Tìm hiểu và chia sẻ
đời sống Tin Mừng

Linh Mục Augustine, SJ. phụ trách

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


 

Ngày 14 tháng 10 năm 2001

Chúa Nhật 28 Thường Niên Năm C

 

Ðọc Tin Mừng Lc. 17, 11-19

(11) Trên đường lên Giêrusalem, Ðức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilê. (12) Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa (13) và kêu lớn tiếng: "Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi !" (14) Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ: "Hãy đi trình diện với các tư tế". Ðang khi đi thì họ đã được sạch. (15) Một người trong bọn, thấy mặt được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. (16) Anh ta sấp mình dưới chân Ðức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari. (17) Ðức Giêsu mới nói: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? (18) Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?" (19) Rồi Người nói với anh ta: "Ðứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh".

 

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Người Samari có lòng biết ơn

Bài Tin Mừng hôm nay nói về mười người bệnh phong được chữa lành tuy nhiên đặc biệt chú ý tới một người trong nhóm, đó là người Samari đã tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa và với Ðức Giêsu là người đã chữa anh khỏi bệnh.

Tình trạng đáng thương của người mắc bệnh phong đã được Ðức Giêsu chiếu cố chữa lành rất sớm trong đời công khai của Người (Lc 5,12-16).  Chứng bệnh lây truyền này từng bị coi như hình phạt điển hình nhất Thiên Chúa gửi đến: "Ðức Chúa sẽ làm cho anh em bị ung nhọt ác tính ở đầu gối và ở đùi, mà anh em không thể chữa khỏi, từ bàn chân cho đến đỉnh đầu." (Ðnl 28,35).  Người mắc bệnh phong phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu ria, và kêu lên "Ô uế! Ô uế!"  Bao lâu còn mắc bệnh, người đó phải ở riêng ra một nơi ngoài trại (Lv 13,45-46).  Bất kể tới hàng rào ngăn cách do luật cũ dựng lên, Ðức Giêsu đã đụng tới thân mình người bệnh phong và cho anh ta lập tức được khỏi (Lc 5,13).

Với cuộc chữa lành nói trên, Ðức Giêsu không những tỏ ra là Ðấng quyền năng đối với thứ bệnh thuộc loại ghê gớm nhất này mà còn cho thấy chính Người đứng ra phá đổ hàng rào khiến cho con người xa cách nhau.

Cuộc xuất hành mới nhằm Trời cao

Riêng với bài Tin Mừng hôm nay điều được nhấn mạnh là mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa.  Ðiều đó dễ hiểu vì Luca đặt cuộc chữa lành mười người bệnh phong trong cuộc hành trình lên Giêrusalem của Ðức Giêsu.  Cuộc hành trình này được Luca quan niệm như cuộc xuất hành mới với Ðức Giêsu đứng ra lãnh đạo dân mới của Thiên Chúa đi về đất hứa là Trời cao (Lc 9,51).

Cả nhóm chứ không phải chỉ một người bệnh phong, tụ tập lại để xin Ðức Giêsu chữa lành.  Nhóm gồm cả người Do Thái lẫn người Samari.  Ngay từ đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem của Ðức Giêsu, kẻ chống đối đầu tiên đối với cuộc lên Giêrusalem này chính là những người Samari.  Khởi sự, Ðức Giêsu sai mấy sứ giả đi trước.  Những người này vào một làng người Samari để chuẩn bị cho Người đến, nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem (Lc 9,52-53).  Khi hai môn đệ là Giacôbê và Gioan tức giận muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy dân làng Samari là dân chống đối cuộc lên Giêrusalem, hai ông liền bị Ðức Giêsu quở mắng (Lc 9,55).

Vượt trên kỳ thị chủng tộc

Kỳ thị chủng tộc giữa người Do Thái và người Samari đã có từ xa xưa đặc biệt từ sau cuộc lưu đầy vào năm 722 trước công nguyên.  Người Samari trở nên một dân pha trộn về chủng tộc.  Hố ngăn cách giữa hai dân tộc càng thêm sâu khi người Samari từ cuộc lưu đày Babylon trở về muốn đoàn tụ với người Giuđê mà bị vua Giôrôbaben và nhà lãnh tụ Nêhêmi từ chối (Er 4,2-3).  Người Samari liền xây đền thờ riêng cho họ trên đỉnh Garadim.  Người có công xây cất chính là ông Manasê, con trai của vị thượng tế Yoađa, đã bị ông Nêhêmi đuổi khỏi Giêrusalem vì kết hôn với người con gái của một vị quan Ba Tư ngoại đạo.

Vậy Ðức Giêsu không chỉ tỏ ra là một con người bao dung.  Thái độ của Người đã dứt khoát muốn đi ngược lại dòng lịch sử của hơn bảy thế kỷ kỳ thị chủng tộc, để đến với người Samari.

Trong cuộc hành trình lên Giêrusalem, Ðức Giêsu còn làm mọi người ngạc nhiên với dụ ngôn người Samari nhân hậu.  Trong dụ ngôn này hai nhân vật tỏ ra thiếu tình người chính là hai người có địa vị trong đạo Do Thái, gồm một thầy tư tế và một thầy Lêvi.  Hai vị này trên đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, gặp một người bị kẻ cướp bóc lột và đánh nhừ tử rồi để nằm nửa sống nửa chết trên đường.  Cả hai lần lượt sang phía bên kia đường mà đi.  Chỉ có một người Samari nặc danh vừa thấy nạn nhân liền động lòng thương.  Người này đã cúi mình xuống rửa và băng bó vết thương cho nạn nhân.  Kế đến ông còn vực người đó lên lưng lừa để chở đến quán trọ.  Người Samari nhân hậu này không những trả tiền cho người chủ quán trọ mà như còn trao cho chủ quán một ngân phiếu đã ký sẵn để chủ quán tự do điền vào, khi nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác." (Lc 10,35)

Bằng con đường bác ái gương mẫu

Và ta biết dụ ngôn được kết thúc với lời Ðức Giêsu khuyên nhà thông luật Do Thái là "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10,37) -tức là hãy noi gương người Samari để sống tình người; như vậy mới mong có được sự sống đời đời làm gia nghiệp.

Nhưng sự sống đời đời chỉ đạt được khi người ta thể hiện cả hai vế của giới răn yêu thương.  Mến Chúa mà thôi thì chưa đủ, còn phải yêu người nữa.  Ngược lại, yêu người mà thôi cũng chưa đủ, còn phải "yêu mến Ðức Chúa Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi" (Lc 10,27).  Dụ ngôn người Samari nhân hậu chỉ mới nêu ví dụ điển hình về yêu người.  Về mến Chúa, một người Samari nữa được Ðức Giêsu chỉ cho thấy như một kiểu mẫu nổi bật.  Ðó là người Samari bệnh phong trong số mười người bệnh phong được Ðức Giêsu chiếu cố chữa lành như ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Hết sức thuận lợi với Nước Thiên Chúa

Bề ngoài xem ra những người bệnh phong này đã bị Thiên Chúa chúc dữ nhưng trong thực tế Chúa đã biến đổi hoàn cảnh bất lợi trở nên hoàn cảnh hết sức thuận lợi cho Nước của Ngài.

+ Chính nhờ tách rời khỏi cộng đoàn địa phương nơi họ từng sinh sống, họ được tự do sống tình người như Thiên Chúa đã dựng nên họ, không phân biệt là người Samari hay là người Do Thái.

+ Bị xã hội ruồng bỏ, họ đã không trở nên mồi ngon cho thất vọng.  Chính họ cùng nhau làm nên một xã hội mười người phong sống lây lất cạnh lối ra vào cổng thành.  Họ sống dựa vào của bố thí nhưng đồng thời cũng luôn đòi người ta phải xét lại xem lối cư xử đối với họ có thực sự công bằng lắm hay không.

+ Họ nghiệm được phần nào về Nước Thiên Chúa đang đến với họ qua con người đầy tình thương và quyền năng của Ðức Giêsu.  Có lẽ họ đã nghe biết rằng tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người.  Người đặt tay lên từng bệnh nhân và chữa họ. (Lc 4,40).  Cho nên họ đón gặp Người.  Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng "Lạy Thầy Giêsu xin dủ lòng thương xót chúng tôi" (Lc 17,13)

+ Thầy Giêsu nhẹ nhàng đưa họ vào nhịp sống của Nước Thiên Chúa ngang qua một lệnh truyền.  Như xưa ngôn sứ Êlisê truyền cho quan Na-a-man mắc bệnh phong, phải tắm bảy lần trong sông Giođan để được lành (2V 5,10-12), nay Thầy Giêsu cũng đòi mười người phong phải thực hiện một việc chứng tỏ niềm tin và đức vâng phục của họ.  Họ phải đi trình diện với những vị tư tế có nhiệm vụ xét xem họ có được khỏi để tái gia nhập cộng đoàn Do Thái chưa.

+ Ðiều lạ lùng xảy ra là khi họ vâng lời Thầy Giêsu để đi trình diện với các vị tư tế nói trên, thì tự nhiên bệnh phong biến mất trên người họ!

Vậy mười người phong đã tiến xa và sâu trong Nước của Thiên Chúa nhờ ơn tạo dựng vẫn duy trì họ trong hiện hữu và nhờ Chúa Thánh Linh vẫn nói với họ qua tiếng nói của lương tâm.  Họ còn được Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa (Lc 1,35) chiếu cố can thiệp dẫn đưa họ tới ơn cứu độ.

Như đoá hoa nở rộ

Riêng nơi người bệnh phong gốc Samari, sự can thiệp của Ðức Giêsu như đoá hoa nở rộ:

+ Một mình người Samari "thấy mình được khỏi liền quay trở lại" với Ðức Giêsu.  Anh có cái nhìn chính xác về xuất xứ của đời sống mới nơi anh.  Tiên vàn phải trở lại với Thầy Giêsu là người đã cho anh được khỏi.  Ðấng có khả năng chữa anh khỏi thứ bệnh ghê gớm này phải có khả năng soi sáng nhiều cho đời anh.

+ Trước khi gặp lại Thầy Giêsu, anh đã "lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa" (c.15).  Ðó là Ðấng Thiên Chúa gắn liền với hiện hữu của anh.  Ðó là Ðấng mà Thầy Giêsu kêu là "Cha là Chúa Tể trời đấtů Ðấng đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn" (Lc 10,21).

+ "Anh liền sấp mình dưới chân Thầy Giêsu mà tạ ơn" (c.16).  Ðó là cử chỉ biểu lộ lòng tôn kính một vị vua; ở đây lòng tôn kính hướng tới một vị mà anh nhìn nhận là người mà Thiên Chúa đã sai đến cứu chữa anh.

+ "Chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa?" (cc.17-18).  Họ đã vâng lời người của Thiên Chúa và đã được khỏi về thể lý.  Thế mà tâm hồn họ không được đánh động để tôn vinh Thiên Chúa sao?  Có sự tê liệt nào đó về thiêng liêng trong mối tương quan của họ đối với Thiên Chúa.

+ "Ðứng dậy đi!  Lòng tin của anh đã cứu anh" (c.19).  Niềm tin cứu độ nơi người Samari giả thiết sinh hoạt cứu độ phát xuất từ nơi Thầy Giêsu.  Người Samari này đã được Thầy Giêsu dẫn vào nhịp sống của đức tin.  Nhịp sống ấy có thể đưa anh đi rất xa.

 

Một số câu hỏi gợi ý

1.  Chúa Giêsu đã vượt lên trên truyền thống kỳ thị chủng tộc nặng nề để đến với người Samari.  Riêng bạn có phải vượt thắng những khó khăn nào không để có tương quan tốt với một số những người không phải là người Công Giáo mà bạn biết.  Tương quan ấy nên nhắm mục đích nào theo gương Chúa Giêsu?

2.  Hãy so sánh người bệnh phong Samari được Chúa Giêsu chữa lành (Lc 17,11-19) với nhân vật Samari nhân hậu trong dụ ngôn (Lc 10,29-37).  Họ nói với chúng ta những gì về Nước của Thiên Chúa?

 


Back to Home Page