GOSPELNET
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH NĂM A - CHÚA THĂNG THIÊN

TIN MỪNG: Mt 28, 16 - 20

HÃY ÐẾN VỚI MUÔN DÂN

Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Ðức Giê-su đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi.

Ðức Giê-su đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".

SUY NIỆM 1:

HỘI THÁNH RAO GIẢNG TIN MỪNG

1. Ý nghĩa của sự kiện Ðức Giê-su lên trời:

Sự kiện lên trời ( hay còn quen gọi là "thăng thiên" ) là tiến trình tiếp nối cách lô gíc biến cố phục sinh của Ðức Giê-su Ki-tô. Thật vậy, Thiên Chúa Cha đã nhìn nhận công lao của Con Một Người là Ðức Giê-su Ki-tô trong cuộc sống trần gian và nhất là trong cuộc Khổ Nạn Thập Giá mà Người đã chịu để cứu chuộc nhân loại, nên đã vinh thăng Người bằng cách làm cho Người sống lại từ trong cõi chết và đem Người trở về thế giới vô hình của Thiên Chúa.

Hơn nữa Thiên Chúa Cha tôn phong Người danh hiệu cao trọng nhất trong các danh hiệu và tước vị, đặt Người lên trên mọi quyền lực thần thiêng, làm Chúa Tể vạn vật, làm Vua vũ trụ. Ðức Giê-su thăng thiên minh chứng hai điều:

- Người là Ðức Chúa từ Trời đến và trở về Trời;

- Cõi Trời là nơi được Thiên Chúa dành cho chúng ta và chỉ ở nơi ấy, chúng ta mới được trọn hưởng niềm hạnh phúc vô tận mà Thiên Chúa đã định cho chúng ta.

2. Trước khi lên trời, Ðức Giê-su:

2. 1 đã giao cho các môn đệ một nhiệm vụ quan trọngđi khắp bốn phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng Cứu Ðộ của Thiên Chúa và làm cho người ta trở thành môn đệ của Chúa. Khi thi hành nhiệm vụ cao trọng ấy các môn đệ phải đặc biết quan tâm đến việc làm Phép Rửa cho những ai tin theo Chúa và dạy dỗ họ tuân giữ những điều Chúa đã dạy cho chính các môn đệ lúc tại thế.

Các môn đệ Ðức Giê-su đã mau mắn và kiên cường trong việc thi hành nhiệm vụ được Thày giao. Lịch sử những năm đầu của Ki-tô giáo là một lịch sử hào hùng với những thành quả vĩ đại.

2. 2 đã hứa với các môn đệ là Người sẽ luôn hiện diện bên họ, mọi ngày cho đến tận thời gian, để giúp đỡ họ và cùng với họ thực hiện nhiệm vụ mà Chúa Cha đã giao cho Người và Người đã giao lại cho các môn đệ.

Các môn đệ Ðức Giê-su đã tuyệt đối tin tưởng phó thác vào quyền năng của Thày và đã thực hiện những điều kỳ diệu trong các cộng đoàn. Sách Công Vụ Tông Ðồ ghi nhận: "Mọi người đều kinh sợ vì các tông đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ" ( Cv 2, 43 ).

3. Ðức Giê-su cũng dành cho chúng ta nhiệm vụ và lời hứa ấy:

Nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho những người chưa nhận biết và tin theo Chúa mà Chúa Giê-su đã giao cho các môn đệ xưa thì Người cũng dành cho chúng ta ngày nay. Cũng thế lời hứa mà Người đã nói với các môn đệ xưa thì ngày nay Người cũng nói y như thế với chúng ta. Nhiệm vụ và lời hứa xưa và nay vẫn chỉ là một.

Nhưng nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng đã trở nên cấp bách hơn bao gơ hết, đối với Giáo Hội toàn cầu nói chung và đối với Giáo Hội Việt Nam nói riêng. Vì tỷ lệ người Công Giáo trên tổng dân số thế giới cũng như Việt Nam có chiều hướng sút giảm, chứ không hề gia tăng: ở Việt Nam tỷ lệ ấy hiện nay là 6, 615%, ở Thái Lan là 0, 2%. Hơn nữa, những giá trị cốt lõi của Ki-tô giáo càng ngày càng bị đe dọa: nạn nghèo đói, đàn áp, bóc lột con người nhất là người nghèo càng ngày càng trở nên quyết liệt. Nạn chia rẽ, chiến tranh, hận thù càng ngày càng leo thang ở khắp nơi trên thế giới.

Ðể làm tròn nhiệm vụ được giao, chúng ta phải ra đi và lao động cật lực như chính Chúa đã ra đi và đã lao động không biết mệt mỏi. Thật vậy Chúa Giê-su đã từ Trời xuống thế làm người. Khi làm người, trong những năm hoạt động công khai, Chúa Giê-su "đã đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền" ( Mt 4, 23 ). Thế mà chúng ta thường có khuynh hướng "trụ lại" và "đóng đô" chứ không thích ra đi. Chúng ta cũng có khuynh hướng làm việc "tàng tàng" và "được chăng hay chớ" chứ không "cật lực".

Mặt khác đáng lẽ chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ được giao trong tư cách và tâm tình của người môn đệ là những người gắn bó mật thiết với con người và sự nghiệp của Thày thì chúng ta lại chiều theo xu hướng thích biến mình thành "công chức" của Chúa, thành "người làm thuê ăn công". Chính vì thế mà công cuộc Phúc Âm hóa không đạt được kết quả mong muốn.

Hơn nữa, muốn làm tròn nhiệm vụ được giao, chúng ta phải có đủ sức mạnh. Sức mạnh ấy không phải là sức mạnh của bản thân chúng ta mà là sức mạnh của Ðấng "đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất" ( Mt 28, 18 ). Vì thế, thay vì ỷ lại vào tài năng và nỗ lực của mình, chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào Ðấng đã hứa "luôn ở bên chúng ta mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ) và thường xuyên chạy đến với Người trong đời sống nội tâm, cầu nguyện. Chúng ta còn phải biến biến lời hứa ấy thành hiện thực bằng cách để cho Chúa có điều kiện và không gian thi thố Quyền Năng vô biên của Người.

Lịch sử Giáo Hội thời sơ khai đã minh chứng hùng hồn chân lý ấy. Hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới, người ta vẫn chứng kiến những biến đổi kỳ diệu do sức mạnh Thánh Linh thực hiện. Chỉ cần người tín hữu thật sự tin vào sức mạnh của Chúa Phục Sinh, Ðấng đang cùng chúng ta hoạt động cho Nước Cha được rộng mở.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã truyền cho Hội Thánh rao giảng Tin Mừng và biến Phúc Âm thành hành động. Chúng con cám ơn Chúa, vì sự tín nhiệm Chúa đặt nơi con người. Chúng con cám ơn Chúa vì Chúa đã tín nhiệm chúng con... khi Chúa giao cho chúng con nhiệm vụ cao cả và nặng nề ấy ! Xin Chúa thực hiện lời Chúa đã hứa và bộc lộ sức mạnh thần linh của Chúa trong mọi công việc tông đồ của chúng con, để chúng con chu toàn nhiệm vụ Chúa đã giao phó, hầu làm vinh danh Chúa Cha, Amen !

Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

SUY NIỆM 2:

HÃY TRỞ NÊN HIỆN THÂN CỦA ÐỨC GIÊ-SU Ở TRẦN GIAN

1. Ðể cứu con người, Thiên Chúa cần họ cộng tác với Ngài

Hôm lễ Giáng Sinh, chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Ðức Giê-su giáng trần, bắt đầu cuộc đời làm người của Ngài. Hôm nay chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Ngài thăng thiên, kết thúc cuộc đời tại thế của Ngài. Ngài đến thế gian - vừa với tư cách một vị Thiên Chúa vô hạn và toàn năng, vừa với tư cách một con người đầy giới hạn và bất lực - để phục vụ con người, hầu trả lại cho con người thứ hạnh phúc vĩnh cửu đã bị nguyên tổ con người đã làm mất. Nhưng Ngài không thể làm chuyện này một mình được.

Khi dựng nên con người và cùng lúc ban hạnh phúc nguyên thủy cho con người ( lúc ấy con người chưa có ), Thiên Chúa không cần ý kiến hay sự cộng tác của con người. Nhưng khi con người đã hiện hữu, nhất là khi họ đã lạm dụng chính tự do Thiên Chúa ban để chống lại Ngài và làm mất đi hạnh phúc của mình, thì Ngài không thể tự mình chuộc lại hạnh phúc ấy cho con người mà không cần đến sự cộng tác tự nguyện của họ.

Tương tự như khi sinh ra ta, cha mẹ không cần đến ta, nhưng một khi đã có ta, thì có rất điều ích lợi cho ta các ngài không thể làm một mình mà không cần ta cộng tác vào. Chẳng hạn các ngài có thể đem đồ ăn đến tận miệng ta, giúp chúng ta đủ mọi phương tiện để học hành, nhưng ta có ăn uống học hành hay không thì hoàn toàn do ta. Cha mẹ không thể ăn uống, học hành thay cho ta được. Cũng vậy, Thiên Chúa không thể cứu chuộc ta, lấy lại hạnh phúc đã mất cho ta mà không cần đến sự hợp tác của ta. Ðể cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm được qua Ðức Giê-su. Tuy nhiên, vẫn còn lại một phần rất nhỏ mà chính con người phải làm, không ai làm thay được.

Nhưng làm sao con người ý thức được điều đó để cộng tác với Ngài hầu được cứu rỗi và hạnh phúc ? Ðức Giê-su có làm được điều ấy không ? Làm sao Ngài làm được điều ấy cho từng người trên thế giới từ thế kỷ này sang thế kỷ khác ?

2. Ðể loan báo ơn cứu độ, phục vụ con người, Ðức Giê-su mời gọi ta cộng tác tiếp tay với Ngài

Ðức Giê-su đến thế gian với mục đích ở với con người, chia sẻ thân phận đầy đau khổ của họ, xoa dịu những nỗi đau, săn sóc và chữa lành mọi căn bệnh cho họ, nhất là đem lại nguồn ủi an, hạnh phúc cho họ. Ngài muốn phục vụ toàn thể con người, đem ơn cứu rỗi đến cho họ không trừ một ai. Nhưng thế giới của con người thì bao la trải dài suốt mấy chục thế kỷ, còn Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm thật ngắn ngủi, tại đất nước Do Thái quá chật hẹp. Làm sao Ngài có thể đến với từng người, phục vụ từng người không trừ ai như Ngài mong muốn được ? Ngài có phương cách của Ngài, đó là mời gọi những người theo Ngài, những môn đệ của Ngài trong mọi thế kỷ, mọi thế hệ loài người cộng tác tiếp tay cho Ngài, trong đó có bạn, có tôi, cùng bao nhiêu Ki-tô hữu khác. Ngài lại mời gọi và đòi hỏi sự cộng tác.

Vì thế, trước khi từ biệt các môn đệ để về với Chúa Cha, Ðức Giê-su đã trăn trối cho các ông di chúc này: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở nên môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy cho họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em". Ðó không phải chỉ là lời mời gọi, mà là một lệnh truyền không chỉ cho 12 môn đệ đầu tiên của Ngài, mà cho tất cả những môn đệ thuộc tất cả những thế hệ sau, nghĩa là cho tất cả những ai theo Ngài. Vì thế, việc loan báo Tin Mừng hay phúc âm hóa môi trường mình sống, làm cho mọi người theo Ðức Giê-su, thành môn đệ của Ngài, rửa tội cho họ, nhất là sống tinh thần yêu thương mà Ngài đã truyền dạy là bổn phận của mọi Ki-tô hữu.

3. Ðức Giê-su mong được tiếp tục yêu thương và phục vụ con người qua bản thân và đôi tay của ta

Sứ mạng của Ðức Giê-su thật vĩ đại, để hoàn tất sứ mạng ấy, Ngài muốn hiện diện một cách cụ thể bằng xương bằng thịt tại trần gian để sống với mọi người, chia sẻ đau khổ với mọi người thuộc mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Ngài muốn trực tiếp nói với mỗi người, phục vụ, săn sóc, an ủi, xoa dịu và chữa lành những nỗi đau, những căn bệnh của mỗi người, nhất là đem lại nguồn ủi an và hạnh phúc cho họ. Nhưng trong thực tế, Ngài chỉ sống tại trần gian một thời gian hết sức ngắn ngủi.

Vì thế, để tiếp tục công việc ấy, Ngài muốn hiện diện ở trần gian một cách khác, một cách gián tiếp, qua sự hiện diện của ta. Nghĩa là Ngài muốn yêu thương mọi người bằng trái tim ta, suy nghĩ tìm ra giải pháp cho mọi vấn đề của con người bằng khối óc của ta, phục vụ mọi người bằng đôi tay của ta, đến với mọi người bằng đôi chân của ta, nói với mọi người, báo tin vui cứu độ cho mọi người bằng miệng lưỡi của ta. Ngài mong ta trở nên một dụng cụ của Ngài, tùy ý Ngài sử dụng hầu thực hiện chương trình của Ngài.

Nếu Ngài đã là hiện thân của Thiên Chúa Cha giữa con người, thì Ngài cũng muốn ta là hiện thân của Ngài giữa những người sống chung quanh ta, trong gia đình ta, giữa xã hội, trong lòng thế giới. Nếu cách đây 2000 năm, Ngài đã là Em-ma-nu-en, tức Thiên Chúa ở giữa loài người qua con người Ðức Giê-su, thì hiện nay, Ngài cũng muốn tiếp tục làm như thế, nhưng lần này qua con người mỗi chúng ta.

4. Hãy trở nên hiện thân của Ðức Giê-su ở trần gian, giữa những người sống chung quanh ta

Chúng ta có thể trở nên hiện thân của Ðức Giê-su ở trần gian, miễn là chúng ta có tình yêu đối với Ngài, với mọi người, và muốn trở nên hiện thân của Ngài giữa thế giới. Ðể làm được điều ấy, chúng ta chỉ cần ý thức rằng mình chính là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng giống như Thiên Chúa ( St 1, 26 . 27; 9, 6; Ep 4, 24 ), là con cái Thiên Chúa ( Lc 20, 36; Rm 8, 14.16; Gl 3, 26 ), và mang trong mình bản tính thần linh của Ngài ( 2 Pr 1, 4 ).

Vì thế, ngay từ bản chất, một cách nào đó, chúng ta đã là hiện thân của Thiên Chúa rồi. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều khi chúng ta chưa sống đúng với bản chất cao cả đó. Chúng ta còn sống một cách hèn hạ, nhát đảm, bần tiện, ích kỷ, chỉ vì chúng ta chưa ý thức được phẩm chất thần linh cao quí của mình. Chúng ta giống như một hoàng tử con ruột của một ông vua, nhưng vì sống trong môi trường dân giã lâu năm nên đã quên đi nguồn gốc cao quí của mình, nên sẵn sàng đem thân làm tôi tớ người khác, làm những điều không xứng hợp với phẩm giá mình.

Ðức Giê-su muốn mỗi người chúng ta ý thức được phẩm chất cao cả của mình, đồng thời mời gọi ta trở nên hiện thân của Thiên Chúa, của Ngài nơi những người chung quanh chúng ta, để qua chúng ta, Ngài yêu thương họ, phục vụ họ. Chúng ta sẽ trở nên hiện thân của Thiên Chúa khi những người chung quanh cảm nghiệm được tình yêu thương của ta đối với họ, qua việc quan tâm, chăm sóc, hy sinh vì hạnh phúc của họ.

Lời mời gọi ấy, trước khi về trời, Ðức Giê-su đã nói với chúng ta dưới một hình thức khác, một lệnh truyền, một sứ mạng được trao phó: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em". Làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa, cũng là giúp họ ý thức được họ là hình ảnh của Thiên Chúa, là con cái Ngài, và là anh em của nhau. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Ðức Giê-su truyền dạy chính là tìm cách làm cho họ yêu thương nhau, phục vụ nhau.

Vả lại yêu thương nhau chính là nét đặc trưng nhất, là tiêu chuẩn bảo đảm nhất chứng tỏ mình là môn đệ đích thực của Ðức Giê-su. Chính khi chúng ta sống như thế, sống như những hiện thân của Ðức Giê-su ở giữa anh chị em ta, thì ta đã làm cho câu nói sau đây của Ðức Giê-su trở thành hiện thực và cụ thể: "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Chúng ta hãy trở nên Giê-su hay Em-ma-nu-en ở giữa anh chị em mình !

Tôi thường nghe Thiên Chúa nói qua lương tâm tôi:

"Cách đây 2000 năm, Cha đã rao truyền chân lý, bày tỏ tình yêu và phục vụ săn sóc cho một số rất ít người Do Thái thời ấy qua con người Giê-su, Con của Cha. Cha vẫn muốn tiếp tục làm công việc yêu thương săn sóc ấy cho tất cả mọi người không trừ ai ở trần gian này. Nhưng lần này không phải qua con người Giê-su nữa, mà qua bản thân con và nhiều người khác như con. Con có đồng ý để Cha yêu thương họ bằng trái tim con, và phục vụ họ bằng đôi tay của con không ?"

Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

CÂU TRUYỆN:

XIN CHO CON TRỞ NÊN

Sau đệ nhất thế chiến trải ra từ năm 1914 đến năm 1918, khắp nơi, những người dân ly tán còn sống sót đều trở về làng quê cũ, họ gạt nước mắt và sẵn sàng đổ mồ hôi để nỗ lực hàn gắn những vết thương chiến tranh và xây dựng cuộc sống trong hòa bình.

Tại một thị trấn nọ, tất cả nhà cửa, phố xá, ruộng vườn đều đã tan hoang đổ nát. Một nhóm bạn trẻ bước vào ngôi Nhà Thờ thân yêu ngày xưa, nay chỉ còn lại bốn vách tường và mái ngói tương đối là đứng vững, còn bên trong là những gạch vữa, gỗ đá vỡ vụn. Họ tìm thấy pho tượng Chúa Giê-su nằm sóng sượt dưới đất, chỉ còn có thân mình là nguyên vẹn. Tuy thế, họ vẫn dọn dẹp quang quẻ Cung Thánh, rồi đặt bức tượng trên một chiếc bàn con, trung tâm điểm cho những buổi cử hành phụng vụ và cầu nguyện của giới trẻ. Và người ta đã ghi lại được một lời cầu nguyện bộc phát của một chị thiếu nữ như sau:

"Lạy Chúa, xin cho chúng con trở thành đôi mắt của Chúa,

Ðể chúng con diễn tả được tình yêu thương của Chúa.

Xin biến chúng con trở thành đôi tay của Chúa

Ðể chúng con nâng đỡ phục vụ anh chị em.

Xin cho chúng con trở thành đôi chân của Chúa,

Ðể chúng con sẵn sàng đến với tha nhân.

Xin biến chúng con trở thành con tim của Chúa,

Ðể chúng con biết thật sự yêu thương mọi người."

Theo tập ÁNH SÁNG của CÐM, số 1. 1999

CHỨNG TỪ 1:

CHỨNG TỪ CỦA MỘT GIÁO LÝ VIÊN

Cha Alexis thuộc Dòng Don Bosco có thuật lại một chứng từ sống động sau đây:

Vào năm 1934, cha Alexis được Bề Trên sai đến truyền giáo ở vùng Ðông Bắc xứ Lybia. Tại đây, cha được sự cộng tác nhiệt thành của một Giáo Lý Viên tên là Joan Cardina, cùng nhau phụ trách cả một vùng rộng lớn, nơi người dân chưa hề được nghe nói về Chúa.

Ít lâu sau, cha Alexis lại được chuyển sang Châu Á để thành lập một cộng đoàn Nhà Dòng tại nước Myanmar. 18 năm sau, tức năm 1952, cha có dịp quay trở lại thăm xứ Lybia với tư cách một Bề Trên Giám Tỉnh. Khi đến vùng mà trước kia cha đã ủy thác lại cho anh Cardina, cha hết sức ngạc nhiên thấy hầu hết dân ở đây đã theo đạo Công Giáo và sống đạo rất tốt. Còn người Giáo Lý Viên nhiệt thành năm xưa thì không thấy đâu...

Cha Alexis cố công tìm hỏi những người già cả và đã được nghe họ kể lại đầu đuôi mọi sự: Khi anh Cardina được cử đến đây, dân làng còn theo đạo thờ các vật linh nên họ tỏ rõ thái độ thù nghịch đối với anh, nhiều lần các thầy phù thủy đã kiếm cớ chửi rủa và đe dọa sẽ giết anh. Thế nhưng Cardina vẫn nhẹ nhàng tỏ bày với họ thiện chí của mình: "Tôi không thể bỏ nơi này vì cha Alexis đã sai tôi đến để giúp các bạn biết và yêu mến Thiên Chúa duy nhất và chân thật là Cha của tất cả chúng ta. Thiên Chúa sẽ giải thoát các bạn khỏi mọi sự sợ hãi đối với các thần linh..."

Bị trục xuất, Cardina liền cất một cái chòi ở rìa làng để ở. Những người có thiện cảm nhất đối với anh cũng không ai dám ghé thăm và giúp đỡ thực phẩm. Thế nhưng anh vẫn can đảm tự mình làm lụng vất vả, kiên trì cầu nguyện, đồng thời sẵn sàng chia sẻ phần thu hoạch ít ỏi với những người dân làng nghèo đói, cứu giúp họ thoát khỏi những cơn bệnh nguy tử bằng vốn liếng ít ỏi của anh về các loại lá thuốc.

Có lần, ông già làng được cử đến thăm dò Cardina đã hỏi: "Tại sao anh không chịu đi nơi khác, anh coi đấy, chẳng ai ưa anh, cũng chẳng ai nghe anh dạy thứ tôn giáo của anh !" Cardina ôn tồn và hiền hòa trả lời: "Thiên Chúa đã sai tôi đến đây, Ngài đã hy sinh mạng sống để cứu chuộc mọi người chúng ta. Vì thế, tôi cũng sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để các ông được ơn nhận biết Ngài. Tôi sẽ không rời bỏ nơi này bao lâu chưa có ai trở thành Ki-tô hữu..."

Thế rồi dân làng cũng đành chịu cho anh ở lại, dần dần thành quen vì cũng không thấy anh làm điều gì tai hại cho họ, ngược lại là khác. Mấy năm sau, Cardina nhiễm phải căn bệnh sốt tê liệt, anh đã có thể ra đi để được chữa trị, nhưng anh đã trụ lại đến cùng. Sau khi anh qua đời, dân làng cảm phục trước Lòng Tin kiên trì của anh, đã tự ý tìm đến một Giáo Ðiểm khác xin học đạo. Những Giáo Lý Viên khác đã được cử đến, và không lâu sau đó, hầu hết cả làng đã theo Công Giáo.

Giờ đây, cha Alexis được dẫn tới trước phần mộ của người Giáo Lý Viên quả cảm trong âm thầm này bên rìa ngôi làng, ngay nơi Cardina đã sống và đã chết như một nhà truyền giáo anh hùng. Ngài chỉ còn biết cầu nguyện cảm tạ Thiên Chúa, trong khi những người tân tòng vây quanh cùng hát lên bài Thánh Ca mới được tập cách nay không lâu:

"Hạt lúa gieo vào lòng đất mà không mục nát đi, thì sẽ chẳng sinh được nhiều bông hạt..." ( Ga 12, 24 )

Dựa theo nội san THÁNH THỂ số 7

CHỨNG TỪ 2:

ÐỨC GIÊ-SU LÀ BẠN ÐỒNG HÀNH

Khi nghe nói về Ðức Giê-su Ki-tô, tôi chẳng biết Ngài là một vị vua hay một vị Thánh nào, nhưng từ khi quen cô Hậu, muốn đeo đuổi cô ta, nên tuần nào tôi cũng đi lễ Nhà Thờ, có tuần đi tới lễ tới năm ngày và kéo dài như vậy trong suốt ba năm nay. Lúc đầu tôi chẳng biết nghi thức gì, thấy người ta làm sao tôi làm theo vậy, rồi cứ thế tôi dần dần biết nhiều hơn. Tôi rất thích nghe cha giảng. Nếu không hiểu, tôi lại có cớ để hỏi thăm cô Hậu. Nhờ đó, tôi bắt đầu biết Ðức Ki-tô và bắt đầu cầu nguyện với Ðức Ki-tô cho hai đứa chúng tôi mãi mãi yêu nhau.

Ðức Ki-tô là một vị Vua và cũng là một vị Anh Hùng mà nhiều người biết đến. Ðức Ki-tô có thể làm nhiều điều mà con người trong thế gian này không làm được. Người đã chết và sống lại, và Người đang sống trong con tim tôi, đang cùng một nhịp đập với tôi. Ai tin vào Ðức Ki-tô thì đón nhận được Lòng Tin nơi Ngài. Ðức Ki-tô trở nên Người Cha tôi luôn tôn kính và Người cũng là người bạn đồng hành với tôi trong suốt cuộc đời.

Ðức Ki-tô là "người-vũ-trụ", vì Người đồng hành với hết mọi người đến với Ngài. Ngài rộng mở và đón nhận tất cả những ai theo Người. Ðức Ki-tô muốn mọi người sống đúng với tước vị con Thiên Chúa.

Ðức Ki-tô là vị cứu tinh cho người đi trêch hướng, Người sẽ dẫn họ quay trở lại. Ðức Ki-tô là một vị anh hùng bất khuất, quyết không ham sống sợ chết, Người đại diện cho Nước Chúa Trời, nên dù có bị đóng đinh trên thập giá thì ngày nay Người vẫn đang sống hàng ngày hàng giờ với bạn cho đến khi bạn tắt thở.

Từ khi thường đi lễ với cô bạn gái gần cưới, ( nói là gần cưới chứ chắc còn phải lâu lâu ), tôi quên đi cái cảm giác đợi chờ nhờ thích nghe cha giảng về Ðức Ki-tô, để Ðức Ki-tô thấm vào thân thể và cũng nhận ra Ðức Ki-tô nơi công việc. Hàng ngày, khi nói chuyện với ai, tôi cũng dễ nhớ về Ðức Ki-tô, nhất là về những lời Người nói, những việc Người làm.

Mỗi ngày tôi đều cầu nguyện với ý thức mình là bạn của Chúa, đang cùng Ðức Ki-tô đi trên con đường của Người như các Tông Ðồ Người yêu mến ngày xưa. Muôn thời đã trôi qua, có gì tốt đẹp cũng là nhờ Người mà có. Tôi cầu nguyện như nói chuyện với Người về mọi chuyện, nhất là những chuyện tôi buồn, những điều tôi không giải quyết được.

Tôi cầu xin Ðức Ki-tô an ủi tôi và gánh vác cuộc đời tôi vượt qua những khó khăn. Ðức Ki-tô đã cho tôi niềm tin và nghị lực. Trong tương lai, tôi muốn sống chung với Ðức Ki-tô trong suốt cuộc đời.

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, con muốn theo chân Ngài. Xin cho con am hiểu về Ðạo nhiều hơn.

Ðức Ki-tô còn đồng hành với cả những người mà cộng đồng không nhìn đến. Ðức Ki-tô yêu mọi người, vì Người bảo: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Tôi thấy mình đang hòa nhập với Ðức Ki-tô và Người đồng hành với tôi trên mọi lãnh vực trong đời sống hàng ngày của tôi. Ðức Ki-tô là tấm gương soi chiếu đời tôi. Tôi nghĩ mình có Ðức Tin, nghị lực và sự sống tràn đầy do Ðức Ki-tô ban cho. Tôi cầu nguyện cho thế giới này được yên ổn, không có chiến tranh, không còn phân biệt chủng tộc.

Lạy Chúa chúng con ở trên trời...

LÊ LẬP QUỐC, HLV quần vợt, Sài-gòn, EPHATA số 1.2000

MẸ MA-RI-A VỚI TƯỚC HIỆU TRINH NỮ VƯƠNG ( CẢM HỨNG Lc 1, 26 - 38 )

Con người sinh ra ai cũng phải chết. Ðó là định luật tất yếu của thân phận làm người. Có nhiều cái chết. Có cái chết đặt vấn nạn cho ta về ý nghĩa cuộc sống. Chúa Giê-su cũng không thoát khỏi sự chết. Nhưng cái chết của Chúa Giê-su mang lại sự sống. Chết là phục sinh, là khải hoàn vinh thắng. "Nếu hạt lúa mì không chết đi, không thúi đi..." ( Ga 12, 24 ). Như vậy, cái chết của Chúa Giê-su là khởi điểm cho niềm hy vọng, niềm cậy trông của con người. Chết mới nói lên lời. Chết mới mang lại sự sống đời đời. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban con Một, để ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" ( Ga 3, 16 ).

Chính Chúa Giê-su đã xác nhận điều này. Mẹ Ma-ri-a là Mẹ của Chúa Giê-su và là Mẹ của nhân loại, là Mẹ của mỗi người có lòng tin. Mẹ cũng phải trải qua cái chết, nhưng cái chết của Mẹ mang ý nghĩa cao siêu cho cuộc sống con người: chết là biến đổi, là khởi điểm cho cuộc sống mới. Mẹ chết đi là để được về với Chúa cả hồn lẫn xác trên Nước Trời. Mẹ chết đi để được khải hoàn, ngồi bên cạnh Chúa, làm Nữ Vương Vũ Trụ Trời Ðất. Mẹ là Nữ Vương uy quyền trước mặt Chúa. Mẹ cầu bầu cho nhân loại khỏi sa vào tay ma quỉ, sự dữ.

Mẹ là Nữ Vương Vũ Trụ Trời Ðất luôn liên kết với con Mẹ: Ðức Giê-su Ki-tô trong công cuộc cứu rỗi nhân loại. Mẹ là Nữ Vương với đầy đủ ý nghĩa của chữ Nữ Vương. Một Người Mẹ đầy uy quyền luôn ở bên ngai tòa con của Mẹ. Một người Mẹ luôn tế nhị, nhắc nhớ con người hãy làm theo ý Chúa để được ơn cứu độ: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" ( Ga 2, 5 ). Một Người Mẹ đã nong nả đem Tin Vui cho bà chị họ là bà Ê-li-da-bét và cho nhân loại qua Gio-an Tẩy Giả còn trong cung lòng mẹ của mình. ( Lc 1, 39 - 56 )

Lạy Mẹ Ma-ri-a Trinh Nữ Vương, con đang sống cách Mẹ gần 2.000 năm. Mẹ đã được Thiên Chúa tuyển chọn cách đặc biệt nhất hơn mọi người trên thế gian. Mẹ đã được Thiên Chúa giữ gìn, bao bọc, chở che như Con ngươi mắt Chúa. Con cảm nghiệm tình thương vô biên của Chúa. Con như thấy Mẹ đang sống với con trong giây phút hiện tại này. Xin làm cho giây phút hiện tại đời con luôn đẹp mãi. Giây phút có Mẹ ở cùng, có Mẹ hiện diện. Ðó là giây phút đẹp nhất đời con. Con luôn cảm thấy cuộc đời của con là bài học yêu thương vì Mẹ đã dậy con: "Người bảo gì hãy làm theo". Cuộc đời của con luôn đẹp vì con đã biến mọi biến cố, mọi giây phút cuộc đời thành những nghĩa cử yêu thương.

Lạy Mẹ Ma-ri-a, Trinh Nữ Vương, xin Mẹ mở rộng cửa Trời cho con và mọi người để chúng con vào chiêm ngắm vinh quang của Mẹ. Vinh quang Mẹ đã nhận lãnh từ nơi Chúa Giê-su Con của Mẹ. Vinh quang đầy uy quyền qua tước hiệu Trinh Nữ Vương. Xin Mẹ soi sáng, chỉ đường dẫn lối cho chúng con để cuộc hành trình đầy cam go dưới thế, chúng con đầy can đảm và nghị lực để vượt thắng. Mẹ là Ngôi Sao Biển dẫn chúng con trong cuộc hải hành vượt sóng ba đào tiến bước về quê Trời hưởng dung nhan sáng ngời của Mẹ.

"Kính chào Ðức Nữ Vương,
Bà là Mẹ xót thương,
Ngọt ngào cho cuộc sống,
Kính chào Lẽ Cậy Trông"

Amen. Ha-lê-lui-a.

Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT

THÔNG TIN:

THÔNG TIN VỀ CÁC KHOẢN TIỀN ÂN NHÂN MỚI GIÚP

- Ông bà Peter Cao ( Hoa Kỳ ) giúp người nghèo ................................................................................................................ 150 USD

- Ông André Barthe ( Pháp ) giúp người nghèo .................................................................................................................... 100 USD

- Chị Cécile và các ân nhân ( Pháp ) giúp các em học sinh nghèo ..................................................................... 2.000.000 VND

- Hai bạn MK Ðức Huân - Quý Hảo ( Việt Nam ) giúp học bổng các em nghèo ................................................. 400.000 VND

- Hai bạn MK Văn Hải - Kim Phượng ( Việt Nam ) giúp học bổng các em nghèo .............................................. 300.000 VND

- Một bạn Cựu Sinh Viên Công Giáo ( Việt Nam ) giúp 3 em học sinh nghèo ................................................... 900.000 VND

THÔNG TIN VỀ GIA ÐÌNH MỘT EM HỌC SINH NGHÈO Ở ÐỒNG NAI

Cha Giu-se Phạm Hùng Sơn, Giáo Xứ Ðịnh Quán giới thiệu trường hợp gia đình anh Giê-rô-ni-mô Ðặng Minh Thành, 34 tuổi, và chị Lu-ci-a Phạm Thị Kim Long, 29 tuổi, hiện ngụ tại số 518 ấp Hiệp Ðồng, thị trấn Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai. Anh Thành bị tai nạn gãy cột sống 10 năm nay, phải ngồi xe lăn. Chị bị bệnh phong sù, thường bị lên cơn. Hai vợ chồng lãnh hạt điều về nhà làm, thu nhập chỉ được khoảng 7 8.000 VND một ngày, chỉ đủ để đắp đổi rau cháo qua ngày.

Gospelnet xin trợ giúp 50.000 VND mỗi tháng, cho con gái của anh chị Thành là cháu An-na ÐẶNG THỊ KIM YẾN, sinh năm 1992, đang học lớp 4. Tổng cộng: 400.000 VND cho 8 tháng, kể từ tháng 5 đến hết năm 2002, nhờ anh Phạm Văn Lượng, Huynh Ðoàn Ki-tô Bệnh Nhân và Khuyết Tật, chuyển đến cho anh chị.

THÔNG TIN VỀ 12 EM "HỌC BỔNG AN THỚI ÐÔNG"

Như đã thông tin trong nhiều số báo Gospelnet trước đây, nay xin tiếp tục trợ giúp học bổng 600.000 VND của tháng 6. 2002, cho 12 em học sinh nghèo tại Ðiểm Truyền Giáo An Thới Ðông do cha Hoàng Minh Ðức, DCCT, phụ trách.

THÔNG TIN VỀ 2 TRƯỜNG HỠP TAI NẠN XE Ở KIẾN ÐỨC

Chị Thanh Nhàn, một Giáo Dân ở thị trấn Kiến Ðức, huyện Dak-lap, tỉnh Dak-lak giới thiệu 2 trường hợp tai nạn ngặt nghèo cần được trợ giúp sau đây:

- Chị NGUYỄN THỊ QUYÊN, 29 tuổi, có 5 con, gia đình rất nghèo, bị tai nạn xe, phải đưa về Sài-gòn điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy để kéo xương ra.

- Em TRẦN THỊ NGỌC ÁNH, 14 tuổi, gia đình rất nghèo, ngụ tại thôn 10, xã Quảng Tín, huyện Dak-lap, thị trần Kiến Ðức, bị tai nạn xe, phải nẹp xương, nay cần trở lại bệnh viện để tháo các đinh chốt trong xương.

Gospelnet xin trợ giúp mỗi trường hợp 500.000 VND. Tổng cộng: 1 triệu VND, nhờ chị Thanh Nhàn chuyển đến cho chị Quyên và em Ánh.

THÔNG TIN VỀ MỘT NGƯỜI GIÀ CẦN XE LĂN Ở ÐỒNG NAI

Sr. Tuyết Trinh, Dòng Ða-minh, giới thiệu trường hợp bà VŨ THỊ MÀU, sinh năm 1925, thuộc Giáo Xứ Thái Xuân, xã Xuân Ðịnh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Ðồng Nai, bị tai biến và suy tim độ 3, liệt cả hai chân. Gospelnet xin trợ giúp bà Màu một chiếc xe lăn, loại không xếp được, trị giá 650. 000 VND.

THÔNG TIN VỀ 3 EM HỌC SINH NGHÈO Ở SÀI-GÒN ÐƯỠC TRỠ GIÚP

Sau khi Gospelnet số 59 được gửi đi, ngày Chúa Nhật 5.5.2002, chúng tôi nhận được thư của một bạn Cựu Sinh Viên Công Giáo không ghi tên họ, muốn trợ giúp 900.000 VND cho 6 tháng liền kể từ tháng 7 đến hết tháng 12.2002 ( mỗi tháng mỗi em được 50.000 VND ) cho 3 em học sinh nghèo do thầy Phó Tế Nguyễn Văn Thật, DCCT, giới thiệu sau đây:

1. Em NGUYỄN NGỌC MY, 11 tuổi, học lớp 6 trường Phạm Văn Chiêu, hiện ngụ tại 4 / 1A ấp 7 tổ 1, phường Thạnh Xuân, quận 12, Sài-gòn.

2. Em NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG, học lớp 4 trường Hồng Gấm, Gò Vấp, hiện ngụ tại số 3 / 1 khu phố 1, phường Thạnh Xuân, quận 12, Sài-gòn.

3. Em DƯƠNG ANH DŨNG, 15 tuổi, học lớp 6, hiện ngụ tại một căn nhà sâu trong hẻm không có số, mượn địa chỉ để liên lạc số 190 đường 26.3 phường 15, quận Gò Vấp, Sài-gòn.

THÔNG TIN VỀ 3 TRƯỜNG HỠP HỌC SINH NGHÈO Ở QUẢNG NAM

Cha Trần Ngọc Nhơn, Giáo Xứ Tiên Phước, Giáo Phận Ðà Nẵng, giới thiệu 3 trường hợp học sinh nghèo ở tỉnh Quảng Nam như sau:

1.    Em BÙI THỊ KIM TIẾN, sinh 11.8.1984, đang học lớp 12, cha là ông Bùi Khoang đã qua đời, mẹ là bà Nguyễn Thị Thâu, giáo viên, 49 tuổi, có 5 con, ngụ tại thôn 2, xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Hoàn cảnh gia đình rất nghèo.

2.    Em BÙI THANH HUẤN, sinh 6.1.1981, đã học xong lớp 12, thi đậu tốt nghiệp từ năm ngoái tại trong THPT Huỳnh Thúc Kháng, cha là ông Bùi Hạnh 46 tuổi, mẹ là bà Phạm Thị Ngoa, 45 tuổi, ngụ tại thôn 2, xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Hoàn cảnh gia đình rất nghèo.

3.    Em BÙI QUANG TIẾN, sinh 14.8.2002, đang học lớp 12 trường PTTH Huỳnh Thúc Kháng, cha là ông Bùi Văn Lộc, 37 tuổi, mẹ là bà Trần Thị Thu, 36 tuổi, ngụ tại thôn 2, xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Hoàn cảnh gia đình rất nghèo.

Gospelnet xin trợ giúp cho các em trong 4 tháng, kể từ tháng 5 đến hết tháng 8 năm 2002, trước và sau khi hết năm học, mỗi em là 200.000 VND. Tổng cộng số tiền chuyển đến cha Trần Ngọc Nhơn cho 3 em là 600.000 VND.

THÔNG TIN VỀ MỘT BÀ CẦN MỔ CƯỜM MẮT

Thầy Trần Công Thuận, DCCT, giới thiệu trường hợp bà HUỲNH THỊ SÁU, 61 tuổi, ngụ tại 343/296 Trần Văn Kiểu, phường 7 quận 6, Sài-gòn bị lòa hai mắt do bệnh cườm. Gospelnet đã trợ giúp 200.000 VND và giới thiệu với các bác sĩ ở bệnh viện Mắt Ðiện Biên Phủ để bà được xét nghiệm và giải phẫu sớm.

THÔNG TIN MỚI VỀ DỰ ÁN CHĂN NUÔI CỦA CÔ NHI VIỆN VINH-SƠN 2

Như Gospelnet số 60 ra ngày 5.5.2002 đã trình bày, Dự Án này có 3 mục chính, trong đó, mục số 2 về Heo Giống đã được bác sĩ Bích Ðào vận động một số quý vị ân nhân ở Pháp nhận trợ giúp 900 USD ( khoảng 13.500.000 VND ). Nay chúng tôi lại mới nhận được Mail của cha Phạm Quốc Hùng ở Kansas, Hoa Kỳ báo tin đã vận động được một số quý vị ân nhân ở Hoa Kỳ nhận trợ giúp thêm 1.000 USD cho mục 1 về Vật Liệu Xây Dựng và mục 3 về Thực Phẩm Nuôi Heo ( khoảng 15.000.000 VND ).

Như vậy, tổng cộng Dự Án này đã nhận được 1.900 USD ( khoảng 28.500.000 VND ), vượt hẳn dự kiến trước đây của các Sr. Dòng Ảnh Vảy là 20.266.000 VND. Tất cả số tiền nói trên sẽ được chuyển ( 900 USD ) qua ông Nguyễn Thế Bài ( Nha Trang ) và được gửi trực tiếp ( 1.000 USD ) đến tận tay Sr. Y-Chenh, Dòng Ảnh Vảy, phụ trách Cô Nhi Viện Vinh-sơn 2, Giáo Phận Kontum. Gospelnet đã báo tin vui ngay cho các Sr. Xin tạ ơn Chúa và biết ơn tất cả quý ân nhân tại Pháp và Hoa Kỳ đã tận tâm và nhanh chóng chia sẻ.

THÔNG TIN VỀ "HỌC BỔNG ÐÔNG THẠNH"

Gospelnet xin tiếp tục gửi số tiền 1.050.000 VND đến cô giáo Phan Mỹ Linh, trường Phổ Thông Cơ Sở Ðông Thạnh để phân phối đến gia đình 21 em học sinh nghèo đang sống trong khu vực bãi rác Ðông Thạnh, huyện Hóc Môn, thành phố Sài-gòn, trong chương trình mang tên "Học Bổng Ðông Thạnh" trong tháng 5 của năm 2002.

THÔNG TIN VỀ "HỌC BỔNG XUÂN HIỆP"

Gospelnet xin tiếp tục gửi số tiền 700.000 VND đến Sr. Nguyễn Thị Ánh, Dòng Ða-minh Rosa Lima, để phân phối đến gia đình 14 em học sinh nghèo trong chương trình mang tên "Học Bổng Xuân Hiệp" trong tháng 5 của năm 2002.