Tổ chức các Giáo hội đau khổ tố giác:
220 triệu Kitô hữu trên thế giới
là nạn nhân của bách hại và bạo lực
Tổ chức các Giáo hội đau khổ tố giác: 220 triệu Kitô hữu trên thế giới là nạn nhân của bách hại và bạo lực.
Phúc Nhạc
Munich (RVA News 29-10-2026) - Hôm 27 tháng Mười năm 2026, Tổ chức bác ái Trợ giúp các Giáo hội đau khổ vừa công bố phúc trình năm 2014-2026 và tố giác tình trạng trên thế giới hiện nay có tới 220 triệu Kitô hữu bị bách hại.
Phúc trình mang tựa đề: "Bị bách hại và bị lãng quên?" cho thấy tại 55% các quốc gia được tổ chức này khảo sát, tình trạng áp bức các Kitô hữu đã gia tăng rõ rệt so với hai năm trước đó. Không một quốc gia nào trong số được phân tích ghi nhận sự cải thiện. Hiện nay, trên toàn thế giới, hơn 220 triệu người đang trực tiếp phải đối mặt với những hình thức bách hại tàn khốc nhất.
Bà Marta Petrosillo, Giám đốc ban soạn phúc trình của tổ chức này, gọi tắt ACS, nhận định: "Ðằng sau những con số kinh hoàng này là những khuôn mặt, những con người và những gia đình. Tôi đã nhiều lần phỏng vấn các Kitô hữu phải chịu bạo lực, phân biệt đối xử và cả bách hại. Một trong những điều đầu tiên họ thường mong muốn, đặc biệt khi nói với chúng tôi là những người anh chị em cùng đức tin, chính là đừng quên họ. Trong 20 năm công bố phúc trình, chúng tôi luôn nỗ lực tố cáo, phân tích tình hình, đồng thời giúp thế giới biết đến bi kịch của họ, để sự thờ ơ không trở thành một gánh nặng khác chồng chất lên sự bách hại."
Thảm họa cực đoan bạo lực tại châu Phi
Khi đối chiếu các phân tích của tổ chức với Chỉ số Khủng bố Toàn cầu năm 2026 (Global Terrorism Index 2026), một thực tế rõ ràng nổi lên: châu Phi hạ Sahara đã trở thành điểm nóng chính của bạo lực Hồi giáo cực đoan trên thế giới.
Sáu trong số mười quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi khủng bố toàn cầu nằm trong khu vực này, gồm Burkina Faso, Niger, Nigeria, Mali, Somalia và Cộng hòa Dân chủ Congo. Tại đây, bạo lực mang tính hủy diệt, hướng đến việc thanh lọc sắc tộc và tôn giáo. Ðặc biệt tại Nigeria, các cuộc tấn công ngày càng gia tăng do những tay súng và các nhóm chăn nuôi người Fulani bị cực đoan hóa thực hiện tại khu vực Trung Vành đai (Middle Belt) đã biến nhiều ngôi làng thành những nấm mồ tập thể, góp phần khiến hơn 3,5 triệu người phải di dời trong nước.
Báo cáo ghi nhận những hành động tàn bạo kinh hoàng, chẳng hạn vụ thảm sát tại thị trấn Yelewata, nơi hơn 200 Kitô hữu bị sát hại bằng mã tấu hoặc bị thiêu sống khi đang ngủ, chỉ trong một đêm.
Xa hơn về phía bắc, tại Burkina Faso, các nhóm thánh chiến có liên hệ với Al-Qaeda, chẳng hạn JNIM, hiện kiểm soát ít nhất 40% lãnh thổ quốc gia. Tại đây, các Kitô hữu bị hành quyết có hệ thống, như trường hợp 26 người đàn ông bị cắt cổ trong địa phận Giáo phận Nouna. Những người sống sót bị tuyệt đối cấm truyền đạt đức tin cho trẻ em. Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Mali. Theo báo cáo, một số cộng đồng Kitô hữu bị buộc phải tuân theo những quy định của Hồi giáo về trang phục và hành vi xã hội, trong khi những cộng đồng khác phải chịu cảnh giết chóc và cưỡng bức di dời.
Tại Mozambique, đặc biệt ở tỉnh Cabo Delgado, mục tiêu được tuyên bố của tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) là thành lập một vương quốc Hồi giáo (caliphate) được cai trị theo luật Sharia. Kể từ năm 2017, hơn 1,000 Kitô hữu đã bị sát hại. Các hành vi bạo lực bao gồm chặt đầu và bắt cóc có hệ thống phụ nữ cùng trẻ em.
Bạo lực tại châu Á
Tại châu Á, các hình thức bạo lực có sự thay đổi nhưng vẫn giữ nguyên mức độ tàn khốc, thể hiện qua sự kìm kẹp toàn trị của các chế độ cộng sản và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc tôn giáo cực đoan.
Tại Triều Tiên, nhà nước coi Kitô giáo là một ảnh hưởng có hại từ phương Tây và là mối đe dọa trực tiếp đối với chế độ. Vì thế, các tín hữu buộc phải thực hành đức tin trong tình trạng bí mật tuyệt đối, đến mức có người phải giấu Kinh Thánh ngay cả với người phối ngẫu của mình. Những ai bị phát hiện có thể phải chịu tra tấn, lao động khổ sai hoặc bị hành quyết. Ước tính, các Kitô hữu chiếm một tỷ lệ đáng kể trong khoảng 190,000 người bị giam giữ tại các trại tù chính trị.
Tại Trung Quốc, sự bách hại mang đặc điểm của quá trình "Hán hóa" cưỡng bức giáo lý. Ðây là quá trình đồng hóa văn hóa, trong đó các cộng đồng, dân tộc thiểu số hoặc tổ chức tôn giáo không thuộc văn hóa Hán bị thúc ép hoặc buộc phải thích nghi với văn hóa, ngôn ngữ, bản sắc và đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị của đa số người Trung Quốc.
Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường giám sát kỹ thuật số thông qua việc ban hành Bộ quy tắc ứng xử trực tuyến dành cho nhân sự tôn giáo vào tháng Chín năm 2025. Quy định này khiến mọi hoạt động phát trực tiếp hoặc nội dung tôn giáo chưa được nhà nước cho phép trở thành bất hợp pháp. Những người từ chối khuất phục, chẳng hạn thành viên các cộng đồng Giáo hội hoạt động bí mật, phải đối mặt với các cuộc bắt giữ hàng loạt, giam giữ và việc phá hủy các cơ sở thờ phượng. Tại Ấn Ðộ và Pakistan, mối đe dọa chính xuất phát từ sự thù địch xã hội được nuôi dưỡng bởi chủ nghĩa cực đoan tôn giáo mang tính dân tộc chủ nghĩa.
Ở Ấn Ðộ, luận điệu dân tộc chủ nghĩa Ấn giáo cực đoan Hindutva đã được sử dụng để biện minh cho hơn 700 vụ bạo lực chống Kitô hữu chỉ riêng trong năm 2025, với sự hậu thuẫn của những đạo luật nghiêm khắc cấp tiểu bang chống cải đạo. Những người cực đoan phá rối các buổi phụng vụ, hành hung tín hữu và thậm chí tước bỏ quyền an táng người đã khuất, buộc các gia đình Kitô hữu phải khai quật thi thể người thân.
Tại Pakistan, bạo lực thể hiện qua tình trạng bắt cóc, cưỡng bức cải đạo và ép kết hôn đối với các bé gái chưa thành niên thuộc những nhóm thiểu số tôn giáo. Những hành vi này thường được các tòa án chấp thuận, khi luật Hồi giáo Sharia được đặt cao hơn các quy định dân sự nhằm bảo vệ những nạn nhân.
Nỗi tuyệt vọng tại Trung Ðông và trường hợp Nicaragua
Trung Ðông, quê hương của Kitô giáo, tiếp tục phải đối mặt với mối đe dọa mang tính sống còn.
Tại Syria, sau khi chế độ Assad sụp đổ vào tháng Mười Hai năm 2024 và thủ lĩnh thánh chiến Ahmed Al-Sharaa thuộc tổ chức Hayat Tahrir al-Sham lên nắm quyền, cộng đồng Kitô hữu vốn đã suy giảm nghiêm trọng do làn sóng di cư lại phải đối mặt với một làn sóng khủng bố mới. Mặc dù chính quyền chuyển tiếp đưa ra những lời trấn an, quá trình Hồi giáo hóa ngày càng gia tăng trong không gian công cộng đã làm bùng phát trở lại bạo lực. Ðỉnh điểm là vụ đánh bom liều chết kinh hoàng ngày 22 tháng Sáu năm 2025 nhằm vào nhà thờ Mar Elias tại Damascus. Vụ tấn công, cũng bị Ðức Giáo hoàng Lêô XIV lên án, nhắm vào cộng đồng Chính thống giáo Hy Lạp tại khu phố Dweil'a, một khu vực có nhiều cộng đồng cùng sinh sống ở ngoại ô Damascus, khiến 25 người thiệt mạng và hơn 60 người bị thương.
Sau cùng, báo cáo hướng sự chú ý đến châu Mỹ Latinh, nơi Nicaragua nổi bật với tình trạng đàn áp mà các ủy ban quốc tế mô tả là "thảm khốc".
Chính phủ của ông Tổng thống Daniel Ortega đã có những hành động có hệ thống nhằm vào Giáo hội Công giáo, bao gồm tịch thu tài sản của các chủng viện, đóng cửa các cơ sở và trục xuất hàng trăm thành viên hàng giáo sĩ. Trong số những người bị trục xuất có Chủ tịch Hội đồng Giám mục Nicaragua, vào tháng Mười Một năm 2024. Chính quyền thậm chí còn cấm những người mang theo Kinh Thánh nhập cảnh vào đất nước.
Sự im lặng đồng lõa
Ðiều đáng lo ngại nhất mà báo cáo của tổ chức ACS nêu bật không chỉ là sự đa dạng và mức độ lan rộng của các hành vi bạo lực, mà còn là bức tường im lặng và thái độ thờ ơ, khi những thông tin này bị tiếp nhận một cách lạnh nhạt hoặc thậm chí bị phớt lờ tại phương Tây.
Như Ðức Tổng giám mục Ettore Balestrero, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại Liên Hiệp Quốc ở Genève, đã tố cáo: "Sự thù địch chống Kitô hữu quá thường xuyên bị xem nhẹ hoặc bị các phương tiện truyền thông quốc tế phớt lờ".
Khi một vụ tấn công tàn phá nhà thờ tại Nigeria hoặc Syria, các cơ quan ngoại giao phương Tây và những mạng lưới truyền thông lớn thường gần như tự động "thế tục hóa" cuộc tử đạo, chỉ thuật lại bạo lực qua lăng kính xung đột sắc tộc, tranh chấp nguồn nước và đất đai - chẳng hạn xung đột giữa nông dân và người chăn nuôi Fulani - hoặc những bất ổn địa chính trị sau khi một chế độ sụp đổ.
Yếu tố duy nhất mà cả nạn nhân lẫn những kẻ gây án đều xác định rõ ràng lại gần như bị gạt bỏ, dường như vì cảm giác ngượng ngùng: đó là đức tin vào Ðức Kitô và tính chất đặc thù của cuộc tử đạo vì tôn giáo. Cách tường thuật méo mó này khiến người ta không thể hiểu được rằng tại nhiều nơi trên thế giới, các Kitô hữu là những cộng đồng thiểu số nghèo khó, dễ bị tổn thương, không được bảo đảm các quyền và sự bảo vệ cần thiết.
Thế nhưng, đối với những người đang chịu đau khổ tại hiện trường, biết rằng mình không bị lãng quên chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất. Như chính Solomon Ako đã chia sẻ - người vẫn kiên vững trong đức tin dù bị xiềng xích, giữa bùn đất nơi giam cầm mình:
"Ðêm nào, khi những kẻ bắt cóc chúng tôi ngủ, chúng tôi đều cầu nguyện. Chúng tôi cầu nguyện vì biết rằng mình không đơn độc, rằng Thiên Chúa ở cùng chúng tôi và có những người sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Chính điều đó đã ban cho chúng tôi sức mạnh để kiên trì trong những ngày ấy, và cũng chính điều đó tiếp tục ban sức mạnh cho chúng tôi ngày hôm nay."
(Vatican News 27-10-2026)