Ngày 05 Tháng Tám
Cung Hiến Ðền Thờ Ðức Bà Cả
Ðền Thờ Ðức Bà Cả ở Rôma
Ðức Giáo Hoàng Sixtô III đã khởi công xây cất Ðền Thờ Ðức Bà Cả ngay sau khi khai mạc công đồng Êphêsô (431) để đáp ứng lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa của dân thành Rôma. Với sự rực rỡ của những khung kính màu, với sự cân đối của hai hàng cột bằng cẩm thạch, ngôi đền thờ đầu tiên dâng kính Ðức Maria thực là một bài thơ đầy ý nghĩa ca tụng chức vị Mẹ Thiên Chúa: từ thánh tích máng cỏ cho đến bức họa của Tortiri diễn tả cảnh Chúa ân thưởng, đội triều thiên cho Ðức Mẹ... Tất cả đã nói lên đặc ân duy nhất của Mẹ, đấng đã ban cho chúng ta "một Hài Nhi Thiên Chúa từ trước muôn đời". Và sau cùng, những khung kính màu đã trình bày những vẻ hào hùng của các tổ phụ, cuộc lưu đày và trở về miền đất hứa. Tất cả như vang vang lời kinh quen thuộc: Nữ Vương các Thánh Tổ Tông, Nữ Vương các Thánh Tiên Tri. Ðức Bà như tháp ngà báu vậy, Ðức Bà là Tòa Ðấng Khôn Ngoan, xin hãy nhận lời chúng tôi cầu nguyện.
I. Ðôi Dòng Lịch Sử
Hằng năm vào ngày 5 tháng 8 chúng ta cử hành thánh lễ cung hiến Cung Hiến Ðền Thờ Ðức Bà Cả một trong những Ðại Thánh Ðường ở Rôma. Vương Cung Thánh Ðường này được xây dựng để dâng kính Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Ðây là Ðền thờ kính Ðức Mẹ đầu tiên và lớn nhất được xây cất ở Tây Phương. Ðền thờ này cũng được coi là tột đỉnh lòng sùng kính của Dân Chúa, đặc biệt là dân chúng thành Rôma đối với Ðức Maria. Lòng sùng kính Ðức Maria là một trong những đặc điểm lòng đạo đức của dân chúng Rôma ngay từ lúc khởi đầu Kitô giáo. Người ta vẫn thường gọi đây là "Hang đá Belem ở Roma". Năm 1853, tại Rôma người ta đếm được có 1,421 những khánh nhỏ có để hình Ðức Mẹ. Ðến năm 1939 thì chỉ còn lại 530 khánh nhỏ ở rải rác khắp nơi trong thành phố Roma.
Thánh Ðường Ðức Maria được xây cất vào thế kỷ thứ 4 dưới thời Ðức Giáo Hoàng Libêriô. Truyện kể rằng chính Ðức Mẹ đã chọn nơi này để người ta xây ngôi thánh đường tôn kính Mẹ. Mẹ đã thân hiện ra với đôi vợ chồng sở hữu mảnh đất cũng như với Ðức Giáo Hoàng, bảo họ rằng khoảng đất trên ngọn đồi được bao phủ đầy tuyết kia chính là nơi Ðức Mẹ đã chọn. Sáng hôm sau, nhằm ngày mùng 5 tháng Tám, một thời điểm rất nóng trong năm ở Rôma, có một lớp tuyết bao phủ ngọn đồi Esquiline. Ðôi vợ chồng đã xin dâng phần đất cũng như tiền bạc cần thiết để xây ngôi thánh đường như là món quà dâng kính Ðức Mẹ.
Thoạt tiên, ngôi thánh đường này mang tên là Vương Cung Thánh Ðường Libêriô, theo tên của Ðức Giáo Hoàng Libêriô. Nó cũng được gọi là Thánh Ðường Ðức Mẹ Xuống Tuyết để nhắc nhớ sự kiện Ðức Mẹ đã chỉ cho biết mảnh đất dành cho việc xây cất. Sau đó, ngôi thánh đường được Ðức Thánh Cha Sixtô III cung hiến cho Ðức Maria sau khi Công đồng chung Êphêsô năm 431 tuyên bố tín điều Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Ngôi thánh đường chính là một nhắc nhở tuyệt đẹp về tình yêu và lòng tôn kính mà Giáo hội dành tặng cho Mẹ Thiên Chúa. Danh xưng "Cả" được thêm vào danh hiệu "Thánh Ðường Ðức Bà" bởi vì đây là ngôi thánh đường đầu tiên được xây cất ở Tây phương để tôn kính Ðức Mẹ.
Bên trong thánh đường có máng cỏ Bêlem nơi Ðức Maria đã đưa nôi Chúa Hài Nhi Giêsu. Ðiều này biểu lộ lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh, với hình Chúa Hài Nhi nhỏ bằng bạc đang nằm trong máng cỏ.
Giáo hội tôn kính Ðức Maria Mẹ Thiên Chúa với những ngôi đền và thánh đường rất đặc biệt để các Kitô hữu có thể đến viếng nhằm bày tỏ lòng yêu mến đối với Ðức Mẹ và cầu xin Người ban cho ơn lành. Hành hương đến một trong các đền thờ hay thánh đường này chính là một cảm nghiệm đức tin thú vị.(tinmung.net)
II. Lòng Sùng Kính Ðối Với Ðức Mẹ
* Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục vụ; Mẹ không ra mặt, chúng lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu: sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con. (ÐHV 926)
* Chúa Giêsu đang tiếp tục sống và hành động trong Hội Thánh, vì thế Mẹ Maria hiện diện trong Hội Thánh và trong con, Mẹ Hội Thánh và Mẹ con. (ÐHV 927)
Mỗi vị thánh đều có những, nét đặc thù hoàn toàn khác biệt nhau, "mỗi thánh mỗi thể" mà! Nhưng nếu ta nhìn kỹ, ta sẽ thấy tất cả các ngài cùng có một điểm chung: "Vị thánh nào cũng yêu mến đức Mẹ"
* Thánh Gioan Tông đồ thì kể từ giây phút Chúa trối dưới chân Thánh Giá, ngài đã đưa Ðức Mẹ về nhà mình và sống thảo hiếu với Mẹ.
* Thánh Bênađô nổi tiếng về lòng sùng kính Mẹ Maria. Người ta nói cạnh ngài đã đặt ra kinh "Hãy nhớ" (Lạy Thánh Nữ đồng trinh Maria...). Những câu cuối cùng trong kinh "Lạy Nữ Vương" cũng do ngài thêm vào vì lòng quá mến yêu Ðức Mẹ: "Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh!"
* Thánh Anphongsô đã nhiệt thành rao truyền lòng thành kính Ðức Mẹ hằng cứu giúp và soạn một tác phẩm gồm hai cuốn nhan đề là "Vinh quang của Ðức Mẹ" để cổ võ mọi người yêu mến Ðức Mẹ.
* Thánh Ðaminh lãnh nhận sứ mệnh phổ biến việc lần hạt Mân côi như là một phương thế hiệu nghiệm để cứu rỗi bản thân và thế giới.
Ngoài ra còn không biết bao nhiêu là vị thánh đã chép sách, đã cổ võ lòng sùng kính Ðức Mẹ cách này hoặc cách khác; đã được Mẹ hiện ra; đã lập các dòng tu nam nữ với tước hiệu của Mẹ...
Các Ðức Giáo hoàng cũng luôn luôn nhắc nhở toàn thể Hội thánh phải yêu mến, cậy trông và bắt chước gương Mẹ. Như Ðức Piô V, Ðức Grêgôriô XIII, Ðức Clêmentê XI, Ðức Bênêđictô XIV, đức Lêô XIII đều xác nhận: nhờ ơn Ðức Mẹ mà Hội thánh thoát khỏi nhiều cơn gian nan nguy hiểm không thể tưởng tượng được. Các ngài cũng thúc giục giáo dân lần hạt Mân côi, chạy đến cùng Mẹ trong hết mọi dịp.
Gần ta hơn, Ðức Piô IX đã công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm ngày 8-12-1854. Ðức Lêô XIII lập tháng Mân côi (tháng 10) trong toàn thể Hội Thánh. Ðức Piô XI dạy xây một hang đá Lộ Ðức trong vườn Vatican và mỗi chiều ngài đều xuống dạo vườn đến trước hang kính viếng Ðức Mẹ. Ðức Piô XII thì do một sự quan phòng đặc biệt đã thụ phong Giám mục vào chính ngày Ðức Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima (13-5-1917). Ngài đã tuyên bố Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngày 1-11-1950. Chính chiều hôm ấy, ngài được xem thấy phép lạ mặt trời xoay vần ngay trên khung trời Vatican y hệt như ở Fatima. Ngài đã dâng loài người cho Trái Tim Mẹ và công bố Năm Thánh kính Ðức Mẹ (1945).
Ðức Gioan XXIII thì có ra một Thông điệp về việc sùng kính Ðức Mẹ (29-9-1961). Ngài đã đi đến tận Loretto, nơi tục truyền có nhà của Ðức Mẹ để cầu nguyện và phó dâng Công đồng Vatican II Cho Ðức Mẹ.
Ðức Phaolô VI đã đích thân sang chủ tọa lễ kỷ niệm 50 năm Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima (1917-1967), gặp chị Lucia. Ngài cũng đã ban hành một Tông huấn nói về việc sùng kính Ðức Mẹ (Manalis cultu), đặc biệt nhấn mạnh về kinh Truyền Tin, chuỗi Mân Côi và Kinh Cầu Ðức Mẹ.
Trong Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, Ðức Phaolô VI và cùng các Nghị Phụ công bố Ðức Mẹ là "Mẹ Hội Thánh" vào ngày lễ Ðức Mẹ dâng mình vào Ðền Thánh 21-11-1964. Ngài cũng đã chọn ngày lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8-12-1965) để bế mạc Công đồng Vatican II.
Ðức Gioan Phaolô II là một "Tâm hồn Thánh Mẫu".
Nhìn lên huy hiệu của ngài, ta thấy trên nền xanh, chỉ có một Thánh Giá và một chữ M(Maria) màu vàng núp ẩn dưới cánh thập tự thực là đơn sơ và giàu ý nghĩa! Khẩu hiệu của ngài càng vắn tắt, thâm thúy và bộc lộ rõ ràng hơn nữa tâm hồn Thánh Mẫu: "Totus Tuus". một khẩu hiệu rất khó mà diễn tả hết mọi ý nghĩa: "Tận hiến cho Mẹ, toàn thân thuộc về Mẹ, tất cả đều là của Mẹ..."