Nhân Thần Hội Ngộ

Quan Ðiểm Thần Học của Karl Rahner

Nguyên bản tiếng Hoa của Linh Mục Giuse Vũ Kim Chính, SJ

Giuse Nguyễn Phước Bảo Ân, SJ chuyển dịch Việt ngữ từ bản tiếng Hoa

 


Chương 1

Tiểu Sử Và Thân Thế

của Karl Rahner

 

Tiểu Dẫn

Ðể hiểu hơn về Karl Rahner, cuốn sách sẽ bắt đầu với việc giới thiệu đôi nét về tiểu sử và thân thế của ngài. Mặc dù những chủ đề trong cuốn sách này chỉ xoay quanh những tư tưởng trọng yếu nhất của Karl Rahner, nhưng không vì thế mà chúng ta sẽ trình bày cách chung chung và sơ sài về toàn bộ tư tưởng của ngài.

Thật ra, đã có nhiều thần học gia khi nghiên cứu toàn bộ tư tưởng của Rahner đã muốn hệ thống chúng lại. Nhưng sau đó, họ phát hiện ra rằng hệ thống mà họ đưa ra không tài nào bao hàm hết mọi góc cạnh tư tưởng của Rahner, mà chỉ phản ánh một phần nào đó mà thôi, tuy vậy những cố gắng như thế cũng coi như là đã thành công rồi. (Xem thêm: R. Kress, A Rahner Handbook, [Alanta: John Knox Press, 1982], ch.5, pp.86 ff.; H. Vorgrimler, Karl Rahner: Leben, Denken, Werke, [Muenchen: Mainz, 1963], p.83).

Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng tư tưởng của Rahner quả thật đã tác động mạnh lên hướng suy tư của nhiều thần học gia và triết gia, chí ít là trong phương pháp suy tư và cách làm thần học của ngài, song cũng không đến mức đóng khung các hệ thống của họ lại. Rahner tự nhận rằng ngài đã dành trí lực một đời để suy tư thần học, nhưng không theo hướng đi của các hệ thống trước đó, mà bắt đầu từ những yếu tố hiện thực và đa nguyên trong cuộc sống này.

Như chính ngài đã phát biểu khi được Peter Pawlousky phỏng vấn năm 1980 rằng:

"Tôi thường tìm kiếm từ những nhu cầu trong việc mục vụ và giảng dạy các chất liệu để làm thần học. Vâng, tôi không phải là nhà khoa học, mà cũng không mong được như vậy, nhưng chỉ muốn làm một Kitô hữu. Tôi hết lòng suy tư về Kitô giáo, đồng thời cũng mở to mắt nhìn đời sống thế giới hôm nay để nhận hiểu, suy tư và phản tỉnh về những chất liệu mà nó mang tới. Từ trong thế giới hôm nay này, tôi phát hiện ra những vấn đề khác nhau, một hai vấn đề hay hai mươi vấn đề... Nếu quý vị cho lối nhìn đó là thần học, thì cứ gọi nó là thần học vậy." (P. Imhof & H. Biallowons (eds.), Karl Rahner im Gespraech, Bd II: 1978-82, Muenchen: Koesel, 1983), pp.150ff).

Như thế có thể thấy rằng, những phản tỉnh thần học của Rahner không phải là một loại phương pháp suy tư, nhưng được xây trên những "vấn đề của cuộc sống". Chính lối nhìn về thần học này lại ảnh hưởng rất lớn trên các thần học gia đương đại. Bằng chứng là, vào năm 1978, một bảng câu hỏi điều tra về thứ hạng của các nhà thần học đã được gởi tới 71 thần học gia vùng Bắc Mỹ, và kết quả là Rahner đứng thứ 3, sau thánh Tôma Aquinô (1225 - 1274) và Paul Tillich (1886 - 1965); nhưng xếp trên thánh Augustinô (354 - 430) và Martin Luther (1483 - 1546).

Mục đích của cuốn sách này là nỗ lực tập trung hầu hiểu rõ hơn một chủ đề lớn trong tư tưởng của Rahner là làm sao để con người và Thiên Chúa hội ngộ. Chủ đề này rõ ràng không thuộc lĩnh vực thần học thuần túy, nhưng có phần nghiêng về phạm trù nghiên cứu của tôn giáo học. Quả thực, hai lĩnh vực khoa học này khó lòng mà phân ra cách rạch ròi, nhất là trong tư tưởng của Rahner, bởi ngài thường tự do qua lại giữa hai lãnh vực này. Chúng tôi chỉ có thể nói rằng, phương pháp nghiên cứu và chủ đề được chọn lựa trong cuốn sách này không nhằm cung cấp cho các giáo sư thần học một lối nẻo nhằm khẳng định đức tin của họ, nhưng là một con đường hiểu biết, bắt đầu từ triết học qua tôn giáo, đến tiếp cận quan điểm thần học Kitô giáo, rồi từ góc nhìn ấy lại tìm cách tiếp xúc và đối thoại với các tôn giáo khác. Do đó, phần tiểu sử của Rahner sau đây cũng nhắm vào những bối cảnh cụ thể hầu làm rõ hơn tư tưởng của ngài về những chủ đề đã nêu. Chúng được tóm lại trong 7 điểm sau:

1. Chàng thanh niên của vùng Schwarzwald

Karl Rahner sinh ngày 5 tháng 3 năm 1904 tại Freiburg thuộc Breisgau. Ngài là con thứ tư trong gia đình bảy người con. Gia đình Rahner không thích lối sống bảo thủ và hạn hẹp, do đó ngài được sống trong bầu khí tự do và bao dung. Rahner có ghi lại một kỷ niệm hồi nhỏ như sau: "Mỗi lần đi chơi ban tối, tôi có thể cầm theo chìa khóa cổng lớn mà chẳng có ai tra hỏi tôi, cũng như chẳng có ai buộc tôi mấy giờ phải về nhà cả."

Thời trung học, Rahner luôn là một học sinh xuất sắc. Ngài luôn luôn ham thích tìm kiếm tri thức với một thái độ nhiệt thành và nghiêm túc. Ðiều đó đã để lại ấn tượng khó phai trong lòng các đồng bạn của ngài. H. Prufer, bạn học của ngài đã viết: "Rahner tuy là một cậu bé lém lỉnh và có phần khinh khỉnh, nhưng trong đầu của cậu lại đầy ắp những suy nghĩ kỳ lạ vô song."

Rahner chịu ảnh hưởng rất sâu đậm từ mẹ của ngài, ngài viết: "Mẹ tôi là một con người rất giàu tình cảm, ít biểu lộ niềm vui nhưng dễ lo lắng. Bà luôn bảo vệ lương tâm ngay thẳng đến độ làm người khác phải kinh ngạc. Trong cuộc sống, bà là một người coi trọng nghĩa vụ đến độ chỉ tập trung toàn tâm vào nghĩa vụ mà quên hết mọi chuyện khác."

Người mẹ coi trọng nghĩa vụ trong cuộc đời mình như thế đã ảnh hưởng đến Rahner không ít. Khi được hỏi: "Làm sao ngài có thể gánh lấy một lượng công việc lớn đến kinh người như thế?", Rahner đã trả lời rằng: "Tôi vốn là một người thích thong dong, nhưng có một câu thần chú mà tôi luôn dùng để tự thuyết phục mình rằng, hãy đón nhận những nghĩa vụ được giao."7 Cũng có lúc lương tâm ngài bồn chồn bất an, trạng thái này có căn nguyên từ chính vùng Schwarzwald, như Herbert Vorgrimler (1929 - 2014) đã nói:

"Rahner cũng là một người con của vùng Schwarzwald, nơi người dân tự nhận mình là bảo thủ, hướng nội, và lao động cần mẫn như trâu ngựa vậy; nhưng cũng lại rất thích trầm tư mặc tưởng, không phải là để trốn đời vui với suy tưởng, nhưng chỉ là một thái độ thích trầm ngâm sâu lắng."

Mặt khác, lúc nhỏ, Rahner và các bạn đồng trang lứa rất yêu thích thiên nhiên. Ngài cùng các bạn tham gia các hoạt động leo núi dã ngoại của lớp giáo lý Qwick Born. Nhưng sau này vì quá bận rộn nên ngài chẳng còn cách nào tiếp tục phát huy lòng yêu mến thiên nhiên này nữa. (Karl Rahner, Erinnerungen, p.33, 66.)

2. Karl Rahner của Dòng Tên (SJ)

Năm 1922, sau khi tốt nghiệp Trung học được 3 tuần, Rahner nhất quyết gia nhập Dòng Tên. Ba năm trước, anh trai Hugo Rahner (1900 - 1968) cũng đã vào Dòng Tên. Nhưng với Karl Rahner, quyết định của ngài không bị ảnh hưởng bởi người anh Hugo này. Tuy vậy, Rahner không ngại nói rằng, tấm gương đi trước của người anh cũng tác động phần nào và gia tăng thêm lòng quyết tâm chọn Dòng Tên của ngài về sau. Sau khi tuyên khấn, Karl Rahner lại tiếp tục con đường học thuật của mình, và trên con đường ấy cũng không thiếu sự trợ giúp cũng như cộng tác của người anh trai.

Sau khi vào Dòng Tên, linh đạo thánh I-nhã và nền huấn luyện của Dòng đã dẫn Karl Rahner vào những kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa, tuy âm thầm nhưng rất mạnh mẽ đến độ đã làm thay đổi đời sống, suy nghĩ và hướng phát triển trong tương lai của ngài. Ðể rồi khi được Leo O'Donovan phỏng vấn năm 1978, chính ngài đã thừa nhận rằng: "Ðiều ảnh hưởng lớn nhất trên đời tôi không phải triết học hay thần học, mà chính là linh đạo thánh I-nhã".

Thật thế, trong cách huấn luyện của Dòng Tên, mỗi tu sĩ đều phải trải qua rất nhiều giai đoạn đào luyện khác nhau, nên Rahner đã nói: "Chẳng có cá nhân tu sĩ nào ảnh hưởng trên tôi thật sâu, chỉ vì qua mỗi giai đoạn huấn luyện, lại có rất nhiều anh em khác nhau trong Dòng hướng dẫn tôi". Quả thật, nền huấn luyện và đời sống Giêsu hữu luôn đầy những khoảnh khắc có sức ảnh hưởng đến cuộc sống, như: một tháng đại Linh thao, mỗi năm lại có 8 ngày Linh thao năm, mỗi ngày đều có giờ cầu nguyện riêng và làm phút hồi tâm. Trong những khoảng lặng ấy, Rahner đã cảm nhận được những đặc tính trọng yếu của Dòng Tên, thứ có sức ảnh hưởng lớn hơn cả các triết gia hay thần học gia. (Karl Rahner im Gesprach, II, p.51.)

Nơi linh đạo thánh I-nhã, Rahner đã xây dựng và phát triển nền thần học lấy con người làm trọng tâm. Bởi cha kinh nghiệm rằng trong mỗi hữu thể đều tồn tại năng lực tìm kiếm Thiên Chúa. Do đó, ngài khẳng định con người là tinh thần trong thế giới, mọi người đều do Thiên Chúa tạo dựng, lại được phú ban cho một thứ căn bản của sự sống: tìm kiếm vinh quang của Thiên Chúa và nhờ đó mà được cứu độ.

Chính nền linh đạo này đã đẩy thần học của Rahner phát triển sang một hướng khác. Theo cha, con người hiện hữu và sống trong một thế giới tràn đầy ân sủng, do đó, mỗi sự vật dù là nhỏ nhất trong ngày sống đều có sự hiện hữu của Thiên Chúa trong nó. Cho nên, đâu phải chỉ khi con người làm việc chọn lựa mới là thời khắc quan trọng nhất, mà trọn cả cuộc sống này đều mang trong nó ý nghĩa trọn vẹn và sâu xa.

Tóm lại, với Karl Rahner, đã là con người thì đều đang sống trong ân sủng, đều đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Ngài còn giải thích thêm, ngay khi hiểu ra được một sự kiện thì cũng là lúc chúng ta tiến một bước trên con đường tìm kiếm: tại sao chúng ta sống? tại sao chúng ta suy nghĩ? cuối cùng chúng ta là ai? Những cấp độ không ngừng xuất hiện kia cũng chính là một tầm mức sứ mạng mới của con người hiện đại.

Nhấn mạnh sự cụ thể đồng thời coi trọng sự mở ra, quả là đường hướng mà Rahner đã khẳng định ngay từ thời học triết. Trong cuốn sách viết cùng anh Hugo dày 374 trang để mừng 50 năm đại thọ của thân phụ mình, Karl Rahner, lúc đó được 23 tuổi xanh và đang học triết, có viết như sau:

"Tôi muốn nói rõ một điều cuối cùng là: các nhà siêu hình thâm nhập vào lịch sử, họ không những coi lịch sử là đối tượng cho việc nghiên cứu tri thức, mà còn tra vấn, tìm kiếm sự dạy bảo và hướng dẫn của lịch sử# Chính nhờ thế mà các nhà siêu hình mới kinh nghiệm được sự giới hạn của họ, và rồi cậy dựa vào chân lý được hiển tỏ trong lịch sử, bởi vì cuộc sống của họ được tình yêu dẫn đến chân lý vĩnh hằng, nên họ luôn mang trong mình một nỗi khát khao vô điều kiện. Nhưng vì đang trôi trong tiến trình của lịch sử, nên dường như chẳng có cách gì lấp đầy cho họ được." (Walter Kern, "Erste philosophische Studien", trong K. Rahner, Bilder eines Lebens, aaO., p.19.).

Tư tưởng trên của Rahner vào thời điểm ấy được coi là một sự phi lý. Vì Công giáo lúc ấy đang phản đối lại tư tưởng đa nguyên hóa của hai phong trào lớn và ảnh hưởng khắp nơi là Phục Hưng và Khai Sáng. Công giáo đã chỉ trích mạnh mẽ những "phê bình Kitô giáo" của những phong trào này. Song dần dà, với những phê bình của Immanuel Kant về triết học Kinh viện, Giáo hội cũng từ từ thay đổi bằng việc đón nhận những phê bình ấy cách tích cực hơn. Nhưng chúng ta cũng thừa biết, lối suy tư đa nguyên kia khó lòng mà được công nhận. Sau đó, người thầy của Rahner vẫn tiếp tục phê phán Giáo hội dựa trên lập trường của Kant và Hegel, còn Rahner trong suốt hai ba chục năm ấy, cứ kiên trì tiếp cận, học hỏi, nhận hiểu và đối thoại với cả hai bên. (Karl Rahner, Erinnerungen, p.37 f.)

Vào năm 1982, khi được J. van den Eijnden phỏng vấn, Rahner nhớ lại: "Tôi đang học năm thứ 3 triết học ở học viện Pullach, và đang rất chuyên tâm đọc kỹ càng cuốn "Xuất phát điểm của siêu hình học" của Joseph Maréchal (1878 - 1944)". Như chính Rahner thừa nhận, phương pháp của Maréchal đã giúp ngài lần đầu tiên tiếp cận nét đặc sắc của tư tưởng thánh Tôma Aquinô, hơn nữa ngài còn đọc kỹ càng và ghi chép lại cẩn thận.

Sở dĩ Rahner có thể nghiên cứu triết học sâu xa là nhờ trong thời gian học ở học viện Dòng Tên Pullach, ngài đã may mắn tiếp cận được phong cách học tập tự do và sự cởi mở của một số vị giáo sư. Vào dịp học viện mừng 50 năm, Rahner đã kể lại: "Hồi đó, ở học viện này có những vị giáo sư rất hay, như Bernhard Jansen chẳng hạn, họ đã gieo vào người trẻ chúng tôi tinh thần cởi mở bằng việc khuyến khích chúng tôi nghiên cứu các nhà triết học lớn như Kant, Martin Heidegger (1889 - 1976), Georg W. F. Hegel (1770 - 1831)". Nhờ vào những hướng dẫn đó, Rahner đã tận tâm tận lực đào sâu học tập trường phái triết học tân Kinh viện, để về sau không ngần ngại ứng dụng chúng vào thần học. (W. Kern, "Erste philosophische Studien", trong K. Rahner, Bilder eines Lebens, aaO., p.21. H. Vorgrimler, Karl Rahner: Leben, Denken, Werke, p.18.)

Tới đây ta thấy được tính liên tục thông suốt giữa triết học và thần học, tuy nhiên chúng ta sẽ còn bàn luận chi tiết hơn trong các chương "Phương pháp nhân học siêu nghiệm của Karl Rahner" và "Tương quan giữa triết học Heidegger và thần học Rahner" ở phần sau cuốn sách.

3. Karl Rahner: nghiên cứu sinh tiến sĩ triết học tại Ðại học Freiburg

Thời còn học triết học cơ bản, Rahner không những được bạn bè công nhận là học sinh ưu tú, mà các bề trên trong Dòng cũng quyết định mau mắn rằng Rahner sau này sẽ trở thành giáo sư triết học của Học viện Pullach. Cho nên, sau khi lãnh tác vụ Linh mục và làm năm tập ba16, cha đã học tiến sĩ triết tại một trường đại học nói tiếng Ðức.

Vấn đề đặt ra là tại sao ngài lại chọn trường Freiburg? J. B. Lotz, bạn học của Rahner và cũng là người được bề trên chọn làm giáo sư triết siêu hình tương lai, đã nói rõ là do "Heidegger đã dụ dỗ chúng tôi". Karl Rahner cũng nói: "Chúng tôi (cả Lotz) hy vọng có thể học được điều gì đó từ vị đại triết gia này". (Karl Rahner, Erinnerungen, p.42. J.B. Lotz, "Freiburger Studienjahre", trong K. Rahner, Bilder eines Lebens, p.26.).

Vì hạn định chỉ có 2 năm học tiến sĩ, nên kế hoạch là một năm sẽ học tại Freiburg, một năm sẽ học tại Berlin với N. Hartmann. Nhưng vừa tham dự khóa học tại Freiburg không lâu thì kế hoạch học tại Berlin bị trục trặc, nên cả 2 năm đều phải học ở Freiburg.

Nhưng tại sao hai ngài lại chọn Martin Honecker làm giáo sư hướng dẫn thay vì Heidegger? Rahner thuật lại, năm 1934 họ đến Freiburg học. Lúc ấy chủ nghĩa Phát-xít bắt đầu phát triển, mà Heidegger lại có một số tương quan với chủ nghĩa này. Ðối mặt với hoàn cảnh ấy, hai vị tân linh mục bèn bàn với nhau chọn một vị giáo sư hướng dẫn là người Công giáo, là Honecker. Nhưng sau này hai ngài cũng theo học với Heidegger và còn cộng tác nghiên cứu với Heidegger nữa. Chính sự thay đổi trong học tập này lại dẫn đến tấn thảm kịch cho Rahner, vì luận văn tiến sĩ của ngài lại được Martin Honecker hướng dẫn.

Ðây là sự kiện có tính then chốt trong việc Rahner sau này chuyển sang nghiên cứu thần học. Cho nên, chúng ta sẽ dừng lại để bàn thêm về vấn đề này, theo lời kể của hai nhân vật sau.

Thứ nhất, theo Lotz, luận văn tiến sĩ của Rahner trên nguyên tắc đã được Honecker tiếp nhận, nhưng Honecker yêu cầu Rahner cứ theo cách diễn đạt của thánh Tôma mà giải thích. Từ đó, phong cách của Rahner và yêu cầu của vị giáo sư già này đã có sự xung đột rồi. Bởi cách hiểu về hướng đi lịch sử của họ hoàn toàn tương phản nhau: vị giáo sư già thì hoàn toàn dựa vào ý nghĩa mà lịch sử mang lại để giải thích, còn Rahner thì cho rằng lịch sử phải mở ra để cho người đời sau nhận ra được những khả thể tính của lịch sử. Rốt cuộc, Honecker đã nói rõ là không nhận hướng dẫn một luận văn không tuân thủ tinh thần như thế. Trước yêu cầu đó, Rahner cũng quyết liệt phản ứng: làm như thể chỉ có mỗi mình vị giáo sư đó mới có tinh thần vậy.

Thứ hai, theo Max Muller - là trợ giảng của Honecker - thì Rahner và Lotz là bạn thân của nhau. Họ thường gặp nhau bàn luận ở ký túc xá của đại học. Muller kể: "Tại Corolus chỗ Rahner ở, bốn người bạn cùng lớp chúng tôi thường nghiên cứu Philebos của Plato".

Liên quan đến luận văn, Muller nói chủ yếu là do nhận xét của Heidegger về quan điểm của Rahner. Trước nhất, nói Honecker không phải là "triết gia", mà cũng chẳng phải là khoa học gia lẫn học giả, vì thế làm sao Honecker có thể hướng dẫn viết và chấm điểm cho luận văn của Rahner được. Cho nên, Heidegger yêu cầu Rahner đưa luận văn cho một vị giáo sư khác kiểm tra để đưa ra ý kiến tán đồng hay phản đối. Hiển nhiên là, luận văn của Lotz và Muller, tuy ban đầu không được Honecker hoàn toàn tán đồng, nhưng sau này nhờ được Heidegger nhúng tay vào chỉ đạo mà qua cầu thuận lợi.

Riêng với luận văn của Rahner, lý do mà Honecker phản đối khá rõ ràng, bởi vì nó quá lạm dụng phương pháp của Heidegger để giải thích thánh Tôma. Bất thường ở chỗ, Heidegger cũng chẳng hề can thiệp vào. Muller thắc mắc tại sao Heidegger lại có thái độ dửng dưng như thế. Rồi tự nghĩ rằng, cách giải thích của Rahner về thánh Tôma, đối với Heidegger lúc bấy giờ, là một lập trường rất mới, bởi vì Heidegger cho rằng siêu hình của thánh Tôma đích thị là thuộc về một lịch sử mà nơi đó hữu thể bị lãng quên (tuy nhiên những chuyển biến về sau đã làm cho Heidegger có quan điểm vượt khác đi với lối nhìn lúc này về "hữu thể và thời gian"). Vậy là, luận văn của Rahner bị cho là quá đột phá, Heidegger thì không thừa nhận nó và Honecker thì chưa từng hướng dẫn Rahner viết theo cách ấy. Thế nên, Muller kết luận: Rahner ngay từ đầu đã không là học trò của Heidegger, thậm chí tác phẩm đầu đời "Tinh thần trong thế giới" của Rahner cũng không đến từ Heidegger. Tuy nhiên, Muller cũng thừa nhận cách thức suy tư của Heidegger có sức ảnh hưởng trên Rahner nhiều nhất. (Xem: J.B. Lotz, "Freiburger Studienjahre"; Max Muller, "Zu Karl Rahners 'Geist in Welt'").

Tới đây, chúng tôi đã mô tả lại bước ngoặt trong đường hướng phát triển của Rahner, nhưng mối quan hệ giữa Rahner và Heidegger chỉ dừng lại ở việc viết luận văn thôi sao? Hay chỉ là mối tương quan giữa thầy và trò? Hay những vấn đề ấy lại làm phát sinh một mối liên hệ sâu xa hơn, như vấn đề tương quan giữa thần học và triết học? Chúng tôi sẽ dần bàn tới rõ hơn trong cuốn sách này.

4. Karl Rahner: thần học gia về nhân học

Sau tấn bi kịch luận văn tiến sĩ triết học, Rahner bèn quay về Innsbruck để bắt tay vào viết luận văn tiến sĩ thần học. Ðây là bước chuẩn bị cho đường hướng hoạt động mới, mà cũng là bước quyết định cho toàn bộ đời sống của ngài sau này.

Thật vậy, nếu quan sát cách làm thần học của Rahner, chúng ta sẽ thấy khác với việc toàn tâm dạy triết học của người đồng bạn Lotz, và cũng khác với cách làm thần học của những thần học gia thời trước Công đồng Vatican II, vốn quen với lối suy tư thuần túy thần học. Như Metz (1928 - ) - học sinh của Rahner - đã nói, Rahner đã đem góc nhìn nhân học để làm thần học. Metz nói rõ thêm: ứng dụng nhân học vào thần học không phải là đem nhân học đứng đồng hàng hoặc đối lập với thần học, song ngược lại, là cho thấy sự kết hợp mật thiết giữa thần học và nhân học, hay nói cách khác, là thần học của việc nhấn mạnh đến con người.

Ðường lối suy tư này thật khó phân tách rõ đâu là lĩnh vực của thần học, đâu là lãnh địa của triết học, bởi chúng đều được bao hàm trong một bối cảnh lịch sử của thời đại mới, nơi mà con người trở thành trung tâm và xuất phát điểm của mọi suy tư; chứ không như trước đây vũ trụ mới là trung tâm và xuất phát điểm, và do đó, con người chỉ là một bộ phận của vũ trụ ấy mà thôi. Lối suy tư này bắt nguồn từ việc phản tỉnh của con người về chính bản ngã của mình, từ việc quan tâm đến người khác, từ việc hiểu biết vạn vật được tạo thành, và cuối cùng là đặt mình đối diện với Ðấng Tuyệt Ðối. Cuốn "Tinh thần trong thế giới" đã nói rõ đường hướng phát triển này. (Cuốn sách này thật ra là luận văn tiến sĩ triết học của Rahner, nhưng mãi đến khi mừng 60 năm đại thọ của Rahner, cuốn sách mới được xuất bản với hai tập kèm bút tích chính xác. - J. B. Metz, u. a. (eds.), Gott in Welt: Festgabe fur Karl Rahner, Freiburg: Herder, 1964), p.8f.).

Metz tóm ý rằng: Tin mừng Ngôi Lời Nhập Thể là xuất phát điểm cho Rahner suy tư, và rồi tiếp tục trở thành trung tâm điểm trong tư tưởng của Rahner. Nói cách khác, con người là nơi mà Thiên Chúa tiếp nhận thế giới và lịch sử như thể là sứ mạng của Ngài.

Năm 1965, trong phòng hội của Dom Patrick Granfield, Rahner được hỏi: "Ngài có đồng ý khi mọi người nói phương pháp thần học của ngài là "lấy con người làm trung tâm" không?" Cha gật đầu tán đồng và giải thích thêm: "Xuất phát điểm và phương pháp thần học này không hề đối lập với việc lấy Thiên Chúa làm trung tâm. Lý do đơn giản là vì chúng ta chẳng có cách gì hiểu thấu Thiên Chúa là ai, trừ phi chúng ta bắt đầu với chính con người mình, với siêu vượt tính của nó để làm một mối kết nối với Thiên Chúa". (Xem: Karl Rahner im Gesprach, I, p.39.)

Do đó, những điều kiện siêu nghiệm mà Kant đã chỉ ra vốn nằm trong trạng thái tĩnh, rồi qua cách hiểu, phê phán và bổ sung của Maréchal, những điều kiện siêu nghiệm kia đã lột xác biến thành một công cụ linh hoạt, luôn trong trạng thái phát huy thêm. Trên nền cách hiểu này, Rahner lại đưa nó vào một cuộc đối thoại đầy sáng tạo giữa một bên là những nét tinh hoa nhất của tư tưởng truyền thống và một bên là những nhu cầu của con người thời đại. Như thế, lối suy tư và nỗ lực "lấy con người làm trung tâm" cũng có thể hiểu như Hugo Rahner đã phát biểu: "'Thiên Chúa trong thế giới', thật ra thì bất kể là tinh thần trong thế giới hay lắng nghe Lời, nhưng còn mở rộng ra trong đời sống thường nhật, con người đều tiếp cận được Thiên Chúa". (Hugo Rahner, "Eucharisticon fraternitatis", xem chú thích 19, p.898.).

Thật trùng khớp là, nỗ lực thần học của Karl Rahner tuy không hẹn mà lại có một mối quan hệ mật thiết với nền thần học mới của khối Pháp văn. Nói đúng hơn, tuy nền thần học của hai khối ngôn ngữ khác nhau này đầu tiên là tự phát triển cách làm thần học của riêng họ, nhưng sau họ lại nhận ra nhau như những người bạn tri tâm trong suy tư thần học, bởi họ cùng có một mối quan tâm vừa rất chung vừa rất cơ bản là quay về với kinh nghiệm thần bí của Giáo hội thời sơ khai.

Như mọi người đều biết, khi còn học thần học ở Valkenburg - Hà Lan (1929 - 1933), Rahner thường tận dụng thời gian nghỉ giữa các môn để đọc thêm Giáo phụ, đặc biệt là các Giáo phụ Hy Lạp. Có thể là ngài chịu ảnh hưởng của các cha anh, là những chuyên gia nghiên cứu Giáo phụ. Nhưng dù sao thì ngài cũng được các bạn phong tặng cho biệt danh là "chú ong mật" của "đàn Giáo phụ" (vì khi đó có một nhóm các thầy Dòng Tên đang học thần học vô cùng nhiệt thành với các Giáo phụ, vừa ca ngợi vừa nỗ lực nghiên cứu về các Giáo phụ. [Xem: H. Bacht, "Theologie in Valkenburg", trong K. Rahner: Bilder eines Lebens, aaO., p.22f; hoặc: K. H. Neufeld, "Unter Bruder", trong Wagnis Theologie, p.345.])

Dù sao đi nữa, như K. Neufeld - học sinh của Karl Rahner - khẳng định, Rahner trong năm thứ nhất thần học, dường như đã đọc hết những tài liệu về các Giáo phụ hàng đầu của thế kỷ thứ II, và còn đọc luôn cả John Chrysostom (344 - 407), Gregory thành Nyssa (335 - 394), và thánh Augustinô nữa. Theo ghi chép của người anh Hugo, Karl Rahner rất tận tâm nghiên cứu Giáo phụ, đồng thời cũng bắt đầu tiếp xúc với nền thần học mới của Pháp quốc. Thực tế, những điều này đã được Rahner viết trong cuốn sách "Thần bí và Khổ tu của các Giáo phụ" rồi. (Cuốn sách này nguyên bản bằng tiếng Pháp. Rahner đã dịch nó sang tiếng Ðức, và còn mở rộng bổ sung thêm gần một nửa cuốn sách nữa.)

Cuộc gặp gỡ giữa Karl Rahner và tân thần học Pháp quốc đã mở đầu cho một cuộc hội ngộ kỳ diệu. Năm 1940, trang tạp chí nổi tiếng của Paris "Nghiên cứu tôn giáo học" (Recherches de Science Religieuse) đã mời Rahner viết một bài, với nhan đề "Giới thiệu quan niệm triết học siêu nghiệm của Heidegger", song đáng tiếc là cuốn tạp chí đó lại in lộn tên của người anh Hugo Rahner. Dầu sao, từ đó về sau, mối tương giao giữa hai bên ngày càng mật thiết hơn.

Năm 1947, trong tạp chí "Ðịnh hướng" (Orientierung), Rahner có bài viết "Dẫn vào con đường thần học mới". Với bài viết này, lần đầu tiên Rahner định vị mối tương quan giữa "tự nhiên" và "ân sủng", đồng thời khơi mào cho một cuộc tranh luận đầy quyết liệt giữa các học giả. Chủ trương của ngài là sẽ khai triển danh từ "Tính Tồn hữu của siêu tự nhiên" (Supernatural Existentials). (J. P. Galvin, "The Invitation of Grace", trong Leo J. O'Donovan (ed.), A World of Grace, (New York: Crossroad, 1984), pp.64-75. Hoặc: K. Rahner, "Nature and Grace", trong T.I., vol. 4, pp.165-88.)

5. Karl Rahner: thần học gia của Công đồng Vatican II

Trước khi Công đồng Vatican II khai mạc, Tổng Giám mục Vienna - Franz Koenig (1905 - 2004) - có ý mời Karl Rahner làm cố vấn thần học cho ngài. Ngài nhớ lại phản ứng của Rahner lúc đó là vô cùng sửng sốt. Bởi vì Rahner chưa từng đặt chân tới Rôma, và trong suy nghĩ của ngài Rôma là một cái gì đó vô cùng nghiêm trọng. Cho nên, Rahner không trả lời ngay và xin có một thời gian suy nghĩ; và sau khi đã đắn đo lẫn do dự, ngài bèn chấp nhận lời mời của vị Tổng Giám mục. (Franz Koenig, "Der Konzilstheologe", trong K. Rahner: Bilder eines Lebens, aaO., pp.60ff.)

Việc Rahner tỏ ra do dự không phải là không có lý do. Vì khi Koenig đề xuất Karl Rahner thì vị chuyên gia giáo luật nổi tiếng của Rôma là J. Ottaviani đã đưa ra một số lý do để phản đối. Nhưng rồi, trước khi Công đồng diễn ra không lâu, Rahner đã nhận được sự đồng thuận của rất nhiều thần học gia tham dự Công đồng; vả lại, Tổng Giám mục Koenig cũng thuyết phục Rahner bằng một lý do đơn giản như sau: "Anh không cần phải xuất đầu lộ diện, mà chỉ cần đưa ra những kiến giải, bổ sung và kiến nghị đầy sắc bén và tinh tế là được rồi". Và Rahner đã trả lời rằng: "Thôi thì nếu có lúc trong hội nghị phải lên tiếng phát biểu ý kiến, hay phải làm việc nhóm, hoặc phải giải quyết những vấn đề, thì tôi cứ nói mình thuộc về đoàn của Tổng Giám mục nhé". (K. Rahner, Bekenntnisse, pp.27f; hoặc: K. Rahner, Erinnerungen, pp.89-100; hoặc: H. Vorgrimler, Understanding Karl Rahner, pp.95-111: "Công việc chính của Rahner diễn ra chủ yếu bên ngoài những phiên họp chính thức. Ngài thuộc về khối Giám mục nói tiếng Ðức. Ngài cũng được khối Giám mục Nam Mỹ mời, và còn tham dự những buổi họp bàn thần học của khối tiếng Pháp và tiếng Ðức v.v... ".)

Không lâu sau, Karl Rahner trở nên nổi tiếng và được các Giám mục đoàn khác chủ động gặp gỡ và mời ngài làm cố vấn. Ðiều đó làm cho Tổng Giám mục Koenig lo lắng khôn nguôi vì sợ mất Rahner.

Rahner cũng rất nhiệt tình góp tay vào biên soạn những sắc lệnh chủ yếu của Công đồng, thậm chí là "Hiến chế Tín lý về Giáo hội" (Lumen Gentium). Yves Congar (1904 - 1995) còn cho biết thêm, Rahner còn viết những văn kiện về tự do tôn giáo, tương quan với những người không phải Kitô hữu, và đối thoại với chủ nghĩa vô thần. Những bản văn này đều được viết hết sức tỉ mỉ, đầy quyết liệt nhưng cũng rất đỗi sâu sắc. (Yves Congar, "Erinnerungen an Karl Rahner auf dem Zweiten Vatikanum", trong K. Rahner: Bilder eines Lebens, aaO., pp.65-69.)

Tóm lại, với Công đồng Vatican II, Karl Rahner không chỉ là một tham dự viên xuyên suốt, mà còn là người có ảnh hưởng quan trọng trên đường hướng phát triển thần học hậu Công đồng. Ngài nói: "Tôi xác tín Công đồng Vatican II là một đại hội vô cùng quan trọng, có sức phát triển mạnh mẽ, và chẳng biết đến bao giờ ảnh hưởng của nó mới thật sự chấm dứt. Vì trong suốt đại hội, không có phiên họp nào trùng lắp phiên họp nào, nghĩa là không thể bàn lại vấn đề đã được thông qua." (K. Rahner, Erinnerungen, aaO., p.100; hoặc: H. Vorgrimler, Understanding Karl Rahner, aaO., pp.99f.)

6. Những người bạn của một Karl Rahner đối thoại

Khi Thế chiến thứ II đang diễn ra ác liệt, Karl Rahner không cách nào dạy học được nữa, mọi thứ đều tạm ngưng lại. Nhờ thế, Rahner lại có dịp đi thuyết giảng khắp tứ phương. Làm việc chung với nhau, ngài ngày càng có thêm nhiều bạn bè, thông qua những cuộc trao đổi tư tưởng, luận đàm với nhiều đối tượng và tổ chức khác nhau. Nhưng chung cục, ba tổ chức sau là có ảnh hưởng nhất trên Rahner.

a) Nhóm Jaeger-Stahlin

Tên của tổ chức này là sự kết hợp của hai nhân vật, một là Tổng Giám mục giáo phận Paderbon, và vị kia là một mục sư Tin lành. Hai vị này đều có chung ý hướng thúc đẩy đối thoại giữa Công giáo và Tin lành.

Từ năm 1948 đến đầu năm 1970, Rahner là một thành viên đầy hăng say của tổ chức này. Ở đây, ngài kết thân được với nhiều nhà trí thức thời danh, như: Hermann Volk - người sau này trở thành Giám mục của Mainz; Josef Hoefer - người có ảnh hưởng rất lớn với Vatican. Trước Công đồng Vatican II, tổ chức này đã xây dựng được nền móng rất tốt, nên khi Công đồng bắt đầu, họ liền tận lực thúc đẩy sự hợp nhất giữa các Kitô hữu; tới nay vẫn nỗ lực không ngừng.

b) Nhóm Goerres

Ðây là một tổ chức rất lớn, vào năm 1960 đã có tới 1650 thành viên. Goerres là tên của một vị cổ võ đạo Công giáo trong thế kỷ 19.

Mục đích của tổ chức này tương đối rộng, với 20 mảng bao gồm triết học, lịch sử, tâm lý học, giáo dục#; năm 1957 lại tiếp cận thêm mảng khoa học tự nhiên, do chính Karl Rahner là người sáng lập, và dĩ nhiên ngài cũng là một thành viên tràn trề sức sống. Trong mảng do Rahner phụ trách này, chúng ta thấy có rất nhiều bài viết mang tính định hướng phát triển cho cả tổ chức, thậm chí là trong việc hiểu biết và đối thoại với khoa học tự nhiên.

Nói tóm lại, trong tổ chức này, Rahner có dịp tiếp xúc với lối nhìn mang tính tục hóa của thế giới hôm nay. Do đó, làm sao để hiểu họ, rồi tiến đến cùng họ luận đàm về "Thần" chính là lập trường đầy nghị lực của Karl Rahner.

c) Nhóm Paulus

Paulus là tổ chức do Erich Kellner thành lập vào năm 1955. Mục đích của họ là nghiên cứu và tìm cách đối thoại để liên kết Kitô giáo với thế tục. Thành quả đầy nỗ lực của tổ chức này là đã xuất bản được 25 cuốn sách. Từ năm 1958 trở đi, Rahner đã trở thành một thành viên kiệt xuất của tổ chức. Năm 1965, dưới sự thúc đẩy của Rahner, tổ chức bắt đầu tiếp cận và đối thoại với chủ nghĩa vô thần, đặc biệt là chủ nghĩa Marxist. Cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và chủ nghĩa Marxist này đã mở ra con đường cho những chính sách của Giáo hội trong việc tiếp xúc với những vùng đông tây sau này.

Khi luận đàm với những người bạn trong tổ chức này, Rahner nhấn mạnh:

"Các bạn của tôi hỡi! Thiên Chúa chết rồi! Nhưng Thánh giá của Ngài vẫn hiển hiện trong lịch sử của chúng ta, vì Ngài đã phục sinh, nên vẫn có người tìm kiếm Ngài, gặp gỡ Ngài# Chúng ta nên chung tay hiệp lòng liên kết lại với nhau, để can đảm gánh vác Giáo hội hôm nay, để mỗi người chúng ta trở thành một Kitô hữu chân chính."

Trong khi đối thoại cùng chủ nghĩa Marxist, Rahner nhận ra chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx và niềm tin vào đời sau của Kitô giáo rõ ràng là không đồng nhất; song cả Marxist và Kitô giáo đều ra sức xây dựng một thế giới nhân bản tốt đẹp. Do đó, Rahner kêu mời hai bên hiểu biết và tôn trọng nhau, đồng thời cùng tìm ra những điểm chung để hợp tác với nhau. Có lẽ vì nỗ lực của Rahner mà chủ nghĩa Marxist tại Ðông Âu, đặc biệt là "câu chuyện mùa xuân ở Tiệp Khắc" năm 1968 bị thất bại. Rồi cùng năm đó, tại Nam Mỹ xa xôi, xuất hiện một phong trào thần học mới: Thần học Giải phóng. Ðây là phong trào thần học mà xuất phát điểm cũng bắt đầu từ việc đối thoại và học tập lẫn nhau ở một vài phương diện giữa Marxist và Kitô giáo.

Tóm lại, Karl Rahner đã vô cùng cố gắng tạo lập một cuộc đối thoại thật sự, hầu đưa Kitô giáo tiếp cận gần hơn với chủ nghĩa nhân bản và chủ nghĩa vô thần trong thời hiện đại này. Với mục đích tiếp tục đào tìm chân lý, công cuộc đối thoại và hợp tác này có thể mở rộng ra với những tôn giáo khác nữa.

7. Giai đoạn trước tác của Karl Rahner

Như đã kể ra ở trên, Rahner đã rất hăng hái và nhiệt tâm tham dự những cuộc đối thoại và thảo luận trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Bên cạnh đó, ngài còn lưu truyền cho thế hệ sau những thành quả nghiên cứu vô cùng quý giá của mình, qua những tác phẩm đã được xuất bản. Những tác phẩm này sẽ làm cho chúng ta phải sửng sốt và nghiêng mình thán phục. Những tác phẩm của Rahner, dù là viết một mình, hay cùng viết với các học giả khác - như những bộ đại từ điển thần học, thì đều chất chứa những điều vô cùng trọng yếu.

a) Những tác phẩm tự viết

Năm 1954, Rahner xuất bản cuốn thứ nhất Theological Investigations (Nghiên cứu thần học). Ðây là bộ sách tập hợp lại những lời giảng giải của cha trên các tạp chí, trong những buổi diễn thuyết hay dạy học. Quả thật, không ai có thể ngờ được rằng, khi qua đời vào năm 1984, Rahner đã phát hành được 16 cuốn sách, tổng cộng 8000 trang. Nếu duyệt lại hết những tác phẩm mà ngài đã xuất bản, ta sẽ càng kinh ngạc hơn, bởi chúng được xuất bản định kỳ và được dịch ra những ngôn ngữ quan trọng. May mắn là các học trò của cha đã sưu tập lại những tác phẩm này và làm thành một cuốn sách thư mục (bibliography) được chia theo bốn giai đoạn, tính đến năm 1984 nó đã góp nhặt được hơn 4,000 bài viết (articles).

4 giai đoạn gồm:

1. 1924 - 1969: do R. Bleistein và E. Klinger cùng sưu tập (Freiburg: Herder, 1969);

2. 1969 - 1974: do R. Bleistein sưu tập (Freiburg: Herder, 1969);

3. 1974 - 1979: do P. Imhof và H. Treziak cùng sưu tập (Freiburg: Herder, 1979);

4. 1979 - 1984: xem K. Rahner, Bekenntnisse, p.104.

Chúng được dịch sang tiếng Anh chủ yếu bởi: C. J. Pedley, "An English Bibliographical Aid to Karl Rahner", trong The Heythrop Journal 25 (1984), p.319-65; "An English Bibliographical Aid to Karl Rahner: Supplement", trong The Heythrop Journal 26 (1985), p.310; hoặc: M. Dudley, "On Reading Rahner", trong Scottish Journal of Theology 37 (1984), p.81-86.

b) Những tác phẩm viết chung

Từ đầu đến cuối, Karl Rahner cho thấy ngài rất dễ cộng tác với mọi người. Cha dễ dàng hợp tác với học trò của mình, với anh em Dòng Tên hay đồng nghiệp, và cả với những học giả chưa mấy tiếng tăm. Ngài đã làm việc chung với rất nhiều tổ chức khác nhau để cho ra đời những cuốn sách mang tính công cụ chủ yếu cho việc nghiên cứu thần học.

Ở đây, chúng tôi chỉ liệt kê một số loại sách trọng yếu nhất của cha mà thôi:

1. Với Heinz Schuester và F. X. Arnold u.a., Handbuch der Pastoraltheologie (Cẩm nang Thần học Mục vụ), từ năm 1964 - 1969 tổng cộng đã xuất bản 4 cuốn sách lớn.

2. Với Josef Hoefer, Lexikon fur Theologie und Kirche (Từ Ðiển Thần Học và Giáo Hội), từ năm 1957 - 1965 tổng cộng đã xuất bản 10 cuốn sách lớn.

3. Với Adolf Darlap, Sacramentum Mundi (Bí Tích của Thế Giới), từ năm 1967 - 1969 tổng cộng đã xuất bản 3 cuốn sách lớn.

Ngoài ra, liên quan đến nguồn phụ, từ năm 1948 - 1978, cha đã cùng với học trò của mình là A. Raffelt sưu tập những bài báo liên quan đến tư tưởng của cha trong Wagnis Theologie (Chứng Cứ Thần Học), từ trang 598 - 622. (Giản lược cuộc đời và tác phẩm của Karl Rahner, cùng giới thiệu về tư tưởng của ngài).

 

Kết Luận

Nhìn lại xuyên suốt cuộc đời đầy phong phú của Karl Rahner, chúng ta không khỏi vừa kinh ngạc vừa ngưỡng phục một nhân vật siêu quần xuất chúng cống hiến một đời cho nhân loại. Giả như có đặt lại câu hỏi: Rốt cuộc Karl Rahner là ai nhỉ?, giống như vào giai đoạn gần cuối đời 1984, khi nhà báo người Mỹ J. O'Donavan hỏi cha: "Bây giờ ngài muốn làm gì, Karl Rahner?", cha đã trả lời: "Bây giờ tôi chỉ muốn tìm một chỗ để nhắm mắt yên nghỉ". Nghĩa là, dù cả một đời cố gắng làm việc không ngơi nghỉ để suy tư và tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng cuối cùng cha cũng thừa nhận rằng mình không thể nào thấu hiểu Thiên Chúa cả, chỉ có thể "á khẩu vô ngôn" mà thôi.

Quay đầu trông lại toàn bộ cuộc đời bằng một cái nhìn đầy thành thật, cha Rahner nói:

"Thiên Chúa biết tường tận mọi sự, rằng tôi không kết tạo nên một loại thsần học mà mọi người vẫn gọi là nền thần học mới, rằng tôi không là bậc tiên tri, rằng tôi không phải là người đặt nên một cột mốc mới cho thần học, tôi chỉ đơn giản là một Giêsu hữu, một Linh mục, một người thầy, tất cả những thứ đó là việc bổn phận phải làm mà thôi, và tôi đã dấn thân vào với trọn cả niềm hứng khởi tràn trề. Có thể nói là tôi đã đặt vào đấy gần như hết tâm trí và tinh thần của tôi rồi." (K. H. Weger, Karl Rahner, aaO., p.12; hoặc: Heder-Korrespondenz 28 [1974], p.79.)

Quả thật, Rahner đã đặt trọn cả con tim mình vào những phận vụ mà cha được trao phó, hay nói cách khác ngài tự nhận vào mình chuyện của Giáo hội và thấy được nơi những dấu chỉ của thời đại trách nhiệm của mình. Ðó là điều ai cũng chân nhận nơi ngài.

Karl Rahner là người tài hoa xuất chúng. Ngài luôn có khát khao hiểu con người thời đại dưới nhiều góc cạnh khác nhau, do đó cách làm thần học của cha là lấy con người làm xuất phát điểm, và đặt con người đó trong mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Song cha cũng rất thẳng thắn thừa nhận rằng con người là một hữu thể chứa đầy huyền nhiệm: trong cách diễn đạt cuộc sống và trải nghiệm của họ, họ như thể những kẻ vừa đứng trên bãi biển nghịch cát, vừa không cách nào kéo cái nhìn ra khỏi đại dương huyền bí mênh mông kia.

Nghĩa là, trong cuộc sống thường nhật, con người cứ tất tả làm việc như đứa trẻ đang nghịch cát; nhưng điều quan trọng hơn là, họ đang đứng trên bờ biển của huyền nhiệm, và thường xuyên bị huyền nhiệm ấy thu hút vào một chân trời khoáng đạt hơn. Họ không ngừng bị các câu hỏi kia lôi cuốn, đòi họ mở rộng chính mình, kéo họ về huyền nhiệm vừa gần vừa xa ngay trước mắt họ. Rahner gọi huyền nhiệm đó là "Thần" (Thiên Chúa).

Nơi cuộc đời của Rahner, chúng ta thấy cha tận tâm tập trung vào những vấn đề mà thế giới thường đặt ra, rồi giải đáp từng cái một. Nhưng cách trả lời của Rahner cũng thật đặc biệt, bởi ngài lại tiếp tục trao lại cho chúng ta những câu hỏi mới, cùng bao nhu cầu tìm kiếm nhiều hơn. Bởi vậy, Vorgrimler đã nhận xét về cha như sau: "Những tác phẩm của Karl Rahner, đối với thần học Công giáo hiện tại và thậm chí trong thế kỷ 21, sẽ như "khuôn vàng thước ngọc" vậy." (H. Vorgrimler, Karl Rahner, aaO., p.83.)

Ðúng là dần dà chúng ta có thể ghi nhận được tác dụng của sức ảnh hưởng kia ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Bắc Mỹ, có 71 vị thần học gia cho rằng Karl Rahner là nhà tư tưởng có ảnh hưởng quan trọng nhất. Thần học Giải phóng cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp theo nhiều cấp độ khác nhau tư tưởng của ngài. Năm 1982, khi có một vị thần học gia Nam Mỹ tới nói chuyện với Rahner về thần học giải phóng, Rahner đã tuyên bố rất kiên định rằng:

"Với tôi, một điều rất rõ ràng là các anh phải có trách nhiệm phản tỉnh về đức tin ngay trong lòng Giáo hội; phần tôi, tôi sẽ dùng một chút thẩm quyền thần học của mình để nói cho Giáo hội hoàn vũ biết về Giáo hội Châu Mỹ Latin, và bảo vệ một cách thích hợp nhất cho các anh." (L. Boff, "Theologie der Befreiung", trong K. Rahner, Bilder eines Lebens, aaO., p.150.)

Ðối với các Giáo hội địa phương non trẻ của Châu Phi, Rahner cũng tìm cách giúp đỡ để họ tự làm thần học của họ. Rene de Haes giải thích thêm: tôi muốn áp dụng thần học nhân học của Rahner để nhìn về người Kitô hữu Châu Phi, nhìn về những sự kiện và những đồng bào của tôi, rồi còn nhìn về toàn thể vũ trụ và Ðấng Tối Cao, và dùng nó để đối thoại với tất cả các thần linh của Phi Châu. Trong số đó, các thần học gia Phi Châu nhấn mạnh đến nghĩa vụ phải nỗ lực làm lộ diện những điều "chưa nhìn thấy được" trong thế giới của họ. (R. de Haes, "Einfluss auf die jungen Ortskirchen in Africa", trong K. Rahner, Bilder eines Lebens, aaO., pp.150f.)

Như vậy, thần học không thể phát triển theo hướng bỏ đi những giá trị của con người, ngay cả những diễn tả tôn giáo của những người không phải là Kitô hữu. Nghĩa là, đối với hệ giá trị lâu đời của văn hóa Châu Á, hay các niềm tin tôn giáo của thế giới, chúng ta càng phải lấy tinh thần đối thoại và thái độ cởi mở của Karl Rahner để làm và phát triển thần học.

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page