GOSPELNET
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH NĂM A

TIN MỪNG: Ga 14, 15 - 21

NHỮNG LỜI CÁO BIỆT

Khi ấy Ðức Giê-su nói cùng các môn đệ rằng: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy."

SUY NIỆM 1:

DƯỚI TÁC ÐỘNG THÁNH THẦN

Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, các bài đọc 1 được trích trong sách Công Vụ Tông Ðồ. Một nhà chú giải Thánh Kinh đã gợi hứng đổi Công Vụ Tông Ðồ thành Công Vụ của Chúa Thánh Thần. Bốn sách Tin Mừng là Phúc Âm của Chúa Giê-su, còn Công Vụ Tông Ðồ chính là Phúc Âm của Chúa Thánh Thần.

Sách Công Vụ Tông Ðồ là một trong những tài liệu lịch sử quý giá nhất của Thánh Kinh. Ðó là lịch sử hiện hữu duy nhất của Ki-tô giáo được viết ra trước thế kỷ thứ III. Nhờ đó chúng ta biết rõ sự lớn dậy của Ki-tô giáo ở Palestina hay về công cuộc Truyền Giáo tại Syria, Tiểu Á, Hy-lạp và Rô-ma. Bình minh của một kỷ nguyên mới bắt đầu ló dạng.

Giáo Hội đã sống tuổi thanh xuân của mình giữa lòng Ðế quốc Rô-ma, phải đối diện với ba thách đố lớn là Do-thái giáo, chính trị Rô-ma và triết học Hy-lạp. Giáo Hội phải bung ra khỏi Do-thái giáo, hội nhập vào triết học Hy-lạp để lan rộng trên toàn đế quốc Rô-ma. Chỉ với những người dân chài Ga-li-lê ít học, chỉ với một Phao-lô nhiệt thành, thế mà Giáo Hội lớn mạnh không ngừng trước bao thử thách thời đại.

Chính Chúa Thánh Thần đã không ngừng dẫn dắt Giáo Hội. Ðúng như lời Thánh I-rê-nê đã nói: "Ở đâu có Thánh Linh của Ðức Ki-tô ở đó có Hội Thánh. Ở đâu có Hội Thánh ở đó có Thánh linh và ân sủng"

Sách Công Vụ Tông Ðồ trình bày lịch sử dưới ánh sáng đức tin. Sau khi Phó tế Stê-pha-nô bị ném đá thì khởi đầu cuộc bắt bớ rộng lớn chống Giáo Hội ở Giê-ru-sa-lem. Cộng đoàn Ki-tô hữu ở đây bị phân tán, nhiều tín hữu thoát khỏi đô thị đi tìm nơi ẩn náu. Họ đi tới đâu là rao giảng Tin Mừng tại đó. Chính đây là lúc câu nói thời danh của văn hào Tertuliano được ứng nghiệm "Máu các Thánh Tử Ðạo là hạt giống làm nảy sinh các Ki-tô hữu".

Các cộng đoàn Diaspora được thành lập. Họ hội nhập vào văn hoá địa phương để rao giảng Tin Mừng. Ðoạn sách Công Vụ Tông Ðồ của Chúa Nhật hôm nay kể lại vị sứ giả đầu tiên đã mang Tin Mừng đến cho người ngoại giáo, đó là người Do-thái nói tiếng Hy-lạp, phó tế Phi-lip-phê. Ngài tới thủ đô Sa-ma-ri rao giảng làm phép lạ, chữa lành nhiều bệnh tật. Người ta vui mừng đón nhận và xin theo Ðạo ( Cv 8, 5 - 8 ). Sau khi xứ Sa-ma-ri được đón nhận Tin Mừng, các Tông Ðồ đã cử Phê-rô và Gio-an đến cũng cố Niềm Tin cho các tân tòng ( Cv 8, 14 - 24 ).

Kinh nghiệm sống đức tin của cộng đoàn tín hữu sơ khai là bài học quý giá cho chúng ta. Họ bị nhận chìm trong gian truân thử thách, nhưng chính lúc ấy họ cảm nhận sự hiện diện và hoạt động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần. Như ngọn gió cuốn bay những hạt giống để rồi hạt giống lại gieo mầm sống mới ở nơi khác, ngọn gió Chúa Thánh Thần qua những cơn bách hại cũng mang lại những hiệu qủa lạ lùng. Chúa Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội, càng bị bách hại Giáo Hội càng lớn mạnh không ngừng.

Ðọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sau sắc dụ cấm đạo của vua Cảnh Thịnh, các cuộc bắt đạo gay gắt khiến cho những người tín hữu ở các vùng Quảng Trị, Cổ Vưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa chạy vào rừng núi La Vang để trốn tránh. Ðức Mẹ đã hiện ra an ủi, trợ giúp. La Vang đã trở thành trung tâm hành hương của Giáo Hội Việt Nam. Các chỉ dụ cấm đạo dưới thời vua Minh Mạng, Tự Ðức đã phân tán các cộng đoàn Ki-tô hữu. Họ xuôi vào Nam trốn tránh, đến vùng đất mới, rừng thiêng nước độc, họ khai khẩn điền địa và lập nên những cộng đoàn mới. Nhờ đó, khi các vị Thừa Sai đến Truyền Giáo, hạt giống Ðức Tin được nảy mầm và phát triển nhanh chóng.

Như hạt giống gieo xuống đất và chờ đợi, những cơn mưa đầu mùa tuôn đổ, hạt giống âm thầm đón nhận sức sống, nảy mầm, bén rễ, lớn nhanh, những cộng đoàn tín hữu đang sống đức tin thầm lặng đã gặp được các chủ chăn nên lớn mạnh và nhiều giáo xứ đã được thành lập. Chỉ trong nhãn giới đức tin, chúng ta mới nhận ra sức tác động mãnh liệt Chúa Thánh Thần, trong mọi thử thách Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần nâng đỡ, trong mọi biến cố đau thương luôn có Chúa Thánh Thần an ủi dẫn dắt. Mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời đều là lời mời gọi, lời nhắn nhũ, lời cảnh báo. Ði tìm Thánh Ý Chúa, con người cần biết giải mã các biến cố ấy trong ánh sáng đức tin.

Ngày nay, có lẽ không còn những cơn bắt bớ và bách hại như xưa, thế nhưng những gian nan, những thử thách vẫn không thiếu trong đời sống đức tin. Thời đại hôm nay là thời đại xẻ núi lấp sông, vượt trùng dương, chinh phục không gian, bùng nổ thông tin, toàn cầu hoá... Nhưng xã hội hôm nay đang bị tục hoá với muôn ngàn cám dỗ ngọt ngào tinh vi của ma quỹ, xã hội đang đánh mất chiều kích siêu hình, không còn cảm thức về tội lỗi. Giáo Hội phải đối diện với một xã hội mà như triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre đã nói: "Thiên Chúa phải chết để cho con người được tự do".

Người ta đang xây dựng một xã hội không có Thiên Chúa, tôn giáo bị tách ra khỏi xã hội. Con người mãi mê chạy theo lối sống hưởng thụ thực dụng, cá nhân chủ nghĩa. Như thế người Ki-tô hữu phải sống và diễn tả niềm tin của mình như thế nào đây ? Bài Phúc Âm chiếu ánh sáng soi đường. Chúa Giê-su đã loan báo: "Ðấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con" ( Ga 14, 26 ).

Khi người tín hữu chúng ta được Chúa Thánh Thần đổ tràn ơn thiêng trong đời, chúng ta sẽ yêu mến Chúa, được Chúa Cha và Chúa Giê-su ngự đến trong tâm hồn ( Ga 14, 21 ), được Chúa ban sự bình an tuyệt vời, bình an không như thế gian ban tặng ( Ga, 14, 27 ). Chúa Thánh Thần chính là chìa khoá mở ra cuộc sống mới trong Ðức Ki-tô. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, người tín hữu làm được mọi sự trong ân sủng Ðức Ki-tô. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta sống Tin Mừng, vượt qua các thách đố thời đại như cộng đoàn tín hữu sơ khai đã vượt qua mọi trở ngại để loan báo và mở rộng Nước Chúa.

Ở đâu có Thần Khí là ở đó bừng lên niềm vui. Mùa xuân làm cho vạn vật bừng dậy màu xanh sự sống, Thần Khí làm cho mọi tâm hồn tràn đầy sức sống mới. Gio-an Tẩy Giả "nhảy mừng trong lòng mẹ" Ðức Ma-ri-a hát lên bài ca Magnificat. Các Mục đồng hớn hở đi Bê-lem. CácTông Ðồ trở nên những con người mới. Các Thánh Tử Ðạo hiên ngang tiến ra pháp trường. Và chúng ta cũng được trở nên con cái Thiên Chúa, sống chứng nhân cho tình yêu, can đảm loan báo Tin Mừng Phục Sinh trên mọi nẻo đường phục vụ.

Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN

SUY NIỆM 2:

LUẬT YÊU MẾN

1. Các điều răn của Chúa Giê-su:

Bất cứ người Ki-tô hữu nào cũng đều biết "kính Chúa yêu người" là điều răn quan trọng và cơ bản nhất của Ki-tô giáo. Kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Yêu thương người như chính mính. Tất cả mọi luật lệ, mọi sự trọn lành đều qui về hai-giới-răn-đã-trở-thành-một-ấy ( Mt 22, 37 - 40 ). Chúa Giê-su đã gọi "yêu thương" là điều răn mới, là điều răn riêng của Người, là dấu chứng của người môn đệ. Và Người đã nâng tiêu chuẩn cho tình yêu thương ấy lên mức rất cao "yêu tha nhân như chính Người đã yêu" ( Ga 14, 34 - 35 ).

2. Nếu giữ các điều răn của Chúa Giê-su, chúng ta sẽ được gì ?

Câu hỏi này không phải chỉ chúng ta là những con người thực dụng mới đặt ra với Chúa Giê-su mà cả các tông đồ và môn đệ của Chúa Giê-su cũng đã nêu lên với Người cách đây hai ngàn năm. Thật vậy chính Phê-rô, Tông Ðồ Trưởng, đã có lần hỏi Chúa Giê-su một cách chẳng mấy tế nhị: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?" ( Mt 19, 27 ).

Chúa Giê-su thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của con người, nên đã không ngại trả lời thẳng vào sự trông đợi âm thầm nhưng mãnh liệt của chúng ta: Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, (1) Anh em sẽ mãi mãi nhận được Ðấng Bảo Trợ Mới; (2) Anh em sẽ không sống mồ côi, đơn độc mà sẽ luôn có Thầy ở bên cạnh, ở trong tâm hồn anh em; (3) Anh em sẽ thấy được mối tương quan sâu sắc giữa Chúa Cha và Thầy; (4) Anh em sẽ được Cha Thầy yêu mến và tỏ mình ra cho anh em.

Ðó là 4 ơn huệ mà dù có suy gẫm ngày này qua ngày khác trong suốt cuộc đời lữ khách, chúng ta cũng không sao hiểu nổi tầm vóc lớn lao trọng đại của những ơn ấy. Và nếu Chúa Giê-su có ban những ơn ấy cho chúng ta, thì chỉ vì Người yêu thương chúng ta nên mới chia sẻ sự giầu sang thần linh của Người cho những người Chúa thương yêu. Chúng ta đừng mắc sai lầm mà nghĩ rằng Chúa ban cho chúng ta những ơn trọng đại ấy là vì chúng ta đã hy sinh, cố gắng và lập công !

3. Ðể giữ các điều răn của Chúa Giê-su, cụ thể chúng ta phải:

Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn

Yêu mến Thiên Chúa như thế nghĩa là chọn Thiên Chúa làm đối tượng ưu tiên số một, và đặt Thánh Ý và Thánh Danh Chúa lên trên hết và trước hết trong mọi hoạt động của chúng ta. Nói cách khác là chúng ta tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước hết và trên hết.

Nói thì rất dễ nhưng thực hiện mới khó, vì trong đời thường chúng ta dễ bị cuốn hút bởi những lợi ích cụ thể và trước mắt cũng như chúng ta dễ bị tác động bởi các động lực vật chất, danh vọng chóng qua mà bẵng quên ưu tiên số 1 của chúng ta phải là Thiên Chúa và Thánh Ý của Người.

Yêu tha nhân như chính mình

Yêu tha nhân một chút đã là khó. Huống hồ yêu tha nhân như chính mình thì lại càng khó hơn. Vì để yêu tha nhân như chính mình, chúng ta phải có một tình yêu vô vị lợi và lớn lao cao cả lắm mới có thể yêu như thế.

Yêu tha nhân như chính mình thì cũng dễ nói thôi, nhưng không dễ chút nào trong việc thực hiện tình yêu ấy, vì trong đời thường chúng ta thường lấy mình làm trung tâm mọi phục vụ, mọi sở hữu. Muốn yêu tha nhân như chính mình trước hết chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ: không lấy mình mà lấy người khác làm trung tâm mọi lo toan của mình. Câu hỏi có thể giúp chúng ta thực hiện tình yêu thương ấy là: hôm nay, tuần lễ này tôi đã làm được gì cho tha nhân, cho người chung quanh ?

Yêu tha nhân như chính Chúa Giê-su đã yêu họ và yêu ta

Chúa Giê-su không chỉ mời chúng ta yêu tha nhân như chính mình, mà còn đòi chúng ta yêu tha nhân như chính Chúa đã yêu. Chúng ta đều biết Chúa Giê-su đã yêu như thế nào: Người đã yêu đến nỗi đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ; Người đã yêu đến nỗi đã hóa mình thành bánh, thành rượu, thành lương thực nuôi sống những kẻ người yêu; Người đã yêu đến nỗi đã cam lòng chịu chết và chết trên thập gía để cứu chuộc mọi tội nhân trong loài người, trong đó có chúng ta.

Yêu tha nhân như chính mình đã là khó. Yêu tha nhân như chính Chúa Giê-su đã yêu thì khó hơn bội phần. Tự mình, chúng ta không thể yêu tha nhân cách ấy. Chúng ta chỉ có thể yêu tha nhân ở mức độ ấy khi chúng ta đã hoàn toàn nên giống Chúa Giê-su, có những tâm tình và hành động như Người.

Muốn thế, mỗi ngày và mỗi lúc cầu nguyện, chúng ta phải cầu xin Chúa Giê-su giúp chúng ta luôn biết lấy Người làm gương mẫu cho chúng ta noi theo, bắt chước. Và trong tất cả mọi sinh hoạt đời thường, chúng ta phải nỗ lực họa lại chân dung của Chúa Giê-su và bộc lộ tâm tình của Người bằng lời nói việc làm cụ thể của chúng ta.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin Chúa giúp chúng con luôn biết tuân giữ các điều răn của Chúa. Xin Chúa dạy chúng con biết yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn chúng con. Xin Chúa giúp chúng con biết yêu thương tha nhân như chính bản thân mình. Và xin Chúa giúp chúng con biết yêu thương tha nhân như chính Chúa đã yêu thương và hiến mạng sống cho những người Chúa yêu thương.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, chúng con biết rõ rằng không có Ơn thánh Chúa và Sức mạnh của Người, chúng con không thể kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như Lời Chúa dạy. Xin Chúa ban Ơn thánh và Sức mạnh của Chúa cho chúng con.

Lạy Chúa Thánh Thần là Sức Mạnh biến đổi các tâm hồn và bộ mặt trái đất, xin Chúa đổi mới chúng con, biến làm cho chúng con trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. Amen !

Gs. Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

SUY NIỆM 3:

YÊU CHÚA, HÃY TUÂN GIỮ LỜI CHÚA

Hình ảnh của người con khi phải đi xa nhà, vắng cha mẹ lâu ngày hay người chồng, người vợ ngăn cách nhau thời gian lâu sẽ cho ta cảm tưởng có những sự lưu luyến, bịn rịn và một trong những tâm tình đầu tiên là lời nhắn nhủ của cha mẹ đối với con khi tiễn biệt xa cách: con hãy ngoan ngoãn, giữ lời cha mẹ chỉ bảo, dặn dò, cố gắng học hành, cố gắng làm ăn để có một tương lai tốt đẹp, không làm hổ danh cha mẹ, không phụ công lao của cha mẹ v.v... Còn đối với vợ, với chồng khi phải xa nhau, họ sẽ có những lời dặn dò đầy tâm huyết: "hãy trung thành và nhớ tới nhau".

Chúa Giê-su cũng vậy, trước khi đi thật xa, về cùng Cha của Ngài, Ngài đã chuẩn bị tư thế, chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ. Ngài đã dặn dò, khuyên nhủ các môn đệ nhiều lần, Ngài đã nói với các môn đệ với hết tâm tình, hết con tim của mình: "Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" ( Ga 15, 12 ). Lời này Chúa Giê-su cũng nhắn nhủ chung cho Giáo Hội của Ngài, một Hội Thánh mà Ngài là tảng đá mà người thợ xây loại bỏ, đã trở nên tảng đá góc tường, một Giáo Hội đã được xây dựng trên nền tảng là các tông đồ.

Hôm nay, trước lúc về trời như lời tâm huyết sâu xa nhất, Chúa Phục Sinh đã hứa sẽ ban Thánh Thần, Ðấng Phù Trợ đến để nâng đỡ các tông đồ, rồi Ngài khuyên các môn đệ phải có lòng tôn trọng yêu thương nhau và các môn đệ cũng phải có lòng yêu mến đối với Ngài: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" ( Ga 14, 15 ).

I. LỜI DI CHÚC CỦA CHÚA GIÊ-SU TRƯỚC KHI VỀ TRỜI:

Trước khi về trời, Chúa Phục Sinh không muốn để các môn đệ u buồn sầu não mãi mãi, Ngài muốn cho các môn đệ hiểu rõ rằng Ngài sẽ không bỏ rơi các ông, Ngài trấn an, ủi an các ông: "Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" ( Ga 14, 1 ). Chúa hứa với các ông: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi, Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho tới tận thế" ( Ga 14, 18 ).

Nhưng để mãi sống trong sự liên kết với Chúa như Chúa đang nói với các ông, Chúa khuyên răn và nhắn nhủ các ông: "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" ( Ga 14, 21 ).

Chúa Giê-su Phục Sinh đã liên kết với Cha của Ngài bằng một tình yêu sâu thẳm, vì yêu mến, kính trọng Cha, Chúa Giê-su đã luôn làm theo ý của Cha Ngài: "Lạy Cha nếu có thể được thì xin cất khỏi con chén này, nhưng đừng theo ý con mà theo ý của Cha".

Vậy, yêu mến Chúa Giê-su, các môn đệ và mọi người phải tuân giữ mọi điều Chúa dặn, Chúa nhắn bảo cũng như Ngài đã tuân theo ý Cha Ngài thế nào, thì các môn đệ và nhân loại, Giáo Hội cũng phải tuân theo và thực hiện lời của Chúa. Ðức Giê-su đã yêu mến Cha Ngài đến nỗi Ngài đã thực hiện tuân giữ Lời Của Chúa Cha và chỉ làm mọi sự theo ý Cha để tất cả cho vinh danh của Cha. Chính vì lòng yêu mến tột bực của Chúa Giê-su đối với Chúa Cha đã làm cho Ngài và Cha Ngài nên một. "Ta và Cha Ta là một" ( Ga 10, 30 ).

Như thế, lời truyền lệnh cho các môn đệ trước khi Chúa Giê-su về trời không chỉ là lời nói suông cho qua lệ, lời nói trên đầu môi chóp lưỡi mà chính là một lời tâm huyết, một lời di chúc phải thực hiện để chứng tỏ lòng yêu mến, hiếu thảo và tôn kính của môn đệ và mọi thế hệ kế thừa sau. Chúa Giê-su đã để lại gương tuyệt hảo cho các môn đệ và mọi thế hệ noi theo, đó là Ngài luôn làm mọi sự theo ý Cha và chỉ làm mọi việc theo ý Cha của Ngài vạch ra, hướng dẫn. Ta có thể nói mà không sợ quá lời là cuộc sống của Chúa Giê-su là cuộc sống của Cha, hành động, lời nói, cử chỉ, thái độ của Chúa Giê-su là của Cha.

II. HỘI THÁNH VÀ MỌI NGƯỜI MUÔN THẾ HỆ PHẢI NOI GƯƠNG BẮT CHƯỚC CHÚA:

Là môn đệ của Chúa Giê-su, chúng ta và Giáo Hội của Ngài không thể đi đường lối nào ngoài con đường mà Chúa Giê-su đã đi, đã chỉ dẫn và vạch cho con người bước theo: tuân giữ và thực thi Lời của Chúa. Có tuân giữ và thực thi Lời của Chúa, Giáo Hội và nhân loại mới sống trong tình liên đới yêu thương. Yêu thương mà Chúa Giê-su đã thực hiện và trối lại cho nhân loại là phục vụ và tự hiến.

Phục vụ trong khiêm nhường, vô vị lợi và bao dung như gương Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ và yêu thương cho tới cùng: "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng Tình Yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu" ( Ga 15, 13 ). Yêu thương của Chúa là "Lương thực của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta" ( Ga 4, 32 ) hoặc như thánh Phao-lô đã viết: "Này con xin đến, như trong cuốn sách đã viết về con, để thi hành ý Cha" ( Dt. 10, 4 - 7 ) và như thế, yêu thương tự hiến là "Người đã hạ mình xuống, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá" ( Pl 2, 8 ).

Chúa Giê-su đã sống, đã thực hiện tận cùng cuộc đời của mình bằng cái thật hoàn toàn tự hiến, tự nguyện và hoàn toàn theo ý của Cha. Giáo Hội và muôn thế hệ sẽ sống thật với mình, sẽ nêu gương cho mọi người, khi biết giữ Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống.

Thánh Phao-lô nói: "Ðức Tin không có việc làm là Ðức Tin chết". Lời nói không đi đôi với hành động là lời nói suông, lời nói không có giá trị nào cả. Chúa Giê-su đã từng nói: "Không phải những ai cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa mà được cứu rỗi, mà chỉ những ai giữ Lời và tuân theo Lời Chúa... hoặc "những ai nói rằng mình yêu mến Chúa mà không yêu anh em mình là những người ở bên, ở trước mặt, ở sau mình là những kẻ nói dối".

Lời trăn trối và lời hứa của Chúa sẽ muôn đời tồn tại: "...Thầy ra đi thì ích lợi hơn cho các con, vì nếu Thầy không ra đi thì Ðấng bầu chữa không đến với các con. Còn nếu Thầy ra đi thì Thầy sẽ sai Người đến với các con" ( Ga 16, 6 - 7 ).

Lạy Chúa Giê-su, xin ban cho chúng con luôn biết noi gương bắt chước Chúa: tuân giữ và thực thi Lời Chúa để chúng con được sống trong tình yêu sung mãn của Chúa và Chúa Cha. Xin giúp chúng con luôn biết nói lời xin vâng làm theo ý Chúa.

Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Ðiểm Truyền Giáo Fyan

CẦU NGUYỆN:

Ý CẦU NGUYỆN THÁNG NĂM: KÍNH ÐỨC MẸ

- Ý chung: Cầu nguyện cho các Ki-tô hữu trở nên những chứng nhân đáng tin cậy về niềm hy vọng của Tin Mừng. Xin cho các Ki-tô hữu sống phù hợp với Ðức Tin và trở nên những chứng nhân đáng tin cậy về niềm hy vọng do Tin Mừng đem lại.

- Ý truyền giáo: Cầu nguyện cho vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Nhờ Ðức Ma-ri-a, là Trinh Nữ và là Mẹ rất Thánh, nâng đỡ, xin cho vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội được bảo vệ và phát huy, trong mọi quốc gia và mọi nền văn hóa trên hoàn cầu.

"Các tín hữu hãy nhớ rằng lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Ðức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta" ( GH 67 ).

Gợi ý sám hối:

Xin Chúa tha thứ cho những lời nói và việc làm không phù hợp với đức tin Ki-tô giáo. Xin Chúa tha thứ cho những lời nói và việc làm của con đã coi khinh phẩm giá và nhân cách người phụ nữ. Xin Chúa tha thứ cho những thờ ơ, không tôn kính Ðức Mẹ Chúa Trời, hoặc những việc tôn sùng quá đáng, mê tín dị đoan.

Lời nguyện chung:

Anh chị em thân mến, sáng sớm Chúa Nhật Phục Sinh, Chúa Giê-su đón gặp các bà và nói: 'Chị em đừng sợ, hãy về báo tin cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê, ở đó họ sẽ gặp Thầy". Rồi trước khi về Trời, Chúa Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em". Thế nên, dù là nam hay nữ, chúng ta có bổn phận làm chứng cho Tin Mừng Chúa Ki-tô Phục Sinh. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho sứ mạng cao quí của mình được hoàn thành trong mọi hoàn cảnh:

- Khi nhận Bí Tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu đã hứa từ bỏ tội lỗi và tuyên xưng đức tin. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi Ki-tô hữu luôn sống điều mình đã hứa và dù trong cảnh ngộ nào, cũng trở nên những chứng nhân Tin Mừng, đáng tin cậy cho mọi người.

- Ðã qua 2.000 năm Ki-tô giáo, nhưng người Ki-tô hữu chưa được một phần ba dân số thế giới. Chúng ta cầu nguyện cho những anh chị em chưa tin Chúa Ki-tô, được ơn Chúa thúc đẩy, nhận thấy Chúa Ki-tô là Ðấng Cứu độ duy nhất trần gian, qua các chứng nhân sống động của các Ki-tô hữu, để cùng nhau tiến tới Nước Trời.

- Chúa Giê-su đã ân cần giao phó một số việc hệ trọng cho các chị em phụ nữ, hơn nữa, Mẹ Ma-ri-a rất hoàn hảo trong việc thực thi sứ mệnh Ðồng Công Cứu Chuộc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi thành phần xã hội, biết tôn trọng và phát huy vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình, xã hội và Giáo Hội ở mọi nơi.

- Nữ giới thì nhiều hơn nam giới; hơn nữa, xét về tâm lý giới nữ có những đức tính đáng trân trọng. Chúng ta cầu xin cho giới nữ biết quí trọng các đức tích cá biệt của mình, mà góp phần xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp hơn; đồng thời xin cho mọi người chấm dứt mọi tội ác lạm dụng nữ tính.

- Ðức Ma-ri-a là Mẹ phù hộ các giáo hữu và là Nữ Vương các Thánh Tông Ðồ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thể cộng đoàn Họ Ðạo, biết sốt sắng sùng kính mến yêu Mẹ, theo gương nhơn đức của Mẹ mà làm chứng nhân đáng tin cậy nhất, về những điều mà Tin Mừng loan báo.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã dùng sự chết và sống lại mà gầy dựng cho nhân loại một kho tàng Cứu Ðộ đời đời; Chúa lại truyền chúng con tiếp tục sứ mệnh phân phát ơn cứu độ cho muôn dân. Chúng con nài xin Chúa khấn ban Thánh Thần cho mọi Ki-tô hữu, biết vận dụng mọi khả năng Chúa ban, mà sống Ðức Tin và làm chứng về Ơn Chúa Cứu Ðộ. Chúa hằng sống hằng trị muôn đời. Amen.

Lm. NGUYỄN VĂN HIỀN, Giáo Phận Vĩnh Long

CHỨNG TỪ:

DÒNG NỮ TU THỪA SAI BÁC ÁI CỦA MẸ TÊ-RÊ-XA CALCUTTA

Dòng Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái do Mẹ Tê-rê-xa sáng lập năm 1949 tại Calcutta Ấn-độ. Mẹ qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997, cách đây gần 5 năm. Và Nữ Tu Nirmala, một trong các nữ tu đầu tiên của Dòng, là người kế vị Mẹ Tê-rê-xa trong chức vụ Bề Trên Tổng Quyền điều hành toàn Dòng.

Chị Nirmala thích sống âm thầm, tìm cách tránh mọi cuộc gặp gỡ với giới báo chí; nhưng trong những ngày vừa qua, nhân dịp phái đoàn Công Giáo Ý đến viếng thăm Calcutta, Chị đành phải tiếp đón và trong khi nói chuyện, chị cho biết tình hình của Dòng sau khi Mẹ Tê-rê-xa qua đời. Chị Nirmala, từ hơn 5 năm nay, lãnh nhận hướng dẫn toàn Dòng như gia tài lớn lao và khó khăn Mẹ Tê-rê-xa để lại. Chị vẫn tin chắc chắn rằng: "Mẹ vẫn còn sống giữa các chị em và chính Mẹ điều hành cách thiêng liêng công việc của Dòng".

Chị Nirmala sinh năm 1934 tại Banchi, trong Bang Bihar thuộc miền Ðông Ấn-độ. Cha cha mẹ chị là người Nepal, theo Ấn Giáo. Chị Nirmala Joshi nghe nói về Mẹ Tê-rê-xa lúc 24 tuổi. Do cuộc gặp gỡ riêng với Mẹ, Nirmala đã từ Ấn Giáo trở lại Ki-tô Giáo. Chị Nirmala đậu tiến sĩ về Khoa Chính Trị tại Ðại Học Ấn-độ và thi hành nghề luật sư trong ít năm. Sau đó, xin vào Dòng các Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái và là một trong các NữTu đầu tiên của Mẹ Tê-rê-xa, do chính Mẹ huấn luyện. Lúc xin vào tu, Mẹ nói thẳng thắn với Nirmala cũng như với các thiếu nữ khác: "Ðây là một đời sống gay go. Cô hãy về cầu nguyện nhiều đi đã, rồi hãy quyết định". Sau khi đã cầu nguyện và suy nghĩ, Nirmala nhất quyết xin theo Mẹ Tê-rê-xa. Sau khi khấn trọn đời, Sr được gởi đi hoạt động tại Panama ( Trung Mỹ ), và tại nhiều nước khác ở Châu Âu và tại Washington.

Trong cuộc gặp gỡ phái đoàn Ý, chị Nirmala quả quyết: "Mẹ Tê-rê-xa luôn luôn ở đây, luôn luôn ở giữa chúng tôi. Dĩ nhiên cách thiêng liêng. Mẹ chỉ đổi nơi ở mà thôi, từ đất về trời".

Nhà của các Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái ở Calcutta, nằm bên con đường xe cộ đi lại tấp nập ngày đêm. Tiếng ồn ào làm điếc tai, thâu qua cả các bức tường của Tu Viện; nhưng trong Nhà Nguyện nơi còn giữ những vật kỷ niệm của Mẹ Tê-rê-xa, thì tiếng động hầu như không ngăn trở chút nào việc cầu nguyện, suy ngắm. Còn tại nơi phần mộ của Mẹ Tê-rê-xa, nơi sân trong của toà nhà, luôn luôn có bông hoa tươi và chiếc đèn sáng. Từ gần năm năm nay, mộ của Mẹ trở nên nơi cầu nguyện, kính viếng của các tín hữu Ki-tô, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo. Một Nữ Tu nói với phái đoàn Ý: "Họ đến đây cầu nguyện mỗi ngày, và rất đông. Chúng tôi đón tiếp mọi người, bất cứ thuộc tôn giáo nào và giai cấp nào".

Trong cuộc gặp gỡ chớp nhoáng với phái đoàn Ý ngày 18.4.2002, khi phóng viên nhật báo Công Giáo Ý "Tương Lai", đặt một số câu hỏi, chị đã trả lời hết sức vắn tắt như sau:

Hỏi: Từ sau khi Mẹ Tê-rê-xa qua đời, có sự gì đổi thay không ?

Ðáp: Ơn Chúa vẫn tiếp tục ở giữa chúng tôi, giúp đỡ và che chở chúng tôi.

Hỏi: Vậy Dòng Tu của các chị có gặp phải khó khăn trong vấn đề về ơn kêu gọi không ?

Ðáp: Không hề có. Các ơn kêu gọi mới không bao giờ thiếu. Dầu sao, chúng tôi xin mọi người cầu nguyện, để các ơn kêu gọi thêm nhiều hơn nữa.

Hỏi: Vậy Chị có thể làm gì để giúp đỡ các hoạt động của Dòng bên cạnh các người nghèo khổ ?

Ðáp: Ở đây thực ra người dân cần đủ mọi sự, nhưng chúng tôi không bao giờ xin cái gì nơi các vị ân nhân. Chúng tôi biết rằng: những ai có khả năng đều sẵn sàng dâng cúng cách quảng đại. Chúng tôi tin vào chân lý này là Thiên Chúa biết đánh động tâm hồn con người và những thành quả đã cho thấy rõ ràng.

Hỏi: Tại Italia thì hiếm ơn kêu gọi, Chị có biết tại sao không ?

Ðáp: Tại vì số sinh quá ít, gia đình không còn có nghị lực thông truyền các giá trị cao quí cho con cái nữa. Ơn kêu gọi phát xuất trong gia đình, nhưng quá nhiều gia đình tại Tây phương đang đi đến chỗ tan rã.

Hỏi: Nhưng tại Ấn-độ lại khác sao ?

Ðáp: Gia đình Ấn-độ còn có sự hiệp nhất.

Hỏi: Trong thời đại này bị đánh dấu bằng bạo lực, chiến tranh và các cơn khủng hoảng thế giới lớn lao, vậy các người thiện chí có thể phản ứng bằng cách nào ?

Ðáp: Bằng cầu nguyện nhiều hơn, yêu thương nhiều hơn học hỏi tôn trọng các quyền của người khác.

Xin được nhắc lại vắn tắt lịch sử Dòng Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Tê-rê-xa.

Ngày 19.3.1949, thiếu nữ đầu tiên đến gặp Mẹ Tê-rê-xa, khi ấy còn là một Nữ Tu trẻ: "Thưa Mẹ, con đến để ở lại với Mẹ". Thiếu nữ này là học trò của Mẹ, tên là Subashini Das. Mẹ trả lời: "Sẽ là một đời sống gay go. Con hãy cầu nguyện nhiều, trước khi quyết định".

Ðây là bước đầu tiên Dòng của Mẹ Tê-rê-xa, Dòng các Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái với bộ áo sari trắng (áo sari theo phong tục Ấn-độ ), viền xanh da trời. Từ đó, Dòng bắt đầu phát triển mạnh mẽ và năm 1965, được Tòa Thánh công nhận "Dòng thuộc quyền Giáo Hoàng". Hiện nay Dòng có trên 4.500 Nữ tu, sống trong hơn 600 nhà tại 130 quốc gia trên thế giới. Có lẽ chưa có TuHội nào phát triển mạnh mẽ như vậy, ngay lúc Vị sáng lập còn sống. Với sức mạnh của tình yêu, các nữ tu này có thể len lỏi vào cả những nơi bị coi như "rất khó khăn", như Trung Quốc, Việt Nam, Siberia, Cuba v.v...

Từ ngày Mẹ qua đời, cách đây gần năm năm, Dòng đã mở thêm hơn 60 Nhà mới. Ðiều có ý nghĩa hơn cả là việc mở một Nhà mới tại Giê-ru-sa-lem, trong khu phố cổ kính. Dòng hiện có con số tập sinh khoảng 200. Giữa cơn khủng hoảng về ơn kêu gọi của rất nhiều Tu Hội, cách riêng tại Tây phương, việc phát triển của Dòng Mẹ Tê-rê-xa phải coi như một phép lạ sống động trước mắt mọi người và một bài suy ngắm sâu xa cho các vị trách nhiệm, cách riêng về các Dòng Tu.

Ngoài các Nữ Tử Thừa Sai Bác Ái, Mẹ Tê-rê-xa còn lập Tu Hội "Thừa Sai Bác Ái" cho ngành nam. Hiện nay có khoảng 500 Tu Sĩ và Linh Mục. Các vị ít được biết đến. Con số này đang hoạt động tại 20 quốc gia khác nhau. Khẩu hiệu của các Nam Tu Sĩ này là: "Làm các việc thường hằng ngày với lòng yêu mến khác thường, để danh Chúa lan rộng thêm mãi".

Ðức Ông Phê-rô NGUYỄN VĂN TÀI (Radio Veritas Asia)

CÂU TRUYỆN:

LỜI TRĂN TRỐI

Tai nạn máy bay Boeing 747 của Hãng Hàng Không Nhật-bản vào ngày 12.8.1985 đã được radio, TV và báo chí đề cập rất nhiều, vì có đến 520 người thiệt mạng. Nhưng không như nhiều tai nạn máy bay khác đã xảy ra cách bất ngờ không kịp phản ứng, trái lại phi hành đoàn cũng như hành khách trên chiếc Boeing 747 này biết rõ họ gặp nạn, máy bay của họ không thể điều khiển được và họ còn một ít thời giờ trước khi chết, nên mấy người đã lấy viết ghi lại các lời trối trăng của họ.

Trong số này có ông Kawaguchi đã viết được 17 giòng chữ ngắn trên cuốn lịch nhỏ như cuốn sổ bỏ tui. Ông viết cho vợ: "Thôi, vĩnh biệt ! Em nhớ lo lắng săn sóc con cái." Ông khuyên 3 người con, hai gái một trai rằng: "Các con phải hòa thuận với nhau, phải cố gắng làm việc và giúp đỡ mẹ." Riêng với cậu con trai út tên Tsuyoshi, ông viết: "Cha đặt nhiều hy vọng nơi con."

Người thứ hai là kiến trúc sư Kazuo Yoshimura chỉ viết được mấy chữ trên một tấm giấy: "Tôi muốn cả gia đình được mạnh khỏe".

Người thứ ba là một nhà kinh doanh tên là Masakazu Tamaguchi đã viết cho tỉnh Osaka, cho thành phố Min và cho vợ tên là Machiko như sau: "Xin nuôi nấng, săn sóc mấy đứa con tôi".

Người ta khi biết mình sắp chết thường trối trăn, căn dặn người còn sống những điều phải làm, ủy thác cho họ những công việc còn dở dang, gởi gắm con cái cho người khác săn sóc v.v... Ðức Giê-su trong diễn từ cáo biệt trước khi tự nguyện nộp mình, đã căn dặn các môn đệ: Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy."

Rồi vào lúc lâm tử trên Thập Giá, Ðức Giê-su cũng có nói 7 lời cuối cùng mà hai trong bảy lời nói đó như sau: Ðối với kẻ đóng đinh Ngài: "Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì" ( Lc 23, 34 ). Ðối với kẻ cướp ăn năn: "Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trong Nước Trời" ( Lc 23, 43 ).

Trích NỐI LỬA CHO ÐỜI tập 8

BỞI VÌ TÔI RẤT YÊU MẾN BÀ !

Một buổi tối nọ, Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta tiến lại gần một người mà người ta vừa mang vào căn nhà dành cho những người hấp hối. Ðó là một lão bà. Mình phủ đầy những mảnh giẻ rách, nước da đen đầy những vết thương hôi thối. Mẹ Tê-rê-xa đã chùi rửa các vết thương và chăm sóc để ngừa bị nhiễm trùng. Nhưng người đàn bà đáng thương này đang hấp hối... có lẽ khó mà qua khỏi, do đó tốt hơn là nên tìm cách an ủi lần cuối cùng bằng một chén canh nóng và tràn đầy tình thương yêu.

Người đàn bà đáng thương ấy sững sờ nhìn và hỏi Mẹ Tê-rê-xa bằng một giọng thều thào: "Tại sao bà lại làm như vậy ?" Mẹ Tê-rê-xa trả lời: "Bởi vì tôi rất yêu mến bà..."

Một tia sáng hạnh phúc, dù vẫn còn pha chút nghi ngờ, phát xuất từ tận đáy lòng, đã ngời lên khuôn mặt gầy gò của người đàn bà, nơi dấu ấn của tử thần đã bắt đầu xuất hiện. Bà ấy khẩn khoản: "Ôi bà hãy nhắc lại một lần nữa đi !"

Mẹ Tê-rê-xa lập lại bằng một giọng điệu rất dịu dàng: "Tôi rất yêu mến bà". Người đàn bà đang bước vào cõi chết xiết chặt tay Mẹ Tê-rê-xa và kéo về phía bà ta, như muốn lắng nghe rõ hơn, nghe với niềm hạnh phúc tràn trề những lời lẽ tuyệt vời nhất trên cõi đời: "Hãy nhắc lại, hãy nhắc lại đi bà..."

Bằng chính tình yêu của mình, Mẹ Tê-rê-xa đã biết nhìn sự suy sụp của tình người, Mẹ đã biết khám phá ra cái thực thể thiêng liêng Mầu Nhiệm của những con người nghèo hèn xấu số nhất. Chúng ta cũng hãy luôn nhìn mọi người bằng chính cái nhìn yêu thương và tôn trọng của chính Chúa đối với mọi người...

Trích từ LẼ SỐNG

BÀN TAY YÊU THƯƠNG

Trong một tiết dạy vẽ, cô giáo bảo các em học sinh lớp Một vẽ tranh về điều gì đã làm các em thích nhất trong đời. Cô thầm nghĩ: chắc rồi các em cũng lại vẽ những gói quà, những cốc kem hoặc những món đồ chơi, quyển truyện tranh. Thế nhưng cô giáo đã hoàn toàn ngạc nhiên trước một bức tranh lạ của Douglas: bức tranh vẽ một bàn tay !

Nhưng đây là bàn tay của ai ? Cả lớp bị lôi cuốn bởi hình ảnh đầy biểu tượng này. Một em đoán: Ðó là bàn tay bác nông dân. Một em khác cự lại: bàn tay thon thả thế này phải là bàn tay của một bác sĩ giải phẫu... Cô giáo đợi cả lớp bớt xôn xao dần rồi mới hỏi chính tác giả. Douglas nhoẻn miệng cười ngượng nghịu trả lời: "Thưa cô, đó là bàn tay của cô đấy ạ !"

Cô giáo bần thần ngẩn ngơ, cô nhớ lại trong những phút ra chơi, cô thường dùng bàn tay để dắt Douglas bước ra sân, bởi em là một em bé có khuyết tật, khuôn mặt em không được xinh xắn như các trẻ khác, gia cảnh em lại từ lâu lâm cảnh ngặt nghèo. Cô chợt hiểu ra, tuy cô cũng vẫn làm điều tương tự với các em khác, nhưng hóa ra đối với Douglas, bàn tay của cô lại mang một ý nghĩa sâu xa, một biểu tượng của tình yêu thương.

Dựa theo LỜI HẰNG SỐNG 1.2000.

THÔNG TIN:

THÔNG TIN VỀ CÁC KHOẢN TIỀN CÁC ÂN NHÂN MỚI CHIA SẺ

- Bạn MK Thanh Thư ( Việt Nam ) giúp người nghèo ............................................................................................... 250.000 VND

- Bạn MK Văn Khoa ( Việt Nam ) giúp người nghèo ................................................................................................. 250.000 VND

- Vợ chồng bạn MK Thế Ðịnh và Minh Châu ( Việt Nam ) giúp học bổng các em nghèo ............................... 500.000 VND

- Một Linh Mục ẩn danh ( Việt Nam ) giúp người nghèo ......................................................................................... 500.000 VND

- Bạn Hồ Thị Diệu Vân ( Việt Nam ) giúp người nghèo ........................................................................................... 150.000 VND

- Bạn Nguyễn Linh Chi ( Pháp ) giúp người nghèo ........................................................................................................... 50 EURO

THÔNG TIN VỀ 6 EM HỌC SINH CẦN TRỠ GIÚP

Thầy Trần Xuân Sang, Dòng Ngôi Lời, giới thiệu hoàn cảnh gia đình anh NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, 40 tuổi chị TRẦN THỊ MINH, 38 tuổi. Anh Phương tuy chưa già, làm nghề nông, nhưng lại thường xuyên đau bệnh và thiếu nợ tiền ngân hàng. Chị Minh phải một tay quán xuyến gia đình và lo nuôi dạy các con ăn học, nhưng đến nay gần như đuối sức.

1.   Nguyễn Thị Mai Thảo, sinh năm 1985, đang học lớp 11

2.   Nguyễn Thị Anh Nguyệt, sinh năm 1987, đang học lớp 9

3.   Nguyễn Ðức Hoàng, sinh năm 1990, đang học lớp 6

4.   Nguyễn Thị Mai Linh, sinh năm 1993, đang học lớp 3

5.   Nguyễn Hoàng Ðức, sinh năm 1995, đang học lớp 1

6.   Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh đôi với cháu Ðức năm 1995, cũng đang học lớp 1.

Gospelnet xin trợ giúp mỗi em 50.000 VND một tháng, trong 2 tháng 5 và 6 năm 2002, tổng cộng là: 600.000 VND. Rất mong quý độc giả gần xa nhận trợ giúp thêm cho gia đình anh chị Phương.

THÔNG TIN VỀ MỘT BUÔN DÂN TỘC CẦN CÓ GIẾNG NƯỚC

Theo thông tin của bạn Hồ Thị Diệu Vân, các Sr. Dòng Nữ Tử Bác Ái tại Suối Nho, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai, đang rất cần được trợ giúp để đào 3 miệng giếng cho một buôn làng dân tộc ở ấp 8, xã Xuân Bắc. đang bị hạn hán trầm trọng, có nguy cơ thiếu cả nước để uống. Tổng chi phí dự trù phải hết 15.000.000 VND, vì phải vào sâu trong rừng mới có vị trí đào giếng có nước tốt. Ðến nay, các Sr. chỉ mới có được 5.500.000 VND. Gospelnet xin trợ giúp trước mắt số tiền là 200 USD ( 3.000.000 VND ) và 1 bao quần áo cũ còn khá tốt. Rất mong quý ân nhân gần xa hỗ trợ thêm.

THÔNG TIN VỀ VIỆC TRỠ GIÚP TẬP VỞ CHO CÁC EM DÂN TỘC Ở PHAN THIẾT

Lm. Nguyễn Hữu An, Giáo Phận Phan Thiết, kêu gọi trợ giúp tập vở cho các em học sinh người dân tộc Châu Ro ( 58 hộ Công Giáo / 200 hộ dân ) cũng như cho các em học sinh người Kinh ở một làng Kinh Tế Mới ( 750 người Công Giáo / 2.000 dân ) nằm trong địa bàn ngài đang phục vụ. Tất cả đồng bào lương giáo ở đây đều rất nghèo. Gospelnet xin chia sẻ ngay đợt đầu số lượng 300 cuốn vở học sinh loại 100 trang.

THÔNG TIN VỀ DỰ ÁN CHĂN NUÔI CỦA CÔ NHI VIỆN VINH-SƠN 2

Cha Giu-se Ðỗ Hiệu, Trưởng Ban Phát Triển Giáo Phận Kontum, Hạt Trưởng Giáo Hạt Kontum, giới thiệu một dự án của các Sr. Dòng Ảnh Vảy Phép Lạ ( Médaille Miraculeuse ) cần được trợ giúp. Cô nhi viện Vinh-sơn 2 hiện nay do Sr. Scholastique Y-CHENH phụ trách có 168 em dân tộc, mồ côi ( đa số được các nữ tu trong Dòng cứu thoát chết, do hủ tục ở một số làng dân tộc xa bắt chôn trẻ em mới sinh ra theo người mẹ, nếu người mẹ qua đời do khi sinh các em ấy ), từ sơ sinh đến lớn. Hằng ngày các cháu được lo liệu việc ăn, học, sách vở, áo quần, đồng phục, thuốc men... Ngoài ra, các Sr. còn nuôi các cháu khuyết tật, sơ sinh.

Cô Nhi Viện vẫn đang được Hội ALSO-VN tại Pháp giúp đỡ gạo, nhưng không đủ, mỗi tháng vẫn bị thiếu hụt. Các Sr. cùng các em lớn phải canh tác thêm khoai mì, đậu, rau xanh. Cũng có một số ân nhân và nhóm từ thiện từ Sài-gòn thỉnh thoảng lên thăm, nhưng không có tính cách lâu dài, nên các cháu rất thiếu thốn. Các Sr. rất mong được trợ giúp để thực hiện một dự án chăn nuôi heo, để tăng thêm thức ăn cho các cháu, nhất là các cháu bé, mẫu giáo, các cháu suy dinh dưỡng. Từ số vốn này, các Sr. hy vọng dự án sẽ được lâu bền và từ đó có thể tự túc một phần cho các chi phí của Cô Nhi Viện và đỡ gánh nặng cho Giáo Phận.

Tổng số trẻ: 168 em ( Từ 0 đến 3 tuổi: 17 em; Từ 4 đến 6 tuổi: 16 em; Từ 7 đến 10 tuổi: 72 em; Từ 11 đến 16 tuổi: 47 em; Từ 17 trở lên: 16 em ).Trong đó, số trẻ đang đi học là 148 em gồm: Cấp I: 81 em; Cấp II: 25 em; Cấp III: 10 em; Mẫu Giáo: 28 em; Học nghề: 04 em. Số các em còn lại gồm: Nhà Trẻ: 12 em; Sơ sinh: 5 em; Câm: 3 em. Nữ Tu phụ trách: 6 chị. Người giúp việc: 14 người.

Nội dung dự án chi tiết như sau:

1. Vật liệu xây dựng: ( chuồng dài 10m x rộng 4m x cao 2.50 m )

- xi măng 30 bao x 45.000 = ........................................................ 1.350.000 VND

- cát 8 khối x 25.000 = ................................................................... 200.000 VND

- gạch ống ( 6 lổ ) 6.000 v x 250 = ............................................ 1.500.000 VND

- ngói 1.000 v x 370 = ..................................................................... 370.000 VND

- Ðá 4 x 6 2 khối x 50.000 = ......................................................... 100.000 VND

- lưới B 40 ( rào ) 15 m x 30.000 = ................................................ 450.000 VND

- Ðòn tay 7 x 14 x 30 m x 20.000 = .............................................. 600.000 VND

- Rui 4 x 6 x 32 cây ( 4m ) x 5.000 = ............................................ 640.000 VND

- Mè 2 x 3 = ....................................................................................... 240.000 VND

- Ðinh 8+ 5 +3 x 5 kgs x 7.000 = ...................................................... 35.000 VND

- Công thợ 60 công x 30.000 = .................................................. 1.800.000 VND

- Chảo nấu cám heo 2 cái = ........................................................... 350.000 VND

- Xây bếp nấu 2 cái = ...................................................................... 280.000 VND

Tổng cộng: ................................................................................... 7.915.000 VND

2. Heo giống:

- Heo nái : 2 con x 750.000 = ..................................................... 1.500.000 VND

- Heo thịt : 15 con x 400.000 = .................................................. 6.000.000 VND

Tổng cộng: .................................................................................... 7.500.000 VND

3. Thực phẩm:

- Cám gạo 5 kgs x 1.500 x 90 ngày = .......................................... 675.000 VND

- Sắn mì 5 kgs x 1.200 x 90 ngày = .............................................. 540.000 VND

- Bột bắp 5 kgs x 1.800 x 90 ngày = ............................................ 810.000 VND

- Thực phẩm gia súc 10 kgs x 2.800 x 90 = ............................. 2.526.000 VND

- Thuốc bệnh ( ước lượng ) = ........................................................ 300.000 VND

- Rau ( tự túc )

Tổng cộng: .................................................................................... 4.851.000 VND

Tổng cộng cả 3 khoản: ........................... 20.266.000 VND ( khoảng 1.350 USD )

Gospelnet đã gửi dự án này sang Pháp và bước đầu nhận được hồi âm rất vui: Các bác sĩ Bích Ðào, Minh Hiển, Mỹ Vân... và một số quý ân nhân khác đã nhận lời trợ giúp mục số 2 về heo giống ( khoảng 8.000.000 VND ). Khi tiền trợ giúp gửi về, chúng tôi sẽ thông tin đầy đủ hơn. Kính mong quý độc giả gần xa trợ giúp thêm các mục còn lại để các Sr. sớm có thể bắt tay vào thực hiện dự án phục vụ các cháu mồ côi đáng thương. Xin liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ E-Mail: ttmvdcct@fptnet.com hoặc điện thoại của Lm. Lê Quang Uy, DCCT, số 0903.34.09.14. Hoặc quý vị cũng có thể liên hệ trực tiếp với Toà Giám Mục Giáo Phận Kontum, 56 Trần Hưng Ðạo, Kontum, và với Nữ-Tu Y-Chenh, 14, Nguyễn Huệ, Kontum.

THÔNG TIN VỀ "HỌC BỔNG XUÂN HIỆP"

Như Gospelnet số 49 ra ngày 24.2.2002 đã thông tin, lần này Gospelnet xin tiếp tục gửi số tiền 700.000 VND đến Sr. Nguyễn Thị Ánh, Dòng Ða-minh Rosa Lima để lo cho 14 em học sinh trong chương trình mang tên "Học Bổng Xuân Hiệp" trong tháng 4 của năm 2002. Học bổng này do 3 bạn trẻ, 1 Linh Mục và 5 đôi vợ chồng trong Nhóm Mai Khôi ( MK ) ở Việt Nam, nhận trợ giúp đều đặn hằng tháng cho mỗi em học sinh nghèo được 50.000 VND đã bắt đầu từ tháng 1 năm 2001 cho đến nay.