Sơ lược tiểu sử

Ðức Cha Giuse Trương Cao Ðại, OP.

 

Sơ lược tiểu sử Ðức Cha Giuse Trương Cao Ðại, OP.

* (Theo Linh mục Ðaminh Nguyễn Thanh Thảo, Lich sử Ðịa phận Ðông Ðàng Ngoài hay Giáo phận Hải Phòng, Toà Giám mục Hải Phòng xuất bản năm 2007)

Ðức cha Giuse Trương Cao Ðại, OP, đã được Toà Thánh bổ nhiệm làm giám mục cai quản Ðịa phận Hải Phòng, thay thế Ðức cha Gomez về hưu năm 1952. Ngài là vị Giám mục người Việt đầu tiên của Ðịa phận Hải Phòng. Trong đời ngài, Chúa đã để xảy ra những biến cố lịch sử rất quan trọng, như hiệp định Genève, và tiếp theo là phân đôi đất nước Việt Nam. Vì tình hình chiến cuộc, ngài phải rời Ðịa phận, đem theo một phần lớn linh mục và giáo dân vào Nam. Với việc Ðức cha Giuse Trương Cao Ðại di cư vào Nam, từ đây chấm dứt việc cai quản truyền thống Ðịa phận Ðông Ðàng Ngoài của các vị Giám mục và tu sĩ dòng Ðaminh, suốt 278 năm (1676-1954), từ đời Ðức cha Juan de Santa Cruz (Thập) đến Việt Nam.

1. Tiểu sử Ðức cha Giuse Trương Cao Ðại, OP.

Cậu Ðại sinh ngày 5-6-1913 tại xứ An Lập, thuộc xã Tiên Môn, tỉnh Thái Bình, lúc đó còn thuộc Ðịa phận Bùi Chu. Khi còn nhỏ, cha mẹ đặt tên là Lộ. Sau lớn lên đi tu giúp cha già Ðô, mới được Cha già cải tên là Ðại.

Cậu Ðại vào Tiểu Chủng viện Ninh Cường, cùng lớp với một cậu bạn học, Hoàng Văn Ðoàn, sau này làm Giám mục Bắc Ninh, rồi di cư vào Nam làm Giám mục Qui Nhơn. Năm 1932, thầy Ðại lên Ðại Chủng viện, tức Giáo hoàng Chủng viện Thánh Alberto Nam Ðịnh. Hết 3 năm triết, thầy gia nhập dòng Ðaminh và mặc áo dòng tại Quần Phương. Rồi được bề trên gửi sang học thần học tại học viện Saint Albert tại Rosaryhill, Hongkong. Thầy được khấn trọn đời ngày 31-8-1939 và thụ phong Linh mục ngày 18-5-1940. Sau Cha Ðại còn được cử sang học Ðại học Saint Thomas tại Manila và đậu tiến sĩ Giáo luật.

Vì đại chiến thứ hai tiếp diễn, Cha Ðại không thể về Việt Nam, nên bề trên cử cha làm giáo sư tại học viện Rosaryhill, kiêm chức thẩm phán toà án Ðịa phận Hong Kong. Nhưng năm 1942, quân đội Nhật chiếm Hong Kong, lấy học viện làm bệnh viện, các tu sĩ phải chia tay trở về quê hương. Các cha và các thầy Việt Nam phải về nước năm 1953. Ngày 24-1-1953, khi Ðức cha Gomez từ chức, Toà Thánh đã bổ nhiệm Cha làm Giám mục Hải Phòng. Lễ tấn phong cho Ngài được cử hành long trọng tại Nhà thờ Chính toà Hongkong ngày 19-3-1953, do Ðức Khâm sứ John Dooley chủ phong, với hai Ðức cha Ngô Ðình Thục và Lê Hữu Từ phụ phong. Ngày 21-3-1953, Ðức cha về Việt Nam nhận Ðịa phận.

Công việc đầu tiên của Ðức cha là tấn phong linh mục cho 7 cha lớp cha Giuse Trần Văn Bình tại Chủng viện Nam Ðịnh ngày 3-5-1953, cử 4 cha du học tại Hoa Kỳ và Canada: Giuse Chu Công, Giuse Chu Văn Oanh, Giuse Phạm Văn Long và Ðaminh Ðào Công Roanh. Bốn linh mục này đều gốc Kẻ Sặt. Ngày 10-1-1954, Ðức cha khánh thành Tiểu Chủng viện Chân Phúc Liêm tại số 9 đường Bonard Hải Phòng. Ngày 14-1-1954, ngài tổ chức trường Thầy Giảng tại Yên Trì, Quảng Yên. Ðức cha đặt Cha Phêrô Vũ Trọng Thư là Tổng Ðại diện, Cha Joachim Nguyễn Hữu Hoá làm giám đốc chủng viện và Cha JB Nguyễn An Hoà là Thư ký Toà Giám Mục. Ðức cha lo cải tổ nữ tu dòng Ba Ðaminh và bắt đầu đi kinh lý các Giáo xứ trong Ðịa phận.

Khi Ðức cha về Ðịa phận, nhân sự của Ðịa phận Hải Phòng được thống kê như sau: 90 linh mục triều, 7 linh mục dòng, 16 đại chủng sinh, độ 60 tiểu chủng sinh lúc đó từ Ba Ðông trốn sang Hải Phòng, 525 nhà thờ lớn nhỏ và 135,000 giáo dân trong tổng số dân Hải Phòng (9%).

Nhưng Thánh ý Chúa xếp đặt không ai ngờ trước được. Công việc mục vụ Ðịa phận của Ðức cha vừa mới khởi đầu, thì Hệp định đình chiến Genève xảy tới và đất nước phải chia đôi, làn sóng di cư vào Nam ồ ạt diễn ra.

Ðức cha vì đau yếu và tuy công việc mục vụ chưa ổn định, nhưng phải lên đường di cư vào Nam cùng với số giáo dân là 65,000 và khoảng 80 linh mục, toàn thể chủng sinh, thầy giảng và dì phước.

Vì lý do bệnh tật, sức khoẻ Ðức cha mỗi ngày suy yếu. Ngài xin xuất ngoại để điều dưỡng tại tu viện San Pedro ở Madrid (Tây Ban Nha) và qua đời đột ngột ngày 29-6-1965, trong khi đang giảng và chủ lễ phong chức Linh mục cho một số tu sĩ dòng. Ðức cha được 52 tuổi, 12 năm Giám mục, trong khi 10 năm phải xa cách Ðịa phận (trang 278-281).

2. Những công việc Ðức cha thực hiện ở Miền Nam

Riêng Ðức cha, vào hồi tháng 8 năm 1954, với một vài cha, vào Nam quan sát các nơi, nói là tìm chỗ cho con chiên Ðịa phận. Khi trở về, chỉ thấy ngài nói, đi thăm nhiều nơi và được các cơ quan đặc trách giành cho Ðịa phận nhà một vùng đất rộng và tốt lắm, nhưng không nói là tỉnh nào (Sđd trang 285).

Tháng 11-1954, Ðức cha Ðại, sau khi trao cho Cha già Bùi Khắc Hiệp làm Cha Chính Ðịa phận, lên máy bay vào Sài Gòn. Vào đến Tân Sơn Nhất, cũng như mọi hành khách, Ðức cha phải tìm một chỗ tạm trú. Vì thành phố Sàigòn lúc ấy còn phạm vi hẹp, các cơ sở tôn giáo còn ít. Các đấng các bậc còn phải tự túc. Như Ðức cha Phạm Ngọc Chi phải trú ngụ tại tư gia của bà nghiệp chủ có đạo, bà Maria Hồng Thị Cúc ở Cây Xăng, Cây Mai, Chợ Lớn cùng với một số thầy giảng. Ðức cha Santos Ubierna Ninh, Ðịa phận Thái Bình, tạm trú tại một căn nhà trệt tại đường Trần Bình Trọng, Chợ Lớn. Các cha Ðaminh và Phước Lý ở nhà bà tám Trịnh thị Dung cũng trên con đường này. Nên các cha Ðịa phận phải tậu hai căn nhà ở hẽm số 306 Trần Bình Trọng. Một nhà rộng hơn, nhưng hơi tối và ẩm thấp, cho các cha làm trụ sở đi lại ở Sàigòn. Căn nhà thứ hai nhỏ hơn, nhưng khang trang, sáng sủa, ở sâu hơn một chút, dành cho Ðức cha và Cha quản lý Felices Lý cư ngụ. Ngụ tạm ở đó, Ðức cha có thể đi thăm viếng các trại định cư gốc Hải Phòng, các cha các nơi, vận động các nơi giúp đỡ cho giáo dân Ðịa phận và đi ban bí tích Thêm sức cho các xứ.

Ðến tháng 10-1955, được Cha xứ Bà Chiểu mời về cư ngụ tại cơ sở ngài mới cất. Về đó, Ðức cha dựng một căn nhà gỗ 2 tầng 3 căn, để các cha có chỗ trú ngụ, khi đi lại thành phố Sàigòn.

Tại đây Ðức cha được cử đứng ra cải tổ các nữ tu Ðaminh Hố Nai và phụ trách các linh mục Tuyên Uý Quân Ðội (Trang 293-294).

Ðức cha giới thiệu có một gia đình người Pháp muốn tặng cho dân di cư một khu ruộng ở Sóc Trăng. Vì vậy cha Huy với cha Học xuống thăm, rồi đưa các dân Ngọc Lý, Cựu Viên, Quỳnh Côi và một số gia đình xuống lập trại mới, có các cha Ðào Huy Chung, Ðỗ Ðức Hoàng, Nguyễn Ðức Cần, Phạm Ðức Quán xuống cộng tác. Trại mới đặt tên là Ðại Hải, còn tồn tại đến ngày nay (Giáo xứ Ðại Hải thuộc Ðịa phận Cần Thơ. Ðại là tên Ðức cha, còn Hải là Hải Phòng) (trang 291).

Năm 1957, Ðức cha cũng đi Hoa Kỳ thăm viếng các Ðịa phận bên Mỹ và xin các Giám mục Mỹ giúp đỡ cho đồng bào di cư (trang 293).

Tiểu chủng viện Chân Phúc Liêm được thành lập ở Hải Phòng. Nhưng chỉ hoạt động được 8 tháng thì di cư. Tháng 9-1954 Ðức cha di chuyển các chủng sinh vào Nam, độ 70 chủng sinh.

Ðức cha tỏ ý với Bà Nhất tu viện Mến Thánh Giá Chợ Quán, mượn khu sở làm savon (xà-phòng) của ông Jacques Lê Văn Ðức mới hiến cho tu viện, ở xã Bình Ðức (nay là Bình Tạo) cách Mỹ Tho 2 cây số (trang 294).

Khu đất này rất rộng, không biết bao nhiêu mẫu, cho các gia đình nghèo có đạo ở chung quanh, mỗi tháng trả góp cho nhà dòng.

Còn khu giữa, có nhà mồ của ông bà Phủ Mẫu và các mộ chôn các thân nhân, làm việc ở đó. Dinh cơ còn một biệt thự 2 tầng và 2 dẫy nhà bằng cây rộng lớn. Chung quanh trồng các thứ cây ăn trái: đu đủ, xoài, chuối, mít... Cây cối um tùm rậm rạp, nên lúc nào cũng mát mẻ, dễ chịu. Xung quanh còn các ao lớn nuôi cá tạo một phong cảnh rất đẹp.

Bà Nhất vui lòng nhường cơ sở này cho Ðức cha làm chủng viện, và đưa các bà về Chợ Quán; mượn thời gian bao lâu không nói, chỉ xin Ðức cha góp cho 2,000 đồng mỗi tháng, để hưởng các hoa lợi trong vườn.

Trong khi đó, Ðức cha cho Ban Quản Trị Ðịa Phận mua lô đất lò gạch, rộng 12,260m2, cách thị xã Mỹ Tho gần 2 cây số trên đường Mỹ Tho - Sàigòn, thuộc xã Ðạo Thạnh, tỉnh Ðịnh Tường. Ban Quản Lý khởi công xây cất 2 dẫy nhà lầu, theo kiểu kiến trúc tân kỳ, mỗi dẫy dài độ 60m, kề đầu vào nhau thành chữ T. Tầng trên là nhà ngủ cho chủng sinh và nhà nguyện. Tầng dưới là lớp học, nhà chơi và nhà ăn. Tổng phí tất cả là 6,400,000 $.

Năm 1959, Ðức cha xuống ở Chủng viện Chân Phúc Liêm ở Ðạo Thạnh, Mỹ Tho. (Ðức cha dạy tiếng Latinh cho các chủng sinh Hải Phòng mãn Tiểu Chủng viện Phanxicô Bùi Chu, chuẩn bị lên Giáo hoàng Học viện Alberto, Ðaminh Phú Nhuận).

Khi Toà Thánh ra lệnh sáp nhập các chủng viện và các tổ chức di cư vào các Ðịa phận địa phương, thì chủng viện Ðạo Thánh cũng đóng cửa. Các chủng sinh, một phần nhập vào các Chủng viện Sài Gòn, một phần theo Cha Hiến xuống Long Xuyên.

Khu nhà chủng viện, Ban Quản trị nhường cho Ðịa phận Mỹ Tho với số tiền 5,000,000$, nhưng Ðức cha Trần Văn Thiện không nhận. Sau này Ban Quản Trị cho quân đội Hoa Kỳ mướn, mỗi tháng 150,000 $. Quân đội Mỹ làm cháy nhà nguyện, Ban Quản Trị tu sửa. Khi được trả lại thì năm 1975 chế độ mới đến xung công (Trang 300-302).

* (Theo Linh mục Bùi Ðức Sinh, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam T.III, Calgary-Canada)

Năm 1951, Ðức cha Gomez Lễ cảm thấy mình già yếu, mệt mỏi, chính trị mỗi ngày thêm rối ren, đức cha lên đường đi Roma bái yết Ðức Thánh Cha, rồi trở về Tây Ban Nha nghỉ. Biết không thể trở lại giáo phận được nữa, năm 1952 đức cha xin từ nhiệm, để được sống yên tĩnh và cầu nguyện. Ðức cha từ trần ngày 3-4-1962, thọ 75 tuổi. Trước ngày đi khỏi giáo phận, Ðức cha đã trao quyền cho cha Perez Hiển, chính xứ Hải Dương. Thời gian cai quản địa phận cho tới khi có Giám mục mới.

Cha bề trên tổng quyền địa phận tậu đất ở Hải Phòng, xây cất Chủng viện Chân Phúc Liêm thay thế cho Ba Ðông, bị kẹt trong vùng kháng chiến, đặt cha Gioakim Nguyễn Hữu Hoá (du học Manila hồi hương 1948) vào chức giám đốc. Cha bề trên giáo phận còn khởi công xây dựng trường Thầy giảng, mang tên Tu viện Nguyễn Duy Khang ở Quảng Yên, đồng thời cho hai linh mục trẻ du học Roma.

Ngày 24-1-1953, Cha Giuse Trương Cao Ðại, phó tu viện trưởng St Albert Rosaryhill Hồng Kông, nhận được sắc Toà Thánh phong giám mục, kế vị Ðức cha Gomez Lễ.

Cha Giuse sinh năm 1915, quê An Lập (Thái Bình), thụ phong linh mục tại Hồng Kông năm 1940. Sau đó cha sang Manila học và đậu tiến sĩ giáo luật. Ðại chiến còn tiếp diễn, cha ở lại Phi Luật Tân, chứng kiến những trận ác liệt. Tháng 12-1946, cha sửa soạn về nước tăng cường cho ban giáo sư Giáo hoàng Chủng viện Nam Ðịnh, thì nghe cuộc chiến Pháp Việt khai diễn và Giáo hoàng chủng viện giải tán, cha phải tạm lánh sang Hồng Kông, gia nhập ban giáo sư học viện Rosaryhill.

Ðức cha Trương Cao Ðại được tấn phong Giám mục hiệu toà Sila, tại thánh đường Chính toà Hồng Kông ngày lễ thánh Giuse 19-3-1953. Ðại lễ do Ðức Khâm sứ Doley chủ phong, hai Ðức cha Ngô Ðình Thục và Lê Hữu Từ phụ phong, với sự tham dự của nhiều Giám mục Việt Nam, đông đủ đại diện hàng giáo sĩ và giáo dân giáo phận Hải Phòng.

Ngày 21-3-1953, Ðức cha về Việt Nam nhận quyền. Cuộc đón rước long trọng vị Giám mục người Việt tiên khởi của giáo phận. Hai cha dòng Tây Ban Nha sang thêm giúp Hải Phòng năm 1954, nhưng rồi cũng chính năm ấy phải bỏ đi nơi khác.

Vừa nhận quyền Ðức cha bắt tay vào việc ngay, truyền chức cho nhiều tân linh mục, tuyển chọn 7 linh mục trẻ cho du học Hoa Kỳ, Canada và Pháp, lập hội đồng giáo phận, đặt cha Vũ Trọng Thư làm bề trên giáo phận, thay thế cha Giuse Chất qua đời ngày 9-8-1953, đặt cha Nguyễn Hữu Hoá làm thư ký Toà Giám mục, kiêm giám đốc chủng viện.

Ngày 10-1-1954 khánh thành Chủng viện Chân Phúc Liêm, Hải Phòng, rất long trọng, có mở đại hội văn hoá và diễn kịch, 4 ngày sau khánh thành trường Thầy giảng Quảng Yên, chuẩn bị cải tổ Nhà Phước để lập Hội Nữ Ðaminh...

Ðầu năm 1954, Giáo Phận Hải Phòng có những con số sau đây: Ðức cha Trương Cao Ðại ở Hải Phòng, cha chính Phêrô Vũ Trọng Thư ở Ðồng Giới, 90 linh mục giáo phận, 7 cha dòng, 16 đại chủng sinh, 61 giáo xứ, 525 nhà thờ lớn nhỏ, 135,000 giáo dân trên tổng số 1.5 triệu (9%).

Giữa lúc Ðức cha tận lực hoạt động và tính nhiều công việc mưu ích cho giáo phận, thì hiệp định Genève chia đôi đất nước, buộc Ðức cha lên đường với 65,000 giáo dân vào Nam, cùng 80 linh mục, toàn bộ chủng sinh, và dì phước. Trước khi ra đi, Ðức cha đặt Cha Giuse Hiệp, chính xứ Ðào Xá và Kẻ Bùi, làm Bề Trên giáo phận (trang 287-289).

Sau gần 1 năm tạm trú tại một căn nhà tại một căn nhà nhỏ ở Chợ Quán, Ðức cha đã đặt trụ sở ở Gia Ðịnh. Cha sở nhường cho Ðức cha một ngôi nhà trong khuôn viên giáo đường, Ðức cha xây cất thêm.

Tháng 9-1959 Ðức cha dọn đến chủng viện Ðạo Thạnh. Năm liền sau 1960, có chỉ thị của Giáo quyền "địa phương hoá" các chủng viện, Ðức cha dọn về tu viện Ðaminh ở Phú Nhuận, dạy học, viết sách. Ðức cha dự đủ các khoá Ðại Công đồng Vatican II (1962-1965). Sau khoá chót Công đồng, Ðức cha sang Tây Ban Nha chữa bệnh.

Ngày 29-4-1969, Ðức cha qua đời một cách đột ngột vì cơn đau tim, đang khi giảng trong thánh lễ người chủ sự phong chức một số tân linh mục tại Ðaminh Học Viện ở Madrid, thọ 56 tuổi, 29 năm linh mục, 16 năm giám mục (trang 432).

Lm. Nguyễn Trung Thành

Toà Giám Mục Hải Phòng

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page