền móng cho thấu đá nguyên.

14 Người dùng lao của nó đâm lủng đầu binh tướng nó,

khi chúng xung phong vũ bão để dày xác tôi, với tiếng hân hoan,

dường để ăn thịt kẻ khó nơi xó kín.

15 Phóng ngựa, Người chà biẻn cả, làn nước bao la sùi bọt.

 

Kết luận: Lòng tin nơi Thiên Chúa

16 Tôi nghe, và bụng dạ nao nao.

Tiếng vọng lại làm môi tôi bằm bặp.

Sâu quảng ăn thấu xương.

Chân đi, bước lạng choạng.

Tôi yên đợi ngày khốn đốn,

ngày sắp rạng trên dân xâm lược chúng tôi.

17 Bởi chưng vả hết đơm hoa, vườn nho không sinh trái.

Cảm lăm vào mùa trái trăng cũng dối.

Ðồng áng chẳng đem lại gì ăn.

Chiên dê biến mất khỏi ràn. Trong chuồng bò bê cũng sạch.

18 Phần tôi, tôi muốn nhảy mừng trong Ðức Yavê.

Hoan hỉ trong Thiên Chúa tế độ của tôi.

19 Yavê Ðức Chúa là sức mạnh tôi.

Người cho chân tôi lanh tợ hươu nai;

trên các đỉnh cao, người cho tôi bước.

 

Phần nhạc trưởng. Có họa đàn.

 

Trở về Mục Lục Kinh Thánh Cựu Ước

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page