Kinh Thánh Cựu Ước

Ai Ca

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia


Chương :  | | 01 | | 02 | | 03 | | 04 | | 05 | |


- Chương 04 -

Ai Ca IV

 

1 Sao! Vàng hóa đen sì, vàng ròng đổi thay! - - Aleph.

Ðá thánh vung vãi khắp đầu đường xó chợ!

2 Con cái Sion sang quí, trị giá vàng ròng, - - Bet.

sao! Chúng bị kể như những hũ sành, đồ tay thợ gốm!

3 Sói cái còn vạch vú cho đàn con bú, - - Gimel.

đàn bà con gái dân tôi hung ác, như đà điểu sa mạc.

4 Vì khát, lưỡi hài nhu dính liền cửa họng. - - Ðalet.

Trẻ thơ xin bánh, mà chẳng ai đưa.

5 Những kẻ từng ăn cao lương mĩ vị, nay đói lả ngoài đường phố. - - Hê.

Những người nuôi trong gấm vóc, rày ôm lấy đống phân nhơ.

6 Tội của con gái dân tôi lớn hơn lỗi của Sôđôm, - - Vav.

cái thành sụp đổ trong chốc lát, không tay nào động đến.

7 Ðạo nhân trong tuyết băng thanh, sữa nhường màu trắng, - - Zain.

phong cốt, san hô thua thắm, hình hài bích ngọc.

8 Bây giờ nước da đen đủi quá mồ hóng, - - Khet.

ngoài đường không thể nào nhận ra,

da dính xương khô đét khác nào thanh củi.

9 Những kẻ chết vì gươm đâm

còn phúc hơn những người chết đói, - - Tet.

thân tàn ma dại, vì thiếu hoa màu ruộng đất.

10 Những thiếu phụ dào dạt tình thương nay dám luộc con, - - Yôđ.

làm lương tẩm bổ trong sự táng bại con gái dân tôi.

11 Yavê trút hết nóng giận, đổ xuống hỏa hào thịnh nộ. - - Kaph.

Người đã đốt cháy Sion; lửa đã thiêu rụi nền móng nó.

12 Họ không sao tin được, các vua trên đất và mọi người - - Lameđ.

ở trần gian, là sao cổng thành Yêrusalem đã bị địch thù xâm nhập.

13 Ấy vì lỗi của tiên tri, tội các tư tế của nó: - - Mem.

Bên trong thành, chúng đổ máu người lành đức nghĩa.

14 Mù lòa, chúng vất vưởng, phố phường vấy nhơ đầy máu, - - Nun.

khiến áo xống của chúng, không ai có thể rờ đến.

15 "Xê ra! Nhơ uế!" trước mặt chúng, người ta giật giọng: - - Samek.

"Xê! Xê ra, đừng đụng tới!"

Chúng rong xa vất vưởng; trong tha bang, thiên hạ nói:

"Ðừng để cho chúng làm khách trọ!"

16 Nhan Yavê đánh bạt chúng đi, - - Phê.

Người không còn đoái hoài nhìn đến.

Tư tế, họ không nể mặt, già lão cũng chẳng được thương.

17 Mắt chúng tôi mòn mỏi, hão huyền những trông cứu viện. - - Ain.

Chúng tôi mỏi mòn ngóng đợi một nước không tài giải cứu.

18 Họ rình từng bước chúng tôi, ngoài phố hết phương đi lại. - - Xađê.

Ðã gần tận số! Ngày đời chúng tôi đã mãn! Tận số đến nơi!

19 Chúng nhanh hơn phượng hoàng bầu trời, - - Qoph.

những kẻ đuổi bắt chúng tôi.

Trên núi đồi, chúng truy kích; nơi sa mạc, chúng núp rình.

20 Khí thở của chúng tôi, Vị Yavê xức dầu sa hố chúng đào, - - Resh.

về ngài, chúng tôi những nói:

"Núp bóng ngài, chúng ta sẽ sống giữa các bang".

21 hãy hớn hở mừng vui, nữ tử Eđom hỡi, dân cư đất Us. - - Shin.

Cả ngươi nữa, chén sẽ đến tay, ngươi sẽ cởi  truồng.

22 Xong rồi, tội vạ của ngươi, nữ tử Sion hỡi, - - Tav.

Người sẽ không còn đày ải ngươi, Người sẽ hỏi tội ngươi,

nữ tử Eđom hỡi, Người sẽ phơi trần tội của ngươi ra!

 

Trở về Mục Lục Kinh Thánh Cựu Ước

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page