Nhân Thần Hội Ngộ

Quan Ðiểm Thần Học của Karl Rahner

Nguyên bản tiếng Hoa của Linh Mục Giuse Vũ Kim Chính, SJ

Giuse Nguyễn Phước Bảo Ân chuyển dịch Việt ngữ từ bản tiếng Hoa

 


Chương 5

Luân Lý Thực Tồn

Của Karl Rahner

 

Tiểu Dẫn

Hành vi luân lý là việc chọn lựa một "nguyên tắc" để áp dụng vào "thực tiễn". Khi phán đoán, chẳng ai nghi ngờ về tầm quan trọng của hai nhân tố nói trên, nhưng khi thảo luận về mối tương quan giữa chúng, họ lại bị nghiêng về một trong hai hướng: "chủ nghĩa luân lý thực chứng" hoặc "chủ nghĩa luân lý hình thức". Làm sao để kiến tạo được một nền luân lý vừa coi trọng bối cảnh đặc thù của hành vi luân lý, vừa khẳng định nguồn gốc siêu hình đầy giá trị của hành vi ấy đây? Luân lý thực tồn được hình thành chính là nhắm vào mục tiêu này. Ðể hiểu được loại luân lý mới này, chúng ta trước nhất cần nắm được nền tảng "nhân học siêu nghiệm" của Rahner; sau là phân tích loại luân lý này để xem ý nghĩa của nó là gì.

 

I. Nền Tảng Của Luân Lý Thực Tồn

Karl Rahner là một thần học gia danh tiếng. Tư tưởng của ngài vừa được đặt nền trên hệ thống tư tưởng Tân Kinh viện, vừa chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Ðức quốc và của Heidegger. Dựa theo những nỗ lực cày xới của Maréchal, Rahner đã biến đổi tinh thần triết học Kinh viện thấu nhập vào được với tư tưởng đương đại.

Nền tảng "nhân học siêu nghiệm" của Rahner được ghi dấu nơi hai quyển sách triết học tôn giáo là: "Tinh thần trong thế giới" và "Kẻ lắng nghe Lời".

Cũng như các nhà tư tưởng Tân Kinh viện khác, Rahner đi theo "triết học tiên nghiệm" (transcendental philosophy). Ðiểm khác biệt quan trọng của nền triết học này so với vũ trụ luận của Hy La chính là đặt con người làm ưu tiên trọng tâm. Cho nên, trong khi Kant đặt vấn đề rằng làm sao con người có thể tri nhận được đối tượng, rồi từ đó đưa ra những điều kiện ngoại tại (không gian - thời gian) và nội tại (phạm trù) cho việc tri nhận, nên dễ rơi vào nguy cơ của "thuyết bất khả tri" và "thuyết nhị nguyên"; thì Rahner lại theo quan điểm tiếp nối Fichte của Maréchal mà biến vấn đề thành điều kiện cơ bản mang tính siêu hình trong việc tri nhận của con người là việc: con người "đặt câu hỏi".

1. Tái thiết nền tảng thực tồn

Thật ra mà nói, việc dùng truy vấn để phát triển quan điểm hữu thể luận là do Heidegger sáng tạo ra, rồi đến Rahner và cuối cùng Emerich Coreth (1919 - 2006) sẽ phát huy tối đa phương pháp này. Trong hành động hỏi, lý trí chủ động tìm cách thiết lập lập trường của mình. Như thế, siêu hình học đích thực là do kinh nghiệm mà thành: lấy vấn đề làm xuất phát điểm, rồi qua việc phản tỉnh (tức những gì do lý tính thấy trực tiếp) để tìm ra những điều kiện khả thể của vấn đề đó. Khi vấn đề trở thành một nghi vấn, thì con người một mặt biết được những điều có thể được truy vấn (nếu không thì đâu biết đường mà hỏi), mặt khác lại thừa nhận rằng mình còn nhiều điều chưa biết về vấn đề đó - tức những điều "chưa hiển lộ" (unthematical). Như thế, mỗi vấn đề đều là "kẻ mở đường" (Vorgriff) cho điều thực tồn. Ðặc nét trong cấu trúc của việc tra hỏi là: sự kết hợp giữa (điều) đã biết và chưa biết.

Từ đó, theo quan điểm tương đối, ta có thể liệt kê ra những cặp tương quan như sau: chân trời hiển đề và ẩn đề (thematic - unthematic horizon), tiên nghiệm và phạm trù (transcendental - categorial). Tri thức của việc chủ thể chủ động nhận biết chính mình là tri thức có tính tiên nghiệm; tri thức của việc diễn đạt tri thức tiên nghiệm thành luận đề là tri thức (có tính) phạm trù. Như thế, điểm phân biệt giữa tính tiên nghiệm và tính phạm trù của tri thức hệ ở "sự chủ động của con người", hay nói rõ hơn, hệ ở việc: biết mình. Nền tảng của nhân học Rahner là: những điều con người "bản chân" đã làm, đã hiểu luôn sâu xa hơn những gì họ diễn tả và giải thích ra.

Theo sự mạch lạc trên, chúng ta lại đưa ra một mối tương quan khác theo quan điểm tương đối là: sự thể nghiệm mang tính "thực tồn" và "thực tại" (existential - existentiell). "Thực tồn" là trạng thái tinh thần hữu hạn của con người luôn thường hằng và trải dài; nó biến thành khả năng hành động của con người và là điều kiện sắp sẵn cho bản thể tính. "Thực tồn" cũng bao gồm: những khả thể phát triển chính mình có trong hành vi tự do của con người. Còn "Thực tại" là trạng thái và phẩm chất ngay lúc này đây có trong hành vi tự do của con người.

Ý nghĩa sâu xa của thực tồn là: đang khi con người phải đối diện với những thứ giới hạn của mình, như: bị uy hiếp, phạm tội, không rõ ràng, không quyết định, cần trợ giúp..., thì vẫn được nhắc nhở để nhận ra những mặt tích cực (là điều không thể tách rời khỏi mặt tiêu cực): tự do, siêu vượt, ân sủng... Ta có thể mượn lối phân tích về "phi bản chân" của Heidegger để giải thích điều này rõ hơn, song ta cũng nhận ra sự bổ sung của Rahner cho điều mà Heidegger chưa nói tới là: siêu vượt tính, ân sủng và Ðấng Tuyệt Ðối. Theo đó, luân lý thực tồn gắn chặt với nền tảng không thể tách rời là: con người chịu trách nhiệm cho hành vi tự do của mình, để trở nên bản chân hay phi bản chân.

Từ quan điểm về thực tồn như thế, Rahner sẽ bàn về vấn đề luân lý, đưa ra một góc nhìn hoàn toàn mới mẻ. Luân lý nói chung thường nhấn mạnh đến tội cá nhân mà mỗi người phạm phải, xem nó "nặng" hay "nhẹ" tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể, và theo những quy luật luân lý phổ quát. Còn với Rahner, ngài coi trọng sự tự do và lịch sử tính của con người, nên hành vi chọn lựa không phải là một sự kiện độc lập đơn lẻ, nhưng có liên quan mật thiết với trọn cả hướng sống của người đó.

Nói khác đi, một chọn lựa luân lý, không được sinh ra cách độc nhất vô nhị, nhưng được sinh ra bởi sự nối kết giữa hiện tại với quá khứ của đương sự: con người chọn đáp lại hay chọn từ chối ân sủng? Như thế, điểm quan trọng nhất của luân lý thực tồn không hệ ở việc con người đã "phạm" tội gì, mà hệ tại ở ý hướng của hành vị chọn lựa hiện tại này: có đón nhận hay từ chối Thiên Chúa Tình Yêu không? Muốn làm bạn hữu hay thù địch của Ngài?

Thứ luân lý này đã tập trung vào mặt tích cực của giá trị chọn lựa của con người. Thứ luân lý này cũng rất gần với tinh thần Phúc Âm, đặc biệt là truyền thống "Thiên Chúa là Tình Yêu".

"Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu. (1Ga 4:7-8)"

2. Con người: cư sở của hoạt động ý hướng

Tư tưởng nhân học của Rahner được phô bày trong hai cuốn sách "Tinh thần trong thế giới" và "Kẻ lắng nghe Lời". Rahner cho rằng "tinh thần" đã "đặt để" chính mình trong mỗi vật chất, nên nó có thể siêu vượt những vật chất giới hạn này, và trở thành thứ năng lực giúp vật chất hiểu biết "siêu hình". Còn "thế giới" là nơi mà tinh thần có thể thể nghiệm trực tiếp những thực tại của giới vật chất. Thật ra, cuốn "Tinh thần trong thế giới" là việc Rahner, thông quan việc mượn một đề tài (Ia, q84, a.7.)11 trong bộ "Tổng luận thần học" (Summa Theologia), chú giải về tư tưởng của thánh Tôma. Vấn đề mà thánh Tôma thảo luận trong bộ tổng luận này là: liệu lý trí con người có thể tri nhận bản chất siêu hình của đối tượng cách trực tiếp (trực giác) chứ không cần thông qua mô hình (phantasma) của các giác quan chăng? Thánh Tôma đã trả lời thế nào, ai cũng rõ rồi.

Ðiều thú vị chính là: Rahner đã dùng vấn nạn tri thức luận này của thánh Tôma như bước đệm để bàn về mối tương quan giữa tinh thần và thế giới: con người không thể tri nhận đối tượng của siêu hình học cách trực tiếp được, mà chỉ thông qua môi trường trung gian là thế giới mới có thể quy hồi về chính mình. Như thế, vấn đề đích thực của vấn nạn trên nằm ở chỗ khả năng đặt câu hỏi của con người là hành động đầy ý thức. Chương 2 của cuốn"Kẻ lắng nghe Lời" đã khai triển vấn đề này tỉ mỉ hơn như sau, việc đặt câu hỏi chính là lý do để có siêu hình học, và đó chính là vấn đề đích thực của con người.

Nói cách khác, hữu thể vốn là sự hợp nhất của việc tri nhận và việc bị tri nhận, và dưới ánh sáng của hiện hữu mà nhận ra chính mình. Do đó, vấn đề cần nghiên cứu không còn là vấn nạn ban đầu của thánh Tôma nữa: nghĩa là làm sao hóa giải sự phân cách giữa kẻ tri nhận và đối tượng; nhưng đã biến thành vấn đề tồn tại của đời người.

Vậy nếu việc tri nhận và việc bị tri nhận được đồng nhất trong hữu thể, thì hữu thể ấy thiết lập tương quan với các hữu thể khác bằng cách nào đây? Rahner trả lời: chính là nhờ "ý thức". Chỉ trong khung cảnh của việc ý thức mà con người ý thức được về chính mình. Như thế, tự phản tỉnh không mang tính trực tiếp mà mang tính gián tiếp. Và điều kiện của ý thức là "hữu thể trong thế giới", nghĩa là bản chất của chân lý đã tiến nhập vào thế giới con người.

Tại điểm này, Rahner đã kéo Heidegger và thánh Tôma lại gần nhau. Ngài giải thích:

"Với thánh Tôma, rõ ràng là chỉ có một năng lực tri hiểu duy nhất (nur ein Wissen), là chính con người. Nói cách khác, đó là tri giả tại thế (ein wissendes Bei-der-Welt-Sein). Chỉ có con người, với cuộc sống trong thế giới này, mới được kêu gọi để phát hiện ra sự toàn thể của hữu thể." (K. Rahner, Geist in Welt, p.76.)

Tra hỏi và tìm câu trả lời là sự khởi đầu cho kinh nghiệm siêu vượt của con người, và cũng là quá trình để Hữu Thể Tuyệt Ðối hiển lộ chính Ngài. Cho nên, tinh thần của con người không thể nào có được thứ tri nhận trực tiếp về chính mình, nhưng phải qua phản tỉnh, tức sự trông mong hướng về vô hạn. Tiếp đó, trong mỗi bước trông mong Tuyệt đối kia, tri nhận của con người nhờ kinh qua những cách diễn đạt của khái niệm mới có thể "hạn định vô hạn". Thế là, Ðấng Tuyệt Ðối bị tri nhận như Ðấng "Giấu Ẩn", hay Ðấng Siêu Việt. Song, trong hành trình ngoằn ngoèo ấy, cũng có khi con người phát hiện ra ánh sáng, nhưng thường là kinh nghiệm của bóng tối.

Dù sao đi nữa, nhờ việc biết mình và ý thức về Tuyệt đối, mà con người chọn được cho mình lẽ sống. Vậy nên, thứ ý thức này là chìa khóa để hiểu được tự do của con người. "Hiểu thấu" bản thân là hành động để trở nên một với đối tượng, và quá trình tri nhận là một loại mong cầu (appetitus). Thế là, tri thức và ý chí trong tinh thần của con người, đã đạt tới một sự tổng hòa cao độ: kinh nghiệm về tinh thần siêu vượt của con người chính là việc kinh nghiệm về sự tự do.

Tuy nhiên, làm sao con người có thể thể nghiệm được sự tự do siêu vượt khi vẫn ở trong thứ tự do hữu hạn này đây? Như đã nói, con người, nhờ có lẽ sống, nhờ tri thức và ý chí về những đối tượng của trung giới, mà đối điện và nhận thức chính mình. Ý thức về cuộc đời là "đặt để" (posit) hay trở thành chính mình. Cái Tôi thực tiễn này được phát sinh trong mối tương quan biện chứng giữa tự do và tất yếu: một mặt, với tri thức và ý chí, cái Tôi thấy mình tự do; mặt khác, cái Tôi ấy lại bị các điều kiện tất yếu quy định chính tồn hữu của mình, mà thực chất cái Tôi ấy cũng mong cầu như thế cho sự tồn hữu của nó.

Con người truy vấn về thực tại tồn hữu cho thấy con người không phải là chính tồn hữu. Con người mong cầu tồn hữu để trở nên thực tại của chính mình, nghĩa là khẳng định mình được hình thành cách ngẫu nhiên. Như thế, con người ý thức được nhân cách của mình. Trong và nhờ tự do, con người định vị được trách nhiệm của mình với Ðấng Tuyệt Ðối; còn với thế giới, con người là "hữu thể đồng hiện hữu" nên phải tận lực phục vụ.

Vậy ra, những điều chúng ta thảo luận ở trên chẳng liên quan gì đến những vấn đề "nguyên tắc" và "thực tiễn" của luân lý cả, nhưng là làm thế nào để dựa vào nguyên tắc mà tri nhận thực tiễn (nhìn thấy trong thực tiễn những nguyên tắc ấy), rồi tiếp đó là phán đoán làm sao cho chính xác? Ðó chính là những gì luân lý thực tồn quan tâm.

 

II. Phân Tích Luân Lý Thực Tồn

1. Vấn đề của luân lý hoàn cảnh

Trước hết, Rahner đã phân biệt rành mạch giữa "Luân lý Thực tồn" và "Luân lý Hoàn cảnh" (Situation Ethics).18 Ngài cho rằng luân lý hoàn cảnh đã căn cứ vào một số chủ nghĩa hiện sinh cực đoan để phản kháng lại hiệu lực của những quy tắc luân lý phổ quát. Ngài nói:

"Luân lý hoàn cảnh, vì đã phủ định cách minh nhiên hay ngụ ý thứ hiệu lực tuyệt đối hay thứ nội dung xác thực của các quy tắc đạo đức trên con người, nên đã trở thành thứ luân lý duy danh mà thôi. Thứ luân lý ấy đặt nền trên sự phủ nhận khả thể tính của bất kỳ loại tri thức phổ quát nào." (K. Rahner, "On the Question of a Formal Existential Ethics", trong T.I., vol.2, London: Darton, Longman & Todd, 1969), 3rd ed., pp.219.)

Tuy phê bình nghiêm khắc như thế, nhưng Rahner không thể không thừa nhận sự đóng góp của luân lý hoàn cảnh cho việc phát triển cách chung nền luân lý học, thậm chí nó còn ảnh hưởng trên nền luân lý Kitô giáo nữa.

2. Thách đố luân lý hoàn cảnh

Rahner đưa ra một số vấn đề chủ yếu để bắt đầu cuộc thảo luận, như: làm thế nào chúng ta kết luận được rằng bản tính (nature) của con người là trường cửu, là phổ quát bất biến? Ðây phải chăng là sự diễn dịch tiên thiên? Nếu "phải", thì tiến trình diễn dịch ấy là thế nào, mang lại kết quả gì? Hay có thể là một phần tiên thiên, một phần hậu nghiệm? Vậy thì, chúng ta làm sao phân biệt được đâu thật sự thuộc về "bản tính" con người? Và cấu trúc của nhận thức này ra sao? Những câu hỏi trên thúc ép các nhà thần học luân lý Kitô giáo, buộc họ phải kiểm nghiệm lại nền tảng của những tiền đề phổ quát của luật tự nhiên và thẩm quyền của mệnh lệnh phổ quát trên các tín hữu.

Luân lý thực tồn của Rahner chú trọng đến vấn đề ẩn sau những tiền đề (tức quy tắc đạo đức phổ quát và làm sao nhận ra được chúng), như: hoàn cảnh gặp phải là gì? Làm sao để áp dụng những quy tắc đạo đức phổ quát vào hoàn cảnh ấy đây?

Theo lời dạy của Giáo hội, câu trả lời thật dễ dàng, vì cứ áp dụng Tam đoạn luận là xong: Ðại tiền đề là Nguyên tắc phổ quát (trong bất cứ trường hợp nào, cứ làm thế này thế kia, theo điều đã được ấn định); Tiểu tiền đề là hoàn cảnh thực tế ắt thuộc về một trong những trường hợp trên; Kết luận là hãy áp dụng những điều Ðại tiền đề đã dự liệu, biến hoàn cảnh cụ thể thành một mệnh lệnh rành mạch. Theo đó, cứ hễ hiểu thấu quy luật phổ quát và biết rõ về hoàn cảnh, thì bất kể anh là ai, cũng có thể minh xác được việc phải làm trong trường hợp ấy. Thêm nữa, nếu đặt Thần làm trung tâm của các quy tắc luân lý, thì những điều anh phải làm chính là Thánh Ý mà Thần muốn cho cuộc sống của anh, như thế càng tăng thêm ý nghĩa tôn giáo.

Với cách hiểu giản đơn trên liệu trường hợp luân lý kia có được giải quyết thỏa đáng không? Hay ta lại thấy Thánh Ý dường như chẳng ăn nhập gì với trường hợp cụ thể kia cả? Hay Thánh Ý lại phải căn cứ theo những quy luật phổ quát thần thánh, hoặc xuôi theo những trường hợp cụ thể? Tắt một lời, thứ luân lý diễn dịch này đã chẳng giải quyết được các "nố", lại còn đặt ra thêm nhiều vấn đề khác nữa, vả lại "minh trí" đã trở thành tiêu chuẩn cho hành vi và sự chọn lựa luân lý rồi.

Trước những vấn nạn trên, Rahner thử tìm một lối tiếp cận khác. Chủ thể của tiền đề mà Rahner muốn đưa ra dĩ nhiên là "con người bình thường" - tức là người có khả năng biết mình, có năng lực suy nghĩ và có thể đưa ra những hồi ứng dựa trên những mệnh lệnh phổ quát. Vấn đề chúng ta cần bàn là: mệnh lệnh phổ quát "này" liệu có hoàn toàn trùng khớp với hiện trạng mà chúng ta đang đối diện ở đây lúc này không? Câu hỏi trên được đặt ra, theo Rahner, là vì ít nhất hai lý do sau:

(1) Những quy luật phổ quát tuy đã được khẳng định như những mệnh lệnh, nhưng chúng vẫn có những không gian mở cho hành động của chúng ta. Ðiều này hoàn toàn có thể lý giải được.

(2) Chiếu theo những quy luật phổ quát đã được ấn định, trong hoàn cảnh cụ thể này, tuy ta chỉ có một chọn lựa duy nhất để hành động, nhưng hành động đó chỉ được xác định sau khi đã qua suy nghĩ.

Tóm lại, vấn đề mà Rahner muốn đưa ra là:23 mệnh lệnh phổ quát "này" liệu có hoàn toàn trùng khớp với hiện trạng mà chúng ta đang đối diện ở đây lúc này không? Và nếu cứ phải theo những quy luật kia mà không chút hoài nghi, thì liệu rằng ta có thật sự đạt tới được tiêu chuẩn đạo đức không?

Những câu hỏi trên là hết sức quan trọng, bởi các học giả phi tôn giáo ngày nay hoặc các nhà luân lý vô thần cũng đang đặt ra những thách đố tương tự cho nền luân lý tôn giáo nói chung, và nền luân lý Kitô giáo nói riêng: họ lý luận rằng giả như đạo đức luân lý chỉ là việc chiếu theo "quy luật phổ quát" để biết cách hành động, thì những quy luật như thế làm sao siêu vượt được con người của chủ nghĩa nhân bản ngày nay đây? Thế nghĩa là, tính độc lập của luân lý đã được thừa nhận mà chẳng hề có chút hoài nghi nào. Theo đó, chắc chắn sẽ nổ ra một cuộc đại tranh luận giữa chính trị, pháp luật và luân lý đạo đức!

Quả thật, hành vi luân lý cụ thể trong một hoàn cảnh xác thực bao giờ cũng đa phức hơn những lý thuyết phổ quát dành cho việc thực hành trong một trường hợp. Hành vi luân lý có một bản chất đặc biệt, vì nó là một thực tại độc hữu. Hành vi của con người không chỉ liên quan đến những động tác của sự vật, mà còn là một phần của cuộc sống, là một chọn lựa trước Ðấng Siêu Việt. Cho nên, hành vi của con người không chỉ mang tính luân lý thôi, mà còn chứa trong nó ý nghĩa của cả hiện hữu nữa.

3. Chọn lựa căn bản của luân lý thực tồn

Con người là tinh thần trong thế giới, là một nhân cách cá biệt. Con người không chỉ có những hành động trong quá khứ, mà còn ở trong trường hợp của quy luật thực tại, còn mang lấy những nét tương đồng của việc lặp lại phổ biến, còn tham dự và thấu nhập vào mặc khải của Ðấng Tuyệt Ðối (Gelichtetheit) cách cá vị. Con người đang ở trong một tình cảnh nghịch lý: một mặt con người thuộc về loài người của thế giới vật chất này; mặt khác, con người lại bị đòi hỏi phải chu toàn các quy luật phổ quát trong từng hành vi cụ thể; điều đó khiến cho hành vi và cái có của con người bất đồng, thậm chí đối lập nhau. Thêm nữa, tuy cùng một con người, nhưng hắn vừa là hữu thể thuộc tinh thần, còn hành động của con người lại bị nhốt trong một trường hợp cụ thể; cho nên so với những trường hợp cụ thể, cái là của con người chắc phải nhiều rộng hơn. Ðiều đó cho thấy một hành vi, xét về bản chất, là một điều gì đó rất đặc biệt.

a. Quan điểm luân lý của các tôn giáo: thực thi Thần đạo

Với triết học bản chất luận, con người luôn truy tìm chân lý, và có nguồn cội tôn giáo, bởi vì con người là tinh thần hướng về Ðấng Tuyệt Ðối nhờ một động lực tâm linh là niềm hy vọng. Tuy mỗi tôn giáo "thật" đều có những "phạm trù" riêng để diễn đạt và biểu tượng hóa Ðấng Tuyệt Ðối, nhưng cách chung họ đều chân nhận sự tồn tại của Ngài. Do đó, Rahner tôn trọng và gọi những tín đồ của các tôn giáo khác là "Kitô hữu vô danh" (anonymous Christians). Dĩ nhiên, ngài cũng để cho các tín đồ thành tâm của các tôn giáo khác gọi lại ngài như vậy - ví dụ như là "Phật tử vô danh".

Như thế, đang khi làm sáng tỏ quan điểm luân lý của Kitô giáo, Rahner cũng đồng thời phát huy quan điểm luân lý của các tôn giáo khác. Ðây là điều hết sức quan trọng, vì ngài cho rằng hành vi luân lý của con người không chỉ là hành động suy tư đạo đức, mà còn mang ý nghĩa hữu thể luận, do đó bao hàm cả ý hướng của ơn cứu độ.

Thật vậy, nhân loại đang tiến vào ngàn năm thứ ba, và đang dồn ý lực cho giai đoạn lịch sử mới này. Bởi hai ngàn năm qua, văn hóa Tây phương đã rơi vào hậu quả của việc chia rẽ và phân tranh, nên ở ngàn năm thứ ba này, nếu muốn tiến triển và vượt qua những phản ứng tự nhiên, họ phải chung tay hợp tác cùng đảm nhận trọng trách này. Tôn giáo là thứ sức mạnh khiến con người liên kết lại với nhau, và nếu các tôn giáo có thể bỏ qua những thành kiến riêng để hiểu biết lẫn nhau cách đích thực, thì công việc đó chỉ có thể đến từ quan niệm luân lý của các tôn giáo mà thôi.

Ai ai cũng đều là "hình ảnh Thiên Chúa", đều có "Phật tính", đều bắt chước "Ðạo" .v.v. theo từng cách nói, nhưng tựu trung đều diễn tả con người tôn giáo, tức có mối quan hệ mật thiết với "Nguồn Cội của Chân - Thiện - Mỹ - Thánh", nên hành động của họ đòi buộc phải tương hợp với Thánh Ðạo. Chính vì thế, Rahner đã nói: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ thành nơi để Ngài gặp gỡ; Ngài cũng sáng tạo con người để họ trở thành bầu bạn của Ngài, và Ngài có thể tỏ lộ chính Ngài cho họ. Do đó, bản tính con người chính là mở ra cho Thiên Chúa.

b. Chọn lựa căn bản của Kitô giáo: ở cùng Thiên Chúa

Với Kitô giáo, hành vi luân lý có liên quan tới Sự Thiện Tuyệt Ðối (chính Thiên Chúa). Mọi quy luật đạo đức phổ quát đều có căn nguyên là Sự Thiện này, Sự Thiện này sẽ giúp con người hành thiện, nghĩa là thực thi Ý Chúa.

Rahner giải thích thêm: trong hành vi luân lý, yếu tố tích cực nơi mỗi cá nhân được coi là có "Tuyệt đối tính", là giống với Ý Chúa. Giả như ý định sáng tạo của Thiên Chúa chỉ nhắm đến một hoàn cảnh cụ thể của một cá nhân, thì thực tại của cá nhân kia chỉ là việc thực thi lại những khuôn mẫu phổ quát có sẵn mà thôi: đây là điều không có thật; bởi Thiên Chúa là Thiên Chúa của lịch sử, là Thiên Chúa hướng dẫn nhân loại tiến về sự viên mãn. Cho nên Rahner viết rằng:

"Ước mong của Thiên Chúa đối với lịch sử không chỉ là việc thực hiện cho đạt mức những quy luật sẵn có; nhưng đúng hơn, vì Ngài chính là lịch sử, vì Ngài có thể hòa giải những sự kiện đặc biệt, nên Ngài đã làm cho vĩnh cửu có ý nghĩa."

Tự do căn bản của con người không chỉ là việc chọn lấy một giữa muôn vàn đối tượng, mà còn là đưa chọn lựa kia trở thành hiện thực. Như vậy, ý nghĩa của chọn lựa không đơn giản là hành vi tự thân, mà đúng hơn là một bước tiến trong việc "thành nhân", là chọn lựa hướng về "bản chân"(authentic) hoặc "phi bản chân" (unauthentic) như cách nói của Heidegger.

Trong nhân học siêu nghiệm của Rahner, con người tồn tại nhờ trải qua biết bao kinh nghiệm siêu vượt, rồi qua phản tỉnh con người nhận ra nơi mình có tinh thần khao khát Tuyệt Ðối. Con người hiểu rằng, việc không lựa chọn gì cũng là một hành vi chọn lựa rồi. Thế nên, mỗi hành vi chọn lựa đâu phải là một trường hợp độc lập, riêng lẻ, nhưng có liên quan đến việc khẳng định hay chối từ sự sống viên mãn. Rahner còn chỉ rõ rằng: không phải mỗi hành vi tự do đều có cùng độ sâu và tính chính xác đối với việc hiện thực hóa chính mình đâu. Song dù sao đi nữa, Rahner cũng không thể phủ nhận một thực tế là: hành vi tự do của mỗi cá nhân ít nhiều đều tham dự vào cuộc phiêu lưu hướng về cùng đích và thành tựu toàn diện của chính chủ thể ấy.

Vậy nên, Rahner đồng ý với truyền thống thánh Tôma và hiện tượng luận khi họ nhấn mạnh đến ý thức và ý hướng tính của con người. Từ đó, ngài xây dựng hành vi cá nhân trên ý hướng của con người, và mở rộng "chọn lựa căn bản" của mỗi đời người thành sự phát triển của lịch sử nhân loại. Nhờ việc xâu chuỗi những ý hướng, hay nói đúng là thông qua ý hướng của chọn lựa căn bản, mà tất cả hành vi tự do tìm ra được một ý nghĩa toàn vẹn, tức ý nghĩa nhân sinh. Chính vì thế, mỗi hành vi tự do đều góp phần kiến tạo nên sự hiện hữu của con người, tuy giới hạn nhưng có một sức mạnh đặc biệt này.

c. Chọn Ðức Ái làm động lực sống

Ý hướng bao trùm đời sống, tùy theo mỗi nền luân lý, lại có một tên gọi khác nhau, thí dụ: theo Kinh thánh và thánh Augustinô là "con tim" (heart), theo Kierkegaard là "chủ thể tính", theo Maurice Blondel (1861 - 1949) là "hành động" (action). Nhờ ý hướng kia ta mới có thể thấy được thực tại, tức là có một thứ bao trùm lấy tự do căn bản và hình thành nên sự tồn tại của mỗi cá nhân. Vả lại, sự trưởng thành của mỗi cái Tôi tự do, trước Thiên Chúa, chính là sự hiện thực hóa của cái Tôi đó, và như thế mỗi phút giây là mỗi bước tiến nhập vào vĩnh cửu. Cho nên, phẩm giá và tự do của con người là hai thứ không thể tách ra khỏi nhau, nhưng kiện toàn lẫn nhau.

Tuy nhiên, con người cũng có xã hội tính, và trong nhãn quan Kitô giáo ơn cứu độ không chỉ dành cho cá nhân. Chính vì thế, trong tiến trình hiện thực hóa cái Tôi cá nhân, đang khi hành vi tự do hướng về sự viên mãn trọn đầy, thì cũng là đang trong tiến trình khắng khít hóa với tha nhân.

Dựa vào năng lực đối đãi của tình yêu mà tự do được khẳng định, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu, nên khi gặp gỡ Thiên Chúa thì Tình Yêu của Ngài sẽ bao trùm mọi thứ. Nhờ yêu mà con người có thể vui vẻ đón nhận "khuôn vàng thước ngọc" của đạo đức: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (Khổng tử) (Việc gì mình không muốn người khác làm cho mình thì cũng đừng làm điều đó cho người khác), thêm nữa lại bắt chước Tình Yêu của Thiên Chúa - một tình yêu không giữ lại gì cả, mà bao dung lấy kẻ thù.

"Chỉ có Tình Yêu của Thiên Chúa mới có thể giúp con người thành toàn, thậm chí nhờ vào việc quy hướng trọn vẹn về Thiên Chúa, mà ta có thể dung hòa cả năng lực đối lập để hợp nhất nên một. Sự hợp nhất và vô hạn của Thiên Chúa tạo nên sự hợp nhất nội tại của con người. Ngài hợp nhất sự đa nguyên của hữu hạn mà không hề phá vỡ nó."

Khi tình yêu của con người hợp với Tình Yêu của Thiên Chúa, con người không còn bài bác hay ngó lơ thế gian, nhưng chấp nhận tận đáy lòng tội ác, sự nhục mạ, cái chết của kiếp người, và còn biết quan tâm chính mình, tha nhân, thế giới. Tình yêu chính là căn nguyên và sức lực của luân lý Kitô giáo.

Cho nên về cơ bản, luân lý Kitô giáo trước nhất không nhấn mạnh đến quy luật khách quan (nhưng cũng không phủ nhận những mệnh lệnh đã được Thiên Chúa truyền cho thế giới này), nhưng là con người. Bởi vì cấu trúc của tất cả thụ tạo đều là cho con người, và con người có thể cải tạo chúng trong phạm vi khả năng được ban cho họ. Con người là chủ nhân chứ không phải nô lệ.

Chung quy lại, cấu trúc cuối cùng nhất mà con người nỗ lực diễn tả, phát triển và kiện toàn chính là tình yêu, thứ năng lực căn bản và không bao giờ cạn kiệt. Do đó, con người không bị hạn chế. Rahner cho rằng tội lỗi của con người hệ tại ở việc tự họ từ chối tin tưởng vào Ðấng Vô Hạn. Sự chối từ càng lớn, tình yêu của người đó càng cạn kiệt, nghĩa là họ đã nhảy ra khỏi con đường tình yêu rồi.

Tắt một lời, trong hoạt động tinh thần, con người kinh nghiệm được rằng có một năng lực Huyền bí luôn chăm sóc, nhắc nhở, hướng dẫn con người hướng về vĩnh cửu. Năng lực tinh thần này tan nhập vào mọi cấp độ của con người, từ cá nhân đến cộng đoàn, thế giới quan, lịch sử quan..., nên có thể hợp nhất tất cả, dẫn dắt toàn bộ sự sống đi vào ý nghĩa sâu xa hơn. Năng lực ấy cũng là luân lý của con người, hướng con người đến việc chọn lựa Chúa Kitô. Nếu nói năng lực kia là "bản năng", thì đó là thứ "bản năng" của "Tin - Cậy - Mến". (Xem K. Rahner, T.I., vol.9, pp.217-241; xem: B. Schuller, "Christian and the New Man", op. cit., pp.99, 307-336.)

Loại "bản năng" này không như thứ bản năng của động vật mà ta vẫn hay hiểu, nhưng là khuynh hướng của tinh thần, là "ơn gọi" (vocation) mà con người tự do có thể kinh nghiệm được, là tất cả những gì mà nhân bản bao hàm và trông mong. Nói khác đi, đó là đường hướng mà tinh thần tuyệt đối, vô hạn đang dẫn dắt cá nhân và nhân loại đi theo.

Thế nên, chọn lựa của con người là hiện thực hóa tự do. Song làm thế nào để mỗi quyết định luân lý đều hướng về tiếng gọi của tinh thần tuyệt đối đây? Lời đáp cho câu hỏi này, so với suy tư và động cơ luân lý cách chung, hiển nhiên là rộng và sâu hơn; bởi nó dựa vào thái độ tích cực của một nền luân lý có tính tôn giáo, tức liên quan đến việc phân định và vâng theo sự thúc dục của các loại thần nảy sinh trong tâm hồn con người.

4. Chân lý của luân lý thực tồn

Trong quá trình siêu vượt bản ngã, con người nhận ra chính mình là tinh thần giáng sinh làm người, là con người không ngừng xây dựng cộng đoàn tính và cùng hướng về gặp gỡ Tuyệt Ðối. Con người là hữu thể trong thế giới, nên cũng là hữu thể có lịch sử tính, nên con người ít nhiều sẽ bị các giá trị, mục đích của xã hội ảnh hưởng và ăn sâu vào trong chính nó, từ đó con người có cảm thức thuộc về "nhà". Quả thật, từ cấu trúc cơ bản siêu vượt và tiên thiên, con người phát triển ra nhiều truyền thống luân lý khác nhau dựa trên những dự lệnh (predescription) của luật tự nhiên. Tuy nhiên, tiến trình phát triển này không thể bị ngưng đọng nơi một kinh nghiệm của một xã hội cụ thể hay nơi việc phản tỉnh về lịch sử con người cụ thể nào cả; nhưng đúng ra, quá trình đó vẫn phải tiếp tục xây dựng dựa trên những mệnh lệnh luân lý và quy luật tự nhiên khác nữa. Ðối diện với khoa học đại chúng hôm nay, luân lý lại có thêm nhiều chất liệu để phản tỉnh, công việc này tuy gian nan nhưng không thể bỏ qua. Trong khi phản tỉnh kinh nghiệm lịch sử, con người, một mặt khẳng định một số khả thể tính của con người xét về siêu hình, mặt khác cũng nhận rõ rằng có những dự lệnh liên quan đến phẩm giá con người mà chính họ cũng không tài nào giải thích hay thông diễn cho rành mạch được.

Trong tiến trình lịch sử, tất cả đều đang hình thành, đang trở nên. Do đó, Rahner khẳng định: mỗi loại tri thức đều cho thấy bản chất của nó là cần phải dựa trên một truyền thống nào đó, đồng thời cũng phải mạo hiểm mở ra cho những kế hoạch sẽ đến trong tương lai.37 Truyền thống là thứ đưa đến rất nhiều vấn đề, bởi nó là một trong số các yếu tố thuộc nhân bản, là khởi điểm của phương pháp siêu nghiệm. Còn yếu tố thứ hai của bản chất tri thức nằm trong những kế hoạch dự định của tương lai, và qua dòng thời gian mới thấy được những dự định kia có được thành sự hay không. Ðiều này không chỉ là một "giả định", theo kiểu ước đoán của khoa học kinh nghiệm, nhưng là chân lý được hiển lộ cụ thể (a-letheia), là điều từ trong sâu xa được thể hiện thành thực tại.

Khi con người diễn tả những mặt khác nhau của tồn tại, như: sự sinh tồn của thân xác, nhân cách của tinh thần, văn hóa của hữu thể, tôn giáo của đức tin..., tức là con người đã dùng những phạm trù để phân tách chính sự tồn tại của mình rồi. Thật ra thì, sự sống của con người không thể bị phân tách thành những mảng độc lập được. Nếu cứ nhấn mạnh vào từng khía cạnh, hay từng cấp độ đến nỗi coi khía cạnh đó là hoàn toàn độc lập, hay đầy đủ trọn vẹn, thì sẽ hạ giá bản chất đa nguyên của con người đích thực xuống thành những phán đoán đầy thành kiến, và lúc ấy con người chỉ còn là một thứ nhân cách mà thôi.

Mặt khác, nhờ phản tỉnh hay nhờ sống chung với người khác, con người sẽ thừa nhận tính đa nguyên của nhân loại này là vĩnh viễn; nhưng mỗi cấp độ hữu thể sẽ tạo thành một số quy luật nào đó, mang tính tương đối và đặc thù. Những quy luật kia được hình thành trong sự nhận chịu một số áp lực, hay quyền uy nào đó, nên phân cấp ra cao - thấp. Và trong xung đột, trật tự cao thấp đó sẽ càng lộ rõ hơn. Cho nên, hành vi luân lý buộc phải chú ý đến cả kết cấu nội tại và ngoại tại, tức là hoàn cảnh nội tại của con người và những điều kiện ngoại tại xung quanh hành vi ấy.

Như thế, chúng ta mới hiểu rằng: nguyên nhân của hành vi tự do luôn rộng lớn hơn thực tại mà hành vi đó thể hiện ra. Bởi tự do của con người là đối diện với Thiên Chúa, còn chất liệu của thực tại lại mang tính hữu hạn. Con người vừa tự động, tự phát; vừa bị giới hạn bởi những điều kiện.

Từ đó, tự do là việc xin vâng theo ơn gọi hay là việc chọn lựa khước từ, mà ơn gọi thì không phải là một loại quy luật phổ quát, nên lời xin vâng kia cũng không phải là một trường hợp đã được sắp khuôn sẵn.

Vậy là, trong sự hiểu biết và kinh nghiệm về lịch sử, chúng ta có thể phát hiện ra ý nghĩa đích thực của truyền thống về "luật tự nhiên", đồng thời trong sự tự do trưởng thành của mỗi cá nhân, chúng ta lại hiểu được tự do có "giới hạn" là điều hợp lý.

Nếu nghiên cứu kỹ hơn về cấu trúc hình thành của kinh nghiệm lịch sử và những biến chuyển của xã hội, thì chúng ta sẽ thấy được một số đặc điểm của nhân loại, như những khoảng dài lê thê, hay những cấu trúc bất biến được gán thành quy luật tự nhiên của con người. Tất cả chỉ là kết quả của lịch sử mà thôi.

Ðồng thời, không gian giới hạn cho tự do của con người lại là không gian để cho con người có thể học tập: sự hạn định hợp lý sẽ giúp cho con người hiểu và chấp nhận thứ tự do trọn vẹn hoặc tự do một phần. Ví như: trong tiến trình dân chủ hóa của chính trị, con người học được rằng: khi một hệ thống chính trị thừa nhận những khả thể nào đó, thì nó cũng đã hạn định không gian tự do cá nhân hoặc cấm đoán sự sáng tạo. Cho nên, không gian tự do bị hạn định mà có tính hợp lý sẽ giáo dục và giúp cho việc giải phóng tự do. Nếu con người vô tri, thì họ sẽ bị những ảnh hưởng ngoại tại xâm chiếm, nghĩa là những chọn lựa của họ sẽ thiếu tính trách nhiệm. Còn giáo dục lại có khả năng giải phóng những chướng ngại của thứ "tự do vô tri" đó.

Ðương nhiên, Rahner đặc biệt chú trọng đến những tình cảnh xung đột giữa lương tri nội tại của con người và mệnh lệnh của những quy luật ngoại tại. Tuy có đề ra một vài nguyên tắc, nhưng sau cùng ngài đề nghị hãy dùng trí tuệ để đối diện với những trường hợp xung đột kia. Cụ thể, khi gặp phải những thần học gia dựa vào lương tri của riêng mình để đưa ra những quan điểm xung đột nghiêm trọng với giáo huấn của Giáo hội, Rahner sẽ không ngần ngại xuất đầu lộ diện, dũng cảm gặp gỡ những vị ấy để cùng nhau lý giải và đề xuất con đường giải quyết.

Tổng quan lại, việc nhận biết luân lý chân chính cũng có nhiều cấp độ, nhưng đồng thời cũng có thể liên kết chúng lại với nhau, để tạo thành một chân lý có tính toàn vẹn. Tính toàn vẹn này không chỉ lộ ra nhờ việc học biết lịch sử, mà còn nhờ vào việc đem áp dụng những kiến thức lịch sử ấy vào việc đối thoại, tương trợ với những trào lưu tư tưởng của thời đại hiện nay, hầu tránh được những nguy cơ mà các ý thức hệ gặp phải. Việc làm này sẽ giúp cho trí tuệ chân lý của nhân loại không ngừng được sáng rõ, đến nỗi cả cá nhân và cộng đồng đều kinh nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Còn nói theo ngôn ngữ thần học, đó chính là ơn sự sống, là Thánh Thần đang hướng dẫn nhân loại. Quả thật, việc nhận biết chân lý luân lý là lời khẳng định cho việc "kinh nghiệm về Thánh Thần".

5. Cuộc tranh luận giữa luân lý thực tồn và luân lý hoàn cảnh

Cuối cùng, chúng ta sẽ làm rõ tư tưởng của Rahner về luận chứng "vô hiệu" (bad arguments) của luân lý. Lý do của việc này là: đâu đâu cũng gặp phải "luận điểm tùy chọn" (petitio principii).43 Luận điểm trên làm nảy sinh rất nhiều vấn đề, vì vẫn đang chờ những chứng cứ đầy đủ cho việc chứng minh. Vậy mục đích của việc thảo luận này là: tiếp tục nỗ lực để loại bỏ luận điểm trên.

a. Khai triển vấn đề

Ðầu tiên Rahner đưa ra những nan đề cho vấn nạn trên, như: vì hoài nghi về tính logic của các suy luận truyền thống, nên người ta dễ sa vào nguy cơ của chủ nghĩa tương đối. Thực sự, vấn đề lại nằm ở giai đoạn trước khi vào luận lý: chúng ta đang thảo luận rằng liệu luân lý phải chăng chỉ có một kiểu luận lý hình thức, nếu thế thì phải duyệt lại xem ngôn ngữ lý luận kia có rõ ràng không và chúng được chọn vì lý do gì.

Rahner lại muốn đặt câu hỏi rằng: khi nghiên cứu một vấn đề, một nhà thần học luân lý sẽ chú tâm vào việc suy luận logic hay chú ý đến kinh nghiệm sâu xa của đức tin và trí tuệ đây? Nếu chú trọng đến suy luận logic, thì e rằng anh đã rơi vào sự trống rỗng của chủ nghĩa hình thức, và anh chỉ có thể dùng lại những ngôn từ sáo rỗng và quan niệm vừa không chính xác vừa vô hồn của "truyền thống" rồi. Ðó có thể là vấn đề của thứ tri thức phổ quát của những mặc khải đức tin, hoặc có thể là thứ trực giác tự nhiên của con người, mà chúng chưa từng trải qua những đổi thay của dòng lịch sử, nên đã coi những thành kiến thâm căn cố đế như tuyệt đối. Hoặc một số khác lại rơi vào chủ nghĩa luân lý kinh nghiệm, hoài nghi tất cả những nguyên tắc phổ quát và ẩn mình trong "luân lý hoàn cảnh đơn thuần" (pure situation ethics).

Dĩ nhiên, khi phân chia thành hai lập trường cực đoan như trên, chúng ta cần một số nguyên tắc và tiêu chuẩn để phán định, nhưng làm sao để nhận ra được phạm vi của chúng đây? Hơn nữa, giáo huấn của Giáo hội về mặc khải tuy có thẩm quyền, nhưng liệu nó có bao hàm cả phạm vi của luật tự nhiên đơn thuần không? Tiếp nữa, luận chứng "vô hiệu" của luân lý vẫn đang bị chất vấn, bị thách đố về đề xuất lịch sử tính của nó: bởi trong một thời gian dài, những giáo huấn luân lý chẳng hề gặp phải bất kỳ quan điểm đối lập nào, nên phải chăng những phản đối ngày nay chỉ là sản phẩm nhất thời của thời đại này mà thôi?

Thật ra, chúng ta nên nghiên cứu những lý do giới hạn này. Trước nhất, Rahner giải gỡ những hiểu lầm về quan điểm lịch sử: một quan điểm đích thực sẽ được khám phá ra trong dòng lịch sử mà không cần đến sự thừa nhận của chủ nghĩa tương đối lịch sử. Thứ hai, những luận chứng (tiền khoa học) của luân lý truyền thống thường được diễn đạt ở thể khẳng định, như thể chúng là những tín điều tự nhiên bất biến, đến nỗi chúng như là một luận điểm "tuyệt đối" mà không cần phải trải qua quá trình kiểm nghiệm thực chứng của khoa học nữa.

Những lý luận này không chỉ đúng về mặt lý thuyết, nhưng còn thường được gặp thấy trong đời sống thường nhật nơi những hoàn cảnh cụ thể: có những phán đoán đã có đó trước cả khi diễn ra việc phản tỉnh khoa học, chúng cũng chẳng cần trải qua những kinh nghiệm trí tuệ, nhưng đã là những thành kiến của xã hội, lịch sử, văn hóa#, và thành kiến ấy có sức ảnh hưởng, dẫn dắt, và sản sinh ra những hiểu lầm, cho nên rất cần việc học tập và cải thiện.45 Ðương nhiên, rất nhiều thành tựu khoa học đã được cải thiện nhờ học hỏi. Những giáo huấn của Giáo hội cũng nên nhận ra sự khác biệt giữa lãnh vực siêu nhiên và tự nhiên, để đừng tuyệt đối hóa những thành kiến của con người. Rahner nghĩ rằng, những sự phân biệt này càng cần thiết hơn cho lãnh vực luân lý.

Thêm nữa, vẫn còn một vấn đề đáng nhắc tới: con người luôn chứng minh quan điểm của mình là đúng đắn (tuyệt đối hóa) và rất hiệu quả cho chính thời đại hay giai đoạn lịch sử cụ thể mà họ đang sống; tuy nhiên, họ cũng không thể ngăn cản chúng ta đặt lại vấn đề về nguồn gốc (con người, xã hội...). Dĩ nhiên, đây không phải là việc cứ ngồi đó hoài nghi về kết quả, nếu trong hiện tại này những điều đó vẫn có sức giúp chúng ta tiến về sự kiện toàn. Giả như luân lý, trong quá trình nhận biết thực tại, tạo nên lịch sử của nó, nghĩa là những thành tựu đó đã là những bảo chứng cho kết quả cuối cùng mà ta chưa thể thấy hết lúc này, bởi đang trong tiến trình. Tóm lại, nếu lịch sử, ảo tưởng, xung đột hay nguy cơ đều có thời có buổi của nó, vậy luân lý cũng chẳng thể khác hơn.

b. Ðề nghị hướng đi căn bản

Một trong những đức tính hàng đầu của các thần học gia luân lý là có đủ can đảm để đối diện với những ánh mắt chỉ trích và thái độ phê bình của các phe đối lập hay không. Như thế, nhiệm vụ của các nhà luân lý, kể cả trong Giáo hội, không chỉ là huấn đức cho con người, mà còn là nhịp cầu nối, để một mặt vừa giải thích hay bảo vệ truyền thống luân lý của Giáo hội, mặt khác lại vừa giúp thẩm quyền huấn giáo hiểu được những phê bình và cải thiện nhân bản. Ðối với một nhà thần học luân lý Kitô giáo, đòi hỏi trên không chỉ là nghĩa vụ, mà đúng hơn là chứng nhân của đức tin, vì thế, vị này phải là người khẳng định mặc khải Kitô giáo là con đường thành toàn của con người, và nền luân lý lịch sử này chính là sự lý giải và con đường quyết định cho sự viên mãn của con người.

Rahner nghĩ rằng, để đẩy lui luận chứng "vô hiệu", các thần học gia luân lý cần chú ý hai điểm sau:

(1) Một khi còn đang trong quá trình thảo luận và chứng minh, một luận chứng không thể được coi như thuốc tiên trị bách bệnh, tức là giải quyết được mọi vấn đề và là kết luận có tính quyết định tuyệt đối.

(2) Một luận chứng của một nhà luân lý chỉ được coi như "lời kêu gọi" cho một thực tại cố định nào đó mà thôi. Thực tại kia tuy đã trải qua điều kiện lịch sử mới dẫn tới quyết định, nhưng nó cũng phải dựa trên một nền tảng ý niệm nào đó, bởi nếu không có ý niệm thì cũng không có quan điểm hay luận chứng. Lời kêu gọi trong tương lai có được đáp ứng và thực hiện hay không là do quyền phán quyết của lịch sử (chứ không phải của đương sự). Nếu lời kêu gọi đó đạt được nền tảng siêu vượt của nhân bản, thì luận chứng của nhà luân lý kia mới có hy vọng tồn tại.

Tiếp đó, bởi vì nhà luân lý trên tuyệt đối không thể áp đặt cho luận chứng của mình là có tính siêu vượt mà chẳng màn đến tính lịch sử, nên lời kêu gọi của anh ngay lập tức sẽ hướng về cánh chung tuyệt đối. Ngay lập tức chính là một mối dây liên kết mang tính lịch sử và đặc biệt. Thế nên, chúng ta biết rõ rằng, tự thân luân lý luận chứng đã mang tính thực tiễn rồi.

Tóm lại, luân lý luận chứng có thể đúng hoặc sai. Ðúng là vì nó đạt được bản chất siêu vượt của con người và luôn luôn hiện thực hóa được những mong chờ cách hữu hiệu; hoặc nó đã diễn tả được mô hình đích thực cách hữu hiệu. "Mô hình hữu hiệu" này hoặc đã được thừa nhận bởi nhân học, xã hội học, văn hóa... (nhưng không hẳn là của siêu hình học), đã có giá trị lịch sử và mệnh lệnh; hoặc mô hình này đã nhận được sự phê bình hữu hiệu bởi các luận chứng của hoàn cảnh hiện tại, tức như một lời kêu gọi của tương lai. Nhưng rồi, tính hữu hiệu có thể kéo dài liên tục được không, đó là chuyện của tương lai.

 

III. Việc Ứng Dụng Và Sự Ứng Biến Của Luân Lý Thực Tồn

Rahner là một nhà thần học hệ thống, chứ không phải là một chuyên gia nghiên cứu luân lý. Tuy vậy, qua những gì đã nói ở trên về luân lý thực tồn, chúng ta lướt qua cũng thấy được rằng những vấn nạn, quan điểm mà Rahner đề cập đều là những vấn đề nền tảng của Kitô giáo và cũng là vấn đề của xu thế mới.

Những học trò của Rahner sau này đã phát huy linh cảm trên của ngài, ví dụ, trong lễ mừng thượng thọ tám mươi tuổi của Rahner, một học trò của ngài đã phát biểu rằng:

"Thần học của Rahner như thể là viết cho chúng tôi, hoặc nó như là một mô hình thần học. Thậm chí, trong đường lối suy tư hay những trọng điểm để triển khai đường lối suy tư của mỗi người học sinh chúng tôi, đều là kết quả hoặc lấy ra từ gia sản của vị đại tôn sư này."

Cụ thể, xin dẫn chứng ở đây một học trò của Rahner là Hans Rotter (1932 - 2014), người đã áp dụng và cải biến luân lý thực tồn của ngài. Hans Rotter là giáo sư về thần học luân lý đã từng dạy tại Ðại học Innsbruck, và cũng là một tu sĩ Dòng Tên.

Về phương pháp luận, Rotter một mặt tiếp bước Rahner bỏ phương pháp diễn dịch; mặt khác lại cải biến phương pháp triết học tiên thiên của Rahner thành phương pháp thông diễn nhân học. Bàn về những phương pháp khác nhau, Rotter cho rằng nên phê bình chứ đừng loại bỏ bất kỳ phương pháp nào, ngược lại cần cố hiểu thấu, đánh giá mức độ hữu hiệu của nó: phương pháp này thì hợp với mức độ này của thực tại hơn, phương pháp kia thì lại đánh đúng vào những yêu cầu của thực tại ở mức độ kia. "Có một mối liên kết nội tại giữa phương pháp và đối tượng nhận thức."

Chẳng hạn như khi bàn về nền tảng của luân lý là "Ðức Ái", Hans Rotter cho rằng thật phù hợp nếu bắt đầu từ một số những quan niệm tiên thiên rồi sau đó diễn dịch tiếp; nhưng nếu trong tương quan "Tôi - Anh" thì hãy bắt đầu phân tích bằng phương pháp hiện tượng học. Cách lý giải rằng thực tại và phương pháp có mối dây liên kết nội tại như trên của Rotter chính là kiểu phương pháp thông diễn luân lý.

Phương pháp thông diễn này rất coi trọng lý tính thực tiễn nằm trong con người tổng thể của mỗi cá nhân, nên cũng có thể trở thành vấn đề nghiên cứu của luân lý. Như vậy, Hans Rotter không chỉ coi trọng kinh nghiệm khoa học như Rahner từng đòi hỏi, mà còn tiến thêm bước nữa khi đưa nhân học, tâm lý học, xã hội học... và những tri thức mới vào trở thành những chủ đề cho việc nghiên cứu luân lý.52 Vậy là, trong dòng lịch sử, nhờ những tri thức mới, con người lại được nghiên cứu ở những lãnh vực mới, đó là việc không ngừng học hỏi để tiếp cận nét Chân, nét Thiện của con người, hầu làm cho những quyết định luân lý của con người thể hiện được Phẩm giá cao quý của nó, nhờ đó mà gặp được ơn cứu độ viên mãn.

Từ đường hướng của Rahner, Rotter chủ trương luân lý không thể nào độc lập được, và những mệnh đề phổ quát cũng không phải là luật tự nhiên, bởi chúng có mối liên quan nội tại với nguồn cội lịch sử của con người. Như thế, "Thần" được thông diễn thành nền tảng của mọi nền luân lý tôn giáo, là đòi hỏi tuyệt đối để con người hiện thực hóa chính mình.

Ðây chính là cách Hans Rotter đã vận dụng và phát huy quan điểm về "Kitô hữu vô danh" của Rahner rồi đó. Hơn nữa, Rotter còn bổ sung thêm tính toàn thể của lịch sử vào trong kiến giải về quan niệm "tự nhiên" truyền thống và luật tự nhiên, sau khi những quan niệm này đã nhận chịu rất nhiều thách đố khác nhau của các nhà văn hóa, xã hội.

"Trong những nền văn hóa và tôn giáo khác nhau, việc con người được cứu độ tuy được hiểu hết sức chi tiết, nhưng đều thông diễn dựa trên quan điểm về giá trị nhân bản của con người, và cùng đều định nghĩa rõ cái gì là hoặc không là tự nhiên và nhân tính." (H. Rotter, "Genuegt ein heilsgeschichtlich - personaler Ansatz zur Loesung ethischer Probleme?", trong G. Virt (hg), Moral begruenden - Moral verkuenden, Innsbruck, 1985, p.39.)

Cho nên, về mặt tôn giáo, luân lý luận chứng chính là việc truyền giáo.

Cũng giống như luân lý thực tồn của Rahner, Rotter cũng chủ trương một nền luân lý thực tiễn bao gồm tính tôn giáo, với trọng tâm là "Ðức Ái" Kitô giáo. Sở dĩ nhấn mạnh đến "Tình Yêu" là vì đó là giới luật căn bản của Kitô giáo.

Rotter chọn "nhân cách" và "tương quan liên vị" làm xuất phát điểm, bởi chúng vừa có thể thay thế cho quan niệm đã được truyền thống định nghĩa, vừa giữ được tầm mức cố định của siêu hình học. Những ý nghĩa về tồn tại, giao lưu, giáo dục như: "Tương quan Tôi - Anh" của Martin Buber (1879 - 1965), "Ðấng Cứu Tinh" của Franz Rosenzweig (1886 - 1929), "Chân lý và Thực tại" của E. Grisebach (1880 - 1945)... đều đã được phản tỉnh sâu xa trong khi bàn về Tình yêu.

Ðầu tiên, Rotter xây dựng nền tảng dựa trên mối tương quan liên vị: con người khác động vật chỗ nào? Ðó là bản năng được kiện toàn, cái Tôi thành trung tâm, và cái Tôi đó có mối tương quan biện chứng phát triển với thế giới bên ngoài v.v...55 Những tư tưởng trên được phát triển trên phiến đá gốc là "Tình mẫu tử" giữa mẹ và con, nhưng cũng có khả năng mở rộng ra tới Tình Yêu Vô Hạn. Từ sự chăm sóc của cha mẹ, con người được trưởng thành và có thể kinh nghiệm được tình yêu, đó là ân huệ mà ta được lãnh nhận, nhưng đó cũng là sự hy sinh và cống hiến.

Tình yêu nằm trong mối căng thẳng của sự hoạt động giữa vô hạn và hữu hạn, là thứ tranh đấu giữa tự do và giới định, là sự học tập để biết chấp nhận và khoan thứ. Do đó, yêu không chỉ là từng hành động rời rạc, nhưng chính là lịch sử của cả tiến trình thành nhân: dùng tất cả những nền móng đã xây dựng trong quá khứ để hy vọng cho tương lai. Như thế, sống trong tình yêu là việc hướng về Thần để học hỏi, thấu hiểu Tình Yêu, rồi tiến tới việc hội nhất với Thần trong tình yêu của "Tin - Cậy - Mến". (H. Rotter, Grundgebot Liebe Mitmenschliche Begegnung als Grundansatz der Moral, Innsbruck, 1983, pp.81ff.)

Những điều vừa thảo luận ở trên chính là một trong những điểm trọng yếu trong luân lý của Rotter. Tương tự thế, Rotter dùng phương pháp loại suy, lấy khoa học kinh nghiệm hiện đại, quan điểm tân triết học để chất vấn và bàn luận về một vấn đề cơ bản của truyền thống: quan niệm về tự nhiên và luật tự nhiên; hoặc bàn về một số vấn đề quan trọng của thời đại: tự do và quy luật, vấn đề về tính dục, luân lý y học đối với phẩm giá sự sống con người... Qua tất cả những điều trên, ta có thể thấy được sự vận dụng và cải biến luân lý thực tồn của Rahner.

 

Kết Luận

Tóm kết lại, tư tưởng triết học và thần học của Karl Rahner là sự phát triển những cột mốc quan trọng của trường phái Tân Kinh viện. Trên nền triết học tiên nghiệm, ngài đã làm cho những điều kiện của ý chí và tri thức trở nên linh hoạt, nhờ thế mà có thể xây dựng một nền thần học mới về nhân học, mà trước nay chưa hề có. Ðồng thời, trong khi phân tích sự tồn tại của con người như Heidegger, Rahner phát hiện ra tri thức về chân lý của con người chính là sự thể hiện rõ ràng nhất của cái Tôi huyền nhiệm tuyệt đối. Như thế, mỗi sự siêu vượt của con người đều là tiêu điểm của ánh quang "Tuyệt đối".

Ðiểm khẩn yếu trong luân lý thực tồn, theo Rahner, là mối tương quan biện chứng giữa một hành vi luân lý đặc thù và nền tảng chọn lựa của hành vi ấy, do đó ý hướng chọn lựa sẽ bao tóm hết trọn cả ý nghĩa cuộc đời của mỗi cá thể.

Ðiểm quan trọng nhất của thần học Rahner là: thần học Kitô giáo ngày nay được nhận biết nơi ý nghĩa của giai đoạn tính (epochale Bedeutung), cho nên luân lý thực tiễn tự nó là một quá trình giáo dục để hướng về bản chân (authentic). Thế là, trong hoạt động tinh thần của con người, luân lý và đức tin tôn giáo có sự hỗ tương và hợp nhất.

Tiếp đó, bất luận là trong kinh nghiệm siêu vượt hay trong sự phân tích về tồn tại của con người, thì điều quan trọng phải có là ý thức cá nhân. Nên, nan đề đặt ra, cho triết học cũng như thần học, có liên quan đến khía cạnh lịch sử và xã hội, là liên chủ thể tính (intersubjectivity). Thực tế, Rahner cũng đã ý thức được sự khó khăn này, nên ngài bèn dựa vào các "phạm trù" để nhấn đến tính khách quan của chúng. Cụ thể, khi suy tư về luân lý, ngài đã nhấn đến hiệu quả và sự hỗ trợ của các lĩnh vực thuộc khoa học kinh nghiệm như lịch sử, văn hóa, xã hội# Tuy nhiên, với luân lý, chủ thể vẫn là điều chủ yếu nhất.

Về tự do, Rahner quan niệm rằng, tự do chỉ có được trong tương quan nội tại giữa cá nhân và tha nhân: tự do của con người được đặt trong bối cảnh của lịch sử, văn hóa# và thành quả của cả một quá trình cá nhân, nên xuất phát điểm mới của nó phải là liên chủ thể tính. Vì thế, việc giao lưu đối thoại trở thành điểm khởi của tự do.

Tất cả khoa học kinh nghiệm đều cho rằng, qua tương tác mà con người có thể phát triển, cải thiện, trợ giúp chính bản thân nhận biết nền tảng và điều kiện tiên thiên của họ. Còn Rahner thì nghĩ rằng, chúng ta chưa thấy hết được mối tương quan nội tại giữa các điều kiện tiên thiên và kinh nghiệm, lẫn hoạt động của chúng. Có thể chúng không giống như bước nhảy từ tồn tại sang đức tin như Kierkegaard đã nói; song dù sao, theo Rahner, con người vẫn chưa thể chấp nhận mối tương quan giữa tiên thiên và hậu nghiệm cách tâm phục khẩu phục được. Chính vì thế, Rotter mới dùng tri thức mới của khoa học kinh nghiệm để nghiên cứu luân lý, đồng thời chuyển phương pháp siêu nghiệm của Rahner thành phương pháp thông diễn. Nhưng Rotter cũng thừa nhận rằng phương pháp thông diễn ấy vẫn liên kết với phương pháp siêu vượt của Rahner.

Về vấn đề làm thế nào mà Luân lý thực tồn của Rahner lại có tương quan nội tại với các lãnh vực lịch sử, xã hội, văn hóa..., ta không thể chỉ thay đổi tạm thời một vài điều là có thể giải quyết rốt ráo được, nhưng phải nghiên cứu và trùng tu triệt để, giống như Rahner cũng đã từng rào trước đón sau kỹ lưỡng rồi mới có thể cải biến tư tưởng của thánh Tôma vậy.

Có thể liệt kê ra đây một vài thần học gia và giáo sư nổi tiếng thế giới đã suy tư theo đường hướng của Rahner là: Metz và thần học chính trị; H. Peukert và thần học liên đới - đối thoại... Họ đều khẳng định rằng Rahner rất coi trọng sự riêng biệt của từng thời đại, bởi chúng có vai trò đặc thù trong việc tạo nên lịch sử. Giả như tầm nhìn đó của Rahner là đúng, thì luân lý thực tồn chắc chắn phải phát huy rực rỡ rồi chăng?

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page