Kinh Thánh Cựu Ước

Ai Ca

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


Chương :  | | 01 | | 02 | | 03 | | 04 | | 05 | |


- Chương 01 -

Ai Ca I

 

1 Sao! Nó ngồi trơ vơ, cái thành đông dân! - - Aleph.

Xưa là bà lớn giữa chư bang, nay nên như người góa bụa.

Xưa là nữ chúa giữa bao tỉnh hạt, nay phải è thân dưới đòn khổ dịch.

2 Thâu đêm khóc than sướt mướt, và lệ nhỏ đầm đìa gò má. - - Bet.

Không một người an ủi, giữa cả lũ tình nhân.

Bạn bè cả đám đều phản bội, hóa nên kẻ thù.

3 Yuđa đày ải lầm than, làm thân tôi mọi dãi dầu. - - Gimel.

Nó phải ngồi giữa các bang, không tìm ra nơi an nghỉ.

Mọi kẻ lùng bắt đã đuổi kịp nó, giữa bước quẫn cùng.

4 Mọi nẻo về Sion trong cảnh tang ma, - - Ðalet.

bỏi không người vãng lai lễ tiết. Các cổng thành đều hóa hoang vu,

hàng tư tế rên xiết. Trinh nữ thì bị hành hung,

còn Sion ngậm đắng nuốt cay.

5 Quân nghịch của nó cầm đầu, kẻ thù nhàn hạ. - - Hê.

Bởi chưng Yavê đã hành hạ nó, vì bao tội nghịch.

Lũ con thơ của nó phải ra đi đây, đàng trước nghịch quân.

6 Nữ tử Sion đã bị tước hết mọi nét uy phong. - - Vav.

Trưởng lão của nó như những hươi nai, không tìm được cỏ.

Ðuối sức, chúng phải ra đi, trước người săn đuổi. - - Zain.

7 Yêrusalem nhớ đến những ngày lầm than phiêu bạt,

tất cả kho tàng của nó, có được từ thuở xa xưa,

trong khi dân lăn lóc dưới bàn tay kẻ nghịch,

còn nó, không ai đáp lời kêu cứu. Quân nghịch thấy nó,

chúng rộ cười, vì nó khánh tận.

8 Yêrusalem dầm dề tội lỗi, nó đã thành đồ nhơ bẩn. - - Khet.

Mọi kẻ kính nể đem lòng khinh rẻ, bởi nhìn thấy nó lõa lồ.

Còn nó, nó những rên xiết, mà ngoảnh mặt đi.

9 Tà áo nó, nhơ uế nhuốm đầy, hậu vận của nó, nó không nhớ đến. - - Tet.

Nó đà sa đọa một cách gớm ghê, không người an ủi,

"Lạy Yavê, xin nhìn đến nỗi khổ tôi, vì kẻ thù hống hách".

10 Kẻ nghịch giương tay vơ lấy hết châu báu của nó: - - Yođ.

Trong khi nó thấy dân ngoại nghênh ngang đi vào thánh điện,

những kẻ Người đã phán truyền:

Chúng không được vào đại hội của Người.

11 Toàn dân của nó rên xiết đi kiếm bánh ăn. - - Kaph.

Chúng thí kho báu: Vì một miếng ăn để mong độ trì sinh mạng.

"Lạy Yavê xin đoái trông đến, tôi bị khinh rẻ dường nào".

12 Vô can sao được, hỡi những khách qua đường, - - Lameđ.

hãy trông xem: Có đớn đau nào như cái đớn đau hành hạ thân tôi!

Mà Yavê đã đánh phạt tôi vào ngày cơn giận hỏa hào.

13 Từ trên, Người đã phóng lửa vào xương cốt tôi, - - Mem.

Người đã chà đạp. Người giăng lưới dưới chân, làm tôi lộn nhào.

Người đã để tôi nên cô quạnh, suốt ngày ốm đau.

14 Ách tội đè nặng, do tay Người kết lại. - - Nun.

Tội vạ ấy đặt lên cổ tôi, làm sức t6i kiệt quệ.

Ðức Chúa nộp tôi trong tay những kẻ tôi không thể đương đầu.

15 Ðức Chúa đã khinh bỏ cả hàng hào kiệt trong tôi. - - Samek.

Người triệu tập trên tôi đoàn hội để bẻ gãy đinh tráng tôi đi.

Ðức Chúa chà đạp như thể trong bồn, trinh nữ, nữ tử Yuđa.

16 Chính vì thế tôi khóc, mắt tôi (mắt tôi) nước mắt tuôn rơi, - - Ain.

vì người an ủi, tôi trông nhờ để được hoàn sinh đã xa vời.

Con cái tôi phiêu bạt xơ xác vì kẻ thù thắng thế"

17 Sion đưa tay ra nhưng không người an ủi. - - Phê.

Yavê đã triệu lại trên Yacob kẻ nghịch tư bề.

Giữa chúng, Yêrusalem đã nên như đồ nhơ nhuốc.

18 "Yavê Người thật chí công, - - Xađê.

tôi đã ngỗ nghịch chống lại miệng Người.

Các dân nghe đây, hãy coi nỗi đau đớn tôi chịu.

Trinh nữ và trai tráng của tôi, chúng đã lũ luợt đi đày.

19 Tôi kêu với các tình lang: Chúng đều lật lọng! - - Qoph.

Tư tế và hàng kỳ mục của tôi hấp hối trong thành,

trong khi tìm lấy miếng ăn, hầu độ trì sinh mạng.

20 Lạy Yavê, xin khấng nhìn xem tôi cùng quẫn chừng nào, - - Resh.

ruột gan sôi bỏng. Lòng tôi quặn lại trong tôi,

bởi tôi đã liều thân ngỗ nghịch. Bên ngoài gươm diệt hết con,

bên trong như cơn chết.

21 Xin khấng nghe: Tôi những rên xiết, không người ủi an. - - Shin.

Mọi kẻ thù nghe tôi mắc họa, chúng vui mừng bởi Người làm thế.

Xin cho nó đến. Ngày Người đã phán, cho chúng nên giống như tôi.

22 Sự dữ chúng làm hãy đến trước Người tất cả, - - Tav.

xin xử với chúng như Người đã xử với tôi,

vì mọi tội nghịch của tôi.

Những điều tôi rên xiết nhiều biết bao; và lòng tôi ốm liệt".

 

Trở về Mục Lục Kinh Thánh Cựu Ước

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page