GOSPELNET
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT 33 C THƯỜNG NIÊN LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM

TIN MỪNG NGÀY LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM: Mt 10,17 22

ÐỨC GIÊ-SU TIÊN BÁO NHỮNG CUỘC BÁCH HẠI

"Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và cho các dân ngoại biết. Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em !

Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì Danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát."

SUY NIỆM 1:

HẠT GIỐNG ÐỨC TIN

1.     Ý nghĩa của bắt bớ, bách hại trong Công giáo ?

Chúng ta có thể khẳng định: Lịch sử của các Giáo hội cũng là lịch sử của những cuộc bách hại. Bắt bớ, bách hại luôn đi liền với những kẻ tin nhận Ðức Giê-su Ki-tô là Chúa. Thật ra ngay từ trong Cựu Ước, những người tin vào Thiên Chúa Gia-vê cũng đã phải trải qua những cơn gian nan, thử thách vì Niềm Tin (bài đọc 1).

Vậy thử hỏi: Tại sao người tín hữu thường bị bắt bớ và bách hại ? Lịch sử cho ta thấy người tín hữu bị bắt bớ, bách hại thường vì một trong hai hoặc vì cả hai lý do sau: bị người đời hiểu lầm và ghen ghét. Nhưng với cái nhìn được Thánh Kinh soi sáng, thì chúng ta thấy bắt bớ, bách hại vì Niềm Tin có ý nghĩa sâu xa hơn. Ðó là để Niềm Tin của chúng ta được thử thách và tôi luyện. Miếng hay thỏi vàng chỉ tinh ròng sau khi được cho vào lửa tinh luyện. Niềm Tin Ki-tô của chúng ta chỉ vững vàng, kiên định, tinh tuyền và trong sáng qua gian nan thử thách. Ðức Giê-su là "hiện thân sống", là minh họa tuyệt vời về sự kiện ấy: Một đàng Ðức Giê-su bị những người cầm quyền Do-thái và Rô-ma kết án loại trừ, vì họ cho rằng Người là mối nguy hiểm cho địa vị, chức quyền của họ. Mặt khác chính qua khổ nạn Thập Giá mà Ðức Giê-su chứng minh được lòng thảo hiếu, tuân phục đối với Cha và lòng yêu thương đối với loài người. Sự Khổ Nạn Thập Giá ấy là con đường dẫn tới Phục Sinh.

Các vị Tử Ðạo trong Giáo Hội Công giáo Rô-ma cũng đã có chung thân phận với Ðức Giê-su. Gần gũi thân thiết với chúng ta hơn là 117 Thánh Tử Ðạo và hàng ngàn hàng vạn các vị tiền bối Việt Nam cũng là những người đã chết vì Ðạo mà nguyên nhân chính là hiểu lầm và ghen ghét. Các vị ấy đã kiên cường và anh dũng minh chứng Lòng Tin của mình. Vì thế mà ngày hôm nay toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính các Ngài một cách trọng thể và nhận các ngài làm Bổn Mạng.

2. Ngày nay chúng ta phải sống và làm chứng Niềm Tin như thế nào để không thẹn với cha ông?

Lịch sử đã qua, chúng ta không thể thay đổi được. Ðiều chúng ta có thể làm là từ lịch sử rút ra những bài học cho đời sống Ðức Tin. Sau đây là một vài gợi ý để chúng ta suy nghĩ và thực hiện:

1. Cha ông chúng ta đã lấy máu đào để nói lên lòng tin cậy phó thác và trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết dùng mọi phương thế để củng cố và trau dồi Niềm Tin: cầu nguyện, tĩnh tâm, nghiên cứu, học hỏi. Chắc chắn việc ấy đòi chúng ta phải hy sinh thời giờ, tiền bạc, công sức; buộc chúng ta phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi ở một mức độ nào đó. Nhưng so với cái chết khổ hình thập giá của Ðức Giê-su, Chúa chúng ta và với bao cực hình của các Vị Tử Ðạo cha ông chúng ta, thì có thấm vào đâu !

2. Dù bị hàm oan và bị hành hạ trăm điều, cha ông chúng ta không một lời than trách, không một chút hận thù đối với vua quan hay lý hình, mà trái lại luôn tôn kính, yêu thương, khoan dung, tha thứ chúng ta hãy nỗ lực sống khiêm nhường, yêu thương, hòa đồng và phục vụ đồng bào anh em theo tinh thần Phúc âm mà Thư Chung Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 và 2001 đã triển khai.

3. "Máu Các Thánh Tử Ðạo là hạt giống Ðức Tin". Máu cha ông chúng ta đã thấm vào từng thớ đất hình chữ S này, tức hạt giống đức Tin đã được gieo vào lòng đất nước và quê hương Việt Nam yêu dấu. Chúng ta hãy đóng góp phần riêng của mình vào việc làm cho hạt giống Ðức Tin ấy nẩy mầm, mọc thành cây và sinh hoa kết trái cho Mùa Gặt Nước Trời. Nói cách khác chúng ta hãy trở thành những người loan báo Tin Mừng cho đồng bào, anh em.

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ Cha đã cho chúng con vinh dự làm con cháu các Thánh Tử Ðạo Việt Nam. Nhưng Cha ơi, vinh dự cũng có nghĩa là trách nhiệm, xin Cha ban sức mạnh cho chúng con để chúng con đủ sức chu toàn trách nhiệm cao trọng ấy, bằng đời sống chứng tá của chúng con trong xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy Chúa Giê-su là Hạt Giống Vĩ Ðại mà Thiên Chúa Cha dã gieo vào lòng đất. Xin Chúa ban sức mạnh và tình yêu cho chúng con để chúng con cũng trở thành những hạt giống Tin Mừng gieo vào lòng xã hội Việt Nam hôm nay.

Lạy các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, chúng con hãnh diện được làm con cháu các Ngài. Xin các Ngài cầu bầu cùng Thiên Chúa cho chúng con dũng khí, lòng kiên cường, đức hy sinh, lòng trung thành với niềm Tin, để chúng con vượt thắng mọi trở ngại từ bên ngoài cũng như từ chính trong tâm hồn chúng con trong đời sống chứng tá hôm nay.

Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

SUY NIỆM 2:

TỬ ÐẠO LÀ TRUYỀN GIÁO

Giáo Hội cũng mừng kỷ niệm 41 năm thành lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam.

Từ khi vị thừa sai Phan-xi-cô Buzomi ( Francesco Buzomi, SJ. ) có công thiết lập cơ cấu giáo xứ đầu tiên ở Việt Nam bước chân lên nước này năm 1615 cho tới khi hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thiết lập năm 1960, thời gian kéo dài xấp xỉ 3 thế kỷ rưỡi. Giai đoạn lịch sử ấy lần lượt được đánh dấu bằng việc thiết lập thành phần nhân sự quan trọng cho việc xây dựng Giáo Hội địa phương.

Khởi sự cha Ðắc-lộ ( Alexandre de Rhodes, SJ. ) đã khai sinh ra hội Thầy Giảng năm 1630. Nhưng quan trọng hơn gấp bội là năm 1659 Toà Thánh thiết lập hai giáo phận Ðàng Ngoài và Ðàng Trong và đặt dưới quyền quản trị của hai vị tân Giám Mục Francois Pallu ( Phan Lữ ) và Pierre Lambert de la Motte. Ðó là hai vị đồng sáng lập hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris ( MEP ). Chính Ðức Cha Pierre Lambert de la Motte trong 3 năm 1668 1670, đã ban chức Linh Mục cho 9 người Việt Nam đầu tiên, hầu hết xuất xứ từ hội Thầy Giảng. Chín Linh Mục này làm nên hàng giáo sĩ Việt Nam đầu tiên.

Từ cuộc phong chức Linh Mục do Ðức Cha Pierre Lambert de la Motte cho người Việt Nam đầu tiên là thầy Giu-se Trang 28 tuổi năm 1668, tới cuộc phong chức Giám Mục cho Cha Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng do Ðức Thánh Cha Pi-ô XI năm 1933 tại Rô-ma, giai đoạn ấy kéo dài 2 thế kỷ rưỡi. Từ khi có Giám Mục Việt Nam cho tới khi có hàng giáo phẩm Việt Nam, giai đoạn lịch sử ấy chỉ kéo dài 33 năm.

Về nhân sự của giáo hội địa phương, kế tiếp việc thiết lập hàng giáo sĩ Việt Nam là việc thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Kiên Lao ( Nam Ðịnh ) và Bái Vàng ( Hà Nam ) do Ðức Cha Pierre Lambert de la Motte năm 1670. Khi ấy Ðức Cha cảm thấy như đã đạt được điều ngài mơ ước từ dịp viếng mộ hai Thánh Phan-xi-cô de Sales và Thánh nữ Gio-an-na Chantal tại Pháp năm 1657. Ơn soi sáng đã đến trên ngài với hình ảnh một Giáo Hội có Linh Mục và nữ tu là hai con kinh tuôn đổ Ðức Tin và Ðức Ái tràn lan trên một đất nước: Linh Mục là hiện thân của lòng nhiệt thành, liều mạng như người chiến sĩ xông pha nơi trận tuyến hiểm nguy; còn nữ tu là biểu tượng cho sự trong trắng và kết hợp đời sống cầu nguyện với công việc bác ái phục vụ.

Ðiều Ðức Cha Pierre Lambert de la Motte mơ ước quả là hình ảnh lý tưởng về Giáo Hội không phải lúc nào cũng đạt được. Nhưng ơn Ðức Tin và Ðức Ái luôn phải có để làm nên Giáo Hội, đặc biệt trong thời cấm đạo. Cũng chính ơn Ðức Tin và Ðức Ái làm nên các Thánh Tử Ðạo.

Mừng kính các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

Lịch sử 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam ăn khít với quãng thời gian 117 năm giữa 1745, khi hai vị Thánh Phan-xi-cô Frederich Tế và Mát-thêu Liciniana Ðậu hy sinh mạng sống cho tới năm 1862, khi Thánh Phẹ-rô Ða vừa bị thiêu vừa bị trảm quyết. Tất cả 117 vị đã chịu chết vì Ðức Tin dưới các triều đại vú Lê Chúa Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn ( Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức ).

Trong số 117 vị Tử Ðạo có 8 vị Giám Mục, 50 Linh Mục, 59 giáo dân, trong số này có một phụ nữ là Thánh A-nê Lê Thị Thành, người mẹ của sáu người con.

Các vị ấy chỉ là tượng trưng cho hàng mấy trăm ngàn người đã chịu chết vì đạo trong ba thế kỷ 17, 18 và 19. Ðầu tiên phải kể trong tổng số ấy, thầy giảng An-rê Phú Yên bị trảm quyết vì đạo ngày 26.7.1644 trước sự có mặt của cha Ðắc-lộ. Thi hài thầy An-rê được chôn táng trong nhà thờ dòng Tên tại Macao. Cuối năm 1645 khi về Âu Châu, cha Ðắc-lộ đã đem đầu thầy sang Rô-ma, còn thân vẫn còn ở Macao.

Cũng phải kể tới những vụ sát hại tập thể ở Biên Hoà và Bà Rịa 1861 1862. Riêng ở Bà Rịa khi ấy có khoảng 2.300 giáo dân từ lâu sống khá yên ổn cho tới tháng 8, 1861. Chính những cuộc hành quân của binh đội Pháp tại Biên Hoà cuối năm 1861 sang năm 1862 đã làm cớ cho nhiều vụ giáo dân bị sát hại tập thể. Hồi tháng 9 năm 1861 nhà cầm quyền tại Bà Rịa nhốt những người Công Giáo bị bắt vào bốn ngục: ngục Dinh là ngục chính ở ngay Bà Rịa, nhốt 300 đàn ông; ngục Thơm ở Long Kiên khoảng 4 cây số về phía Bắc Bà Rịa, giam 135 đàn bà con nít; ngục Thành ở Long Ðiền giam 140 đàn bà con nít; ngục thứ bốn tại họ đạo Ðất Ðỏ, nhốt 125 đàn bà trẻ con. Bốn ngục chứa tổng số là 700 tín hữu ngày đêm có lính canh gác cẩn mật. Nhưng với ba ngục giam phụ nữ và trẻ em, lính gác có phần dễ dãi hơn.

Vì thế một Linh Mục Việt Nam có thể tới thăm viếng và ban Bí Tích cho nhiều người bị giam ở ba ngục này. Ðó là cha Trí giả dạng đi buôn, gánh hai tĩnh nước mắm vào bán trong ngục. Chính cha Trí ngày 8.1.1862 tới tận ngục Dinh nơi bao giáo hữu từng bị giam thì chỉ còn thấy một đống tro tàn với xác chết nằm ngổn ngang mà chính ngài cùng với một Linh Mục nữa đã lo chôn cất.

Nhìn về phía trước: Sứ mạng giới thiệu Chúa Giê-su

Từ ngày cha Trí lo chôn xác 288 tín hữu chết vì Ðạo tại Bà Rịa tới nay, 139 năm đã trôi qua. Ðiều không thể tưởng tượng được là phần mộ tập thể của gần 300 chứng nhân anh dũng tại Bà Rịa nay nằm trong lãnh thổ của Giáo Phận Xuân Lộc với dân số tín hữu đông đảo nhất. Từ Bà Rịa nhìn ra vùng biển Vũng Tàu ngoài tượng Chúa ở Ô Quắn đang dang tay ôm ấp thế giới, nay còn có bức tượng Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa cao 30 mét trên núi Bãi Dâu, đang giới thiệu Chúa Giê-su cho thế giới.

Bối cảnh cởi mở và lạc quan ấy xem ra không thích hợp lắm với bài Tin Mừng Ga 17,11b 19 được chọn cho Thánh lễ Kính Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam hôm nay. Xem ra có sự đối kháng không thể nào hoà giải được giữa thế gian và các môn đệ của Chúa Giê-su.

Nhưng ở đây Chúa Giê-su trong bữa tiệc ly đang cầu nguyện cùng Cha cho các môn đệ. Người ngỏ lời cùng Cha là Ðấng Thánh ( c.11 ). Sự kiện các môn đệ thuộc về Thiên Chúa ( c.9 ) là lý do tại sao các môn đệ phải tách rời khỏi thế gian vì trong Cựu Ước sự Thánh thiện của Thiên Chúa đối kháng với các thế tục. Một cách đặc thù, các môn đệ cần được Thánh Hiến trong sự thật tức là trong chính lời của Thiên Chúa. Các môn đệ đã lãnh nhận và đã giữ lời mà Chúa Giê-su mang lại cho họ từ Thiên Chúa ( 17, 6.14 ); chính lời đó đã làm cho họ nên sạch ( 15, 3 ); bây giờ lời đó đặt họ riêng ra nhằm sứ mạng là truyền lại lời đó cho người khác ( 17, 20 ).

Vậy bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta là con cháu các Thánh Tử Ðạo Việt Nam 3 điều sau đây:

       Người Ki-tô hữu chúng ta thuộc về Thiên Chúa theo gương các Thánh Tử Ðạo Việt Nam. Ðiều đó có nghĩa là chúng ta phải sống rõ nét Ðức Tin mà Thiên Chúa ban cho ta. Giữa một thế giới xem ra dễ dàng hơn nếu ta chấp nhận điều kém hơn Ðức Tin và kém hơn sự công chính của Thiên Chúa, ta biết ta phải về phe với ai. Rõ ràng các Thánh Tử Ðạo đã về phe với Chúa Giê-su và đã phải trả giá bằng chính mạng sống của các ngài.

       Người Ki-tô hữu cần nhìn mọi sự và mọi người với cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa. Thiếu Ðức Tin là thiếu cặp mắt yêu thương của Thiên Chúa, thế giới loài người xem ra sẽ là một thế giới quá xấu để Thiên Chúa có thể sai Con của Người đến cứu chuộc. Không một vị Thánh Tử Ðạo nào lại bi quan như vậy. Các ngài chết là để đón nhận ơn cứu chuộc do Con Thiên Chúa xuống thế làm người.

       Dấu chỉ thời đại cho thấy phải đối thoại thay vì đối kháng. Sẽ chẳng có đối thoại nếu không chia sẻ Ðức Tin với người khác, nếu không đánh giá các nền văn hóa theo giá trị tương đối của mỗi nền văn hoá, nếu không quan tâm tới công bằng.

Con cháu các Thánh Tử Ðạo Viêt Nam cần nhìn về phía trước. Cuộc đối thoại liên quan tới điều gì đó là cơ bản nơi con tim nhân loại: Ðó là lòng ước ao tìm kiếm Thiên Chúa giữa một thế giới mang đầy vết thương do tội gây nên. Các Thánh Tử Ðạo đã gánh lấy gánh nặng do hậu quả của tội chất lên vai các ngài. Về phần ta, để có sự khả tín trong đối thoại, ta đã có trong con tim của ta sự sẵn sàng đó chưa ?

Lm. AUGUSTINE, SJ.,

TIN MỪNG CHÚA NHẬT 33 C: Lc 21, 5 19

SỰ SỤP ÐỔ CỦA THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM

Nhân có mấy người nói về Ðền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Ðức Giê-su bảo: "Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào". Họ hỏi Người: "Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước !"

Ðức Giê-su đáp: "Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: "Chính ta đây", và: "Thời kỳ đã đến gần"; anh em chớ có theo họ. Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu".

Rồi Người nói tiếp: "Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện. Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp cho các hội đường và nhà tù, và điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Ðó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình..."

SUY NIỆM 2:

GIỮ LINH HỒN

Vào khoảng năm 538 trước Công nguyên, sau khi được hoàng đế Ba-tư là Ky-rô ban sắc chỉ ân xá, con cái Ít-ra-en rời đất lưu đày Ba-bi-lon, tiến về Thánh điện, khởi công tái thiết quê hương xứ sở giữa muôn vàn gian nan khốn khó. Ðứng trước cảnh đổ nát hoang tàn của Ðền Thờ, đất đai bị ngoại bang lấn chiếm, tinh thần của dân Do thái hồi hương không khỏi lao đao. May nhờ có sự hỗ trợ của Et-ra và Nơ-khê-mi-a là hai người giàu có, thế lực dưới triều vua Artaxerxes, dân Ít-ra-en đã xây lại được một phần nhỏ Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem và Thánh hiến nó vào koảng năm 516 trước Công nguyên. Thế nhưng, chưa hưởng trọn niềm vui tự trị và tự do, người Do-thái lại bị các quốc gia hùng mạnh như Ai-cập và Hy-lạp quấy phá. Ðến năm 169 trước CN, người Xy-ri-a do vua An-ti-ô-khô II dẫn đầu, đã tiến vào đánh chiếm cướp phá Ðền Thờ. Một lần nữa đền Thánh Giê-ru-sa-lem lại rơi vào cảnh hoang tàn đổ nát.

Mãi đến năm 63 trước Công nguyên, sau khi người Rô-ma chiếm đóng Pa-lét-tin và đặt Hê-rô-đê làm quan tổng trấn cai trị vùng đất Giu-đê, Ðền Thờ mới được tái thiết nguy nga và được Thánh hiến vào năm 19 trước CN. Biết bao cẩm thạch, vàng bạc, gỗ quí, và công sức được đổ ra cho việc xây cất một Ðền Thờ lộng lẫy, làm nên niềm tự hào và sức sống của cả dân tộc Ít-ra-en. Trong cuốn sách "Những Cuộc Chiến của Người Do-thái", sử gia Josephus đã mô tả về "niềm tự hào" đó như sau: "Mặt tiền của Ðền Thờ đủ làm choáng ngợp tâm trí và đôi mắt người ta. Nó được bọc bằng những miếng vàng lớn. Khi ánh thiều dương vừa tỏa sáng ở chân trời, thì cả Ðền Thờ rực lên bởi những tia sáng phản chiếu, khiến những ai muốn nhìn thẳng vào đó cũng bị lóa mắt, đến nỗi họ phải quay đi. Ðối với khách lạ, thì từ đàng xa, Ðền Thờ nổi bật lên như một núi tuyết trằng xóa. Không có phần nào mà không được chạm trổ hay bọc vàng."

Ðứng trên núi Cây Dầu nhìn xuống Ðền Thờ rực rỡ trong ánh nắng huy hoàng, các môn đệ không khỏi buông lời trầm trồ khen ngợi. Nhưng, thay vì hòa điệu với những rung cảm trước vẻ hoa lệ của Ðền Thờ, Ðức Giê-su lại tiên báo về một sự sụp đổ không tránh khỏi. Những gì thế gian cho là vững chắc và xinh đẹp chỉ là những thứ mỏng dòn và tạm bợ. Tất cả sẽ bị tàn phá. Ngay như công trình và "niềm tự hào" của Ít-ra-en đây cũng sẽ bị sụp đổ, "không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào" ( Lc 21, 6 ). Ðức Giê-su đã tiên báo như thế.

Và sự gì đã xảy ra ? Năm 70 sau khi Chúa Giê-su sinh ra, tướng Ti-tô đem đại quân Rô-ma đến vây hãm thành Giê-ru-sa-lem. Dân chúng bị đói khát đến nỗi phải ăn thịt lẫn nhau. Kẻ nào tìm cách trốn khỏi vòng vây đều bị giết chết. Tính ra số người bỏ mạng lên đến 1.100.000, và số người bị bắt sau khi thành thất thủ là 97.000. Ðền Thờ bị lính Rô-ma phóng hỏa tan tành. Tướng Ti-tô chỉ cho chừa lại một mảng tường thành để sau này con cháu Ít-ra-en đến đó mà than khóc. Như thế, lời tiên báo của Chúa Giê-su đã ứng nghiệm.

Nhưng sự sụp đổ của thànnh Giê-ru-sa-lem chỉ là hình bóng của ngày thế tận. Rồi đây, sẽ chẳng còn thứ gì tồn tại. Thời gian sẽ hủy diệt tất cả. Sự sống, sắc đẹp, sức lực, sung sướng... của cuộc đời này đều mỏng dòn và ngắn ngủi. Mọi sự đều tiến về cái chết, dù nhanh hay chậm.

Vì thế, Thánh An-phong, Ðấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, từng nhắc đi nhắc lại: "Chỉ có một việc ta phải lo là việc rỗi linh hồn, vì mỗi người chỉ có một linh hồn mà thôi." Thánh Phan-xi-cô Sa-vi-ê cũng nói: "Mỗi người chỉ có một linh hồn. Nếu được rỗi thì được hưởng thiên đàng, nếu bị mất thì phải sa hỏa ngục." Xưa Vua Ða-vít suy về điều này mà thốt lên lời nguyện cầu: "Tôi chỉ ước trông một điều, đêm ngày tôi khấn xin, là cho tôi được vui sống trong nhà Chúa trọn đời" ( Tv 26, 4 )

Nhưng để được ở trong nhà Chúa, tức là để chiếm được Nước Trời, người ta phải nỗ lực chiến đấu. Chính Ðức Giê-su đã nói: "Nước Trời ở dưới sức cường bạo, và những kẻ cường bạo chiếm đoạt lấy." ( Mt 11, 12 ) Không gắng công chống trả ba thù, thiếu quyết tâm đi vào cửa hẹp, làm sao có thể tìm được thiên đàng đích thực.

Lm. BÙI QUANG TUẤN, DCCT, từ VietCatholic

CHỨNG TỪ:

GƯƠNG ANH HÙNG TỬ ÐẠO VIỆT-NAM

Hạnh các Thánh Tử Ðạo Việt-nam kể lại rằng:

Ông Trùm Ðích và con rể là ông Lý Mỹ đều bị bắt trong cuộc bách đạo. Trước sức ép của bạo lực cũng như cám dỗ bổng lộc, cả hai ông đều thà chịu chết chứ kiên quyết khước từ không chịu đạp lên Thánh Giá. Sau khi 2 lần tự nguyện chịu đòn thay cho nhạc phụ đã già yếu, ông Lý Mỹ đối diện với quan quân, mạnh dạn tuyên xưng Ðức Tin: "Thưa quan lớn, tôi đã suy xét và tin nhận Ðạo Thiên Chúa là Ðạo thật nên tôi không thể chối bỏ. Giả như có ai bảo quan lớn đạp lên đầu Ðức Vua là người đã ban chức cao quyền trọng cho quan lớn, ắt hẳn quan lớn chẳng dám làm. Vậy thì tôi đây, lẽ nào lại cả gan đạp lên tượng ảnh Thiên Chúa mà tôi hết lòng thờ kính ?"

Cô con gái tên Mỹ mới 12 tuổi, vào thăm ông Lý Mỹ trong ngục, đã khích lệ: "Xin cha hãy can đảm chịu chết vì Chúa !" Ðến cậu bé Tường mới 9 tuổi cũng nói: "Cha đừng lo cho chúng con. Cha hãy an tâm vững lòng xưng Ðạo và chịu chết vì Ðạo !" Cuối cùng là lời khuyên của bà vợ: "Vợ con ai mà chẳng thương tiếc, nhưng ông hãy vác thập giá, trung thành với Chúa cho đến cùng. Ðừng lo nghĩ về mẹ con tôi !"

Theo LỜI HẰNG SỐNG 8.2000

 

NHỮNG NGƯỜI SẴN SÀNG CHỊU CHẾT

Văn hào Nga hiện đại Siniavski đã từng mang án khổ sai, hiện đang sống lưu vong và dạy học tại Pháp. Với nhãn quan của một người không có tín ngưỡng, ông đã viết về niềm tin Ki-tô giáo của các tín hữu xuyên qua các cuộc bách hại mọi thời và mọi nơi trên thế giới như sau:

"Trong các tôn giáo, Ki-tô giáo đã chọn lấy vai trò của một tiểu đoàn xung kích, một đại đội trừng giới bị ném vào chỗ nguy hiểm nhất của mặt trận. Các bạn hãy dõi mắt nhìn theo những người anh hùng Ki-tô giáo ấy.

Trong đội ngũ của họ, hạng người khôn ngoan không có là bao. Tiểu sử của họ là một chuỗi dài những cuộc tuẫn đạo và tử vong nặng nề của một đoàn quân chỉ biết noi gương Thiên Chúa của họ. Ðó là những chiến sĩ phô bày trước thế gian những vết sẹo và thương tích như những dấu hiệu hiên ngang, tự hào và vinh quang.

Họ thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, cả giới hạ lưu bần cùng, cả bọn trọng phạm. Thế nhưng, họ đều đã nhận lấy Thập Giá. Bất cứ ai cũng đều có thể gia nhập đội ngũ của họ, người dốt nát cũng như kẻ đã từng phạm tội, chỉ với một điều kiện là sẵn sàng nhảy vào lửa.

Ðó là thứ tôn giáo của một niềm hy vọng lớn nhất phát sinh từ cảnh tuyệt vọng. Không một tôn giáo nào trên thế giới này lại có được sự tiếp cận mật thiết nhất với tử thần nhiều như Ki-tô giáo. Mà không phải là họ không biết sợ hãi đâu ! Họ không hề chiêm ngưỡng sự vĩnh cửu, nhưng họ chiếm lấy sự vĩnh cửu bằng cách phấn đầu với một thứ vũ khí duy nhất; đó là sẵn sàng chịu chết !"

Linh Mục BERNARD BRO, Mùa Chay 1975, bản dịch của cụ An-tôn LÊ VĂN LỘC

CÂU TRUYỆN:

TUYỆT ÐỐI TRUNG THÀNH

Tiểu đoàn dưới quyền chỉ huy của thiếu tá quân đội hoàng gia Tây-ban-nha là Don Rodil đã bị quân đối phương bao vây đã 9 tháng ròng rã. Do vậy, các binh lính phải chịu quá nhiều tổn thất hiểm nguy, lại thêm những thiếu thốn lương thực khiến cho họ đâm ra quẫn trí, âm mưu chống lại vị chỉ huy. Tất cả có 13 người nổi loạn, do một viên trung úy cầm đầu. Mọi cái đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ đúng 9 giờ tối ngày 23.9.1825 là bùng nổ. Tuy nhiên, trước đó mấy giờ, thiếu tá Don Rodil đã phát hiện được âm mưu của phe nổi loạn, ông cho lệnh bắt tất cả, đưa vào tra tấn và hỏi cung, nhưng không một ai chịu hé răng khai thêm đồng bọn nào khác, ngoài việc cho biết giờ họ đã quyết định hành động. Don Rodil tức giận đã ra lệnh xử bắn 13 tội phạm cũng đúng vào lúc 9 giờ tối hôm ấy.

Dù vậy, Don Rodil vẫn chưa thấy yên lòng. Ông cho người cấp tốc đi mời cha Pedro Maria Lux vốn là Linh Mục Tuyên Úy của tiểu đoàn. Cuộc chất vấn bắt đầu: "Thưa cha, 13 tên phản bội định nổi loạn đều đã bị xử tử đúng 9 giờ tối hôm nay..." Cha Pedro điềm tĩnh nói: "Tôi có hay tin, khi ấy tôi đã đến nhà nguyện để khẩn cầu Thiên Chúa cứu vớt linh hồn của họ !"

Viên sĩ quan chỉ huy nheo nheo mắt có vẻ châm biếm: "Dường như cha quá chú ý quan tâm đến họ thì phải ?" Cha Pedro dõng dạc trả lời: "Vì đó là bổn phận của một Linh Mục như tôi. Sẵn đây, tôi cũng xin cám ơn thiếu tá đã để tôi được giúp họ xét mình chu đáo và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải trước khi chết."

Giọng nói của Don Rodil đã bắt đầu căng thẳng: "Thưa cha, chắc hẳn bọn chúng đã thú nhận tất cả với cha khi xưng tội, đã kể hết với cha những mưu mô dự định của họ. Vậy, nhân danh hoàng đế Tây-ban-nha, tôi yêu cầu cha hãy nói lại tất cả cho tôi những gì mà bọn chúng đã thú nhận trong tòa Hòa Giải. Xin cha đừng bỏ sót bất cứ một chi tiết nào !" Cha Pedro vẫn bình thản, nhỏ nhẹ trả lời: "Thưa thiếu tá chỉ huy trưởng, rất tiếc là tôi không thể đáp ứng được yêu cầu của thiếu tá. Không khi nào tôi lại hé lộ một điều gì mà những người đến xưng tội đã nói với tôi trong tòa Hòa Giải. Cho dẫu hoàng đế có truyền cho tôi đi nữa, tôi cũng phải dứt khoát từ chối. Chính nghĩa vụ của một Linh Mục buộc tôi phải làm như vậy. Mong thiếu tá bỏ qua !"

Thiếu tá Don Rodil nghe vậy thì tức giận, sấn tới gắt gỏng: "Cha nên biết, sở dĩ tôi tận tâm lo toan công việc này, tất cả chỉ vì lòng yêu mến và trung thành đối với hoàng đế và tổ quốc Tây-ban-nha của chúng ta đó thôi. Tôi bắt buộc cha phải thuật lại hết, nếu không, cha sẽ phải trả giá đắt đấy, cha có hiểu không ?" Cha Pedro nhìn thẳng vào mắt viên sĩ quan: "Nếu Thiên Chúa muốn tôi chết vì nghĩa vụ Linh Mục, tôi xin ngợi khen Thánh Ý của Người, còn như làm điều thiếu tá đòi buộc thì quả thật là tôi không thể !"

Viên sĩ quan đập bàn quát lớn: "Này ông Linh Mục ngoan cố, biết âm mưu của kẻ phản bội mà không chịu tố giác, đó chính là đồng lõa, là tòng phạm, vì thế, ông cũng là một kẻ phản bội hoàng đế và tổ quốc !" Cha Pedro vẫn ngước cao đầu: "Không, tôi vẫn luôn trung thành với hoàng đế và tổ quốc. Thế nhưng, không ai có quyền bắt tôi phải phản bội Thiên Chúa !"

Ðến đây thì Don Rodil không kềm nổi nữa, ông ta hung hăng chạy ra mở cửa phòng, gọi viên chỉ huy phó của mình: "Ðại úy chỉ huy phó đâu rồi ? Hãy ra lệnh cho 4 binh sĩ trong đội xử bắn, mang súng đạn đầy đủ đến đây cho tôi ngay !"

Chỉ mấy phút sau, đội lính đã sẵn sàng tuân lệnh. Don Rodil truyền cho họ điệu cha Pedro ra pháp trường, nơi vừa xử bắn 13 kẻ nổi loạn, xác vẫn còn để nguyên ở đấy. Tới nơi, Don Rodil quát bảo cha phải quỳ xuống, nhưng cha Pedro vẫn giữ giọng nói chậm rãi: "Xin hãy để tôi đứng mà chịu bắn ! Tôi không phải là một kẻ có tội, hơn nữa, tôi chỉ quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là Chúa của tôi mà thôi !"

Dứt lời, cha chắp tay ngước mặt lên bầu trời đêm và thầm thĩ cầu nguyện với Chúa một cách sốt sắng. Trong lúc đó, thiếu tá Don Rodil hô khẩu lệnh cho 4 người lính nâng súng lên, rồi quay lại nói với ngài: Cha Pedro, một lần cuối cùng, tôi yêu cầu cha nói lại tất cả những gì bọn phản loạn đã nói với cha khi xưng tội. Bây giờ vẫn còn kịp đấy, bằng không, cha sẽ phải chết tức khắc như một tên tội phạm !"

Vị Linh Mục già vẫn thinh lặng cầu nguyện, như không hề biết những họng súng đang sẵn sàng nhả đạn về phía mình. Tiếng viên thiếu tá vang lên trong đêm: "Nhân danh hoàng đế và tổ quốc Tây-ban-nha, tôi lệnh cho cha phải nói những gì cha đã nghe !

Cuối cùng thì cha Pedro cũng đã lên tiếng, giọng dõng dạc và cương quyết không chịu khuất phục. Và sau đây là những mẩu đối thoại cuối cùng:

- Nhân danh Thiên Chúa, tôi tuyên bố từ chối đề nghị của thiếu tá !

- Ðó có phải là lời nói sau hết của cha không ?

- Phải !

- Cha nhất định không chịu khai gì ư ?

- Phải !

- Cha không còn gì hối hận nữa chứ ?

- Phải !

Viên thiếu tá chỉ huy chợt như thấy bản thân khiếp sợ run rẩy trước sức mạnh tinh thần và dáng đứng vừa can trường lại vừa khiêm tốn của vị Linh Mục già, Don Rodil phải dùng hết sức mình quát lên:

- Bắn !

Vừa dứt lời, 4 họng súng đồng loạt nhả đạn, và cha Pedro quỵ xuống, trên tay vẫn còn chắp lại, giữ chặt xâu chuỗi Mai Khôi. Lúc đó là đúng 10 giờ đêm ngày 23.9.1825.

Lm NGUYỄN NGỌC RAO, TRÍCH từ LINH MỤC, NGƯỜI LÀ AI ? 1965.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA

Ông Chirwin, trong cuốn "Thánh Kinh trong thế giới truyền giáo" có kể lại câu truyện có thật sau đây:

Tokichi Ishii, một tên tử tội đã từng giết người không gớm tay đang chờ ngày chịu hành quyết. Có hai bà trong hội Legio Mari của Nhật-bản thường đi công tác Tông Ðồ trong các nhà giam, đã nhiều lần cố gắng tìm cách vào thăm và khuyên nhủ Ishii nhưng đành thất bại ra về, các bà chỉ còn biết để lại một cuốn Thánh Kinh Tân Ước với một lời đề nghị thật dịu dàng nhân ái: "Lúc nào thấy buồn quá, không biết làm gì thì anh chịu khó mở cuốn sách nhỏ này ra đọc nhé !"

Trong những ngày dài phải chờ đợi cuộc xử bắn, quả thật Ishii đâm ra buồn chán và khủng hoảng, không biết làm gì cho khuây khỏa, anh ta trông thấy cuốn Tân Ước để trên bàn đã phủ bụi lâu nay và tò mò mở ra đọc. Anh ta không ngờ tập sách nhỏ ấy lại khiến anh say mê đọc ngấu nghiến từng câu.

Sau đó một tuần, Ishii kể lại cho người cai ngục Công giáo: "Khi tôi đọc đến câu Ðức Giê-su nói trên Thập Giá: "Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm..." thì tôi dừng lại. Con tim tôi như bị một con dao dài đâm thâu. Tôi có thể gọi đó là Tình Yêu của Ðức Giê-su, hay tôi phải gọi đó là Lòng Thương Xót của Người ? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết, đó là sự hung dữ tàn bạo nơi tôi đã tan biến, và tôi đã tin vào Ðức Giê-su..."

Ngày bị đem đi hành quyết, mọi người hiện diện đều ngạc nhiên vì Ishii đã biến đổi thành một con người khác hẳn !

Sổ tay sưu tầm của cha TIẾN LỘC

CHỊU HY SINH ÐỂ BẢO TỒN KINH THÁNH

Ngày 3 tháng 4 năm 311, hoàng đế Galère của đế quốc Rô-ma ở Phương Ðông đã cho ban hành một sắc lệnh chấm dứt các cuộc bách hại đối với người Ki-tô hữu. Thế nhưng khi ông ta chết, hoàng đế kế vị là Maximilian Daia lại tái diễn thảm kịch, và do vậy, Giáo Hội Công giáo lại có thêm những vị anh hùng vui lòng chịu chết vì Ðạo Chúa, đặc biệt, họ đã quyết lòng hy sinh để bảo tồn sách Kinh Thánh, tác phẩm vô giá của Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại.

Ðức Giám Mục Félix ở Phi châu, khi bị bắt phải đem nộp những quyển Kinh Thánh hiện đang lưu giữ, ngài đã bình tĩnh tuyên bố: "Thà chính tay tôi phải đốt sách Kinh Thánh còn hơn để Kinh Thánh bị thiêu rụi bởi tay người bách hại Ðạo Chúa !"

Nữ Thánh Irène ở Salonique, em gái của nữ Thánh Agapé đã khẳng khái tuyên xưng: "Chúng tôi sẵn sàng chịu thiêu sống hoặc chịu bất cứ khổ hình nào, hơn là giao nộp những cuốn Kinh Thánh !"

Thầy Phó Tế Hermes tại Héraclée thì mạnh dạn nói với pháp quan: "Dù các ông có thành công trong việc bắt giao nộp tất cả các sách Kinh Thánh, dù trên thế gian này chẳng còn dấu vết Thánh Truyền của chúng tôi đi nữa, thì các thế hệ con cháu chúng tôi sớm muộn gì cũng sẽ tái tạo được những tác phẩm ấy nhiều gấp bội, và họ sẽ càng hăng say giảng dạy sự kính mến Thiên Chúa nhiều hơn nữa !"

HÀNH TRANG GIÁO LÝ VIÊN số 3.

THÔNG TIN:

THÔNG TIN THÊM VỀ EM NGUYỄN PHƯƠNG TOÀN BỊ TRÀN DỊCH BUỒNG PHỔI

Như tin đã đăng trên GOSPELNET số 34, ngày thứ năm 8.11 vừa qua, em NGUYỄN PHƯƠNG TOÀN đã được chuyển từ bệnh viện Lao Phạm Ngọc Thạch sang bệnh viện Nhân Dân Gia Ðịnh. Song vì không có tiền đóng viện phí ( 3 triệu rưỡi ) nên bệnh viện Gia Ðịnh đã từ chối khéo và cho em Toàn quay trở lại bệnh viện Pham Ngọc Thạch. Em Toàn chẳng những bị tràn dịch mà còn bị tràn khí buồng phổi nên khó qua khỏi.

Số tiền 1 triệu VND của GOSPELNET đã được thầy Trần Xuân Sang gởi đến cho người mẹ của em Phương Toàn đang chăm sóc cho em và bà vô cùng biết ơn những người đã giúp đỡ. Xin mọi người tiếp tục cầu nguyện và giúp đỡ em Toàn và gia đình trong cơn hiểm nghèo này để em có được một tâm hồn bình an trong những ngày cuối đời của em. GOSPELNET xin trợ giúp thêm cho gia đình em Nguyễn Phương Toàn số tiền 500.000 VND.

THÔNG TIN VỀ ANH NGUYỄN VĂN HOAN BỊ TAI NẠN THƯƠNG TẬT TRẦM TRỌNG

Thầy Lê Văn Hoàng, Dòng Phan-xi-cô vừa gửi thư trình bày hoàn cảnh đáng thương của anh NGUYỄN VĂN HOAN, ngụ tại Giáo Xứ Quảng Biên, xã Quảng Tiến, huyện Thống Nhất, Tỉnh Ðồng Nai, Giáo Phận Xuân Lộc. Vợ chồng anh đã có một đứa con 2 tuổi. Giữa tháng 7.2001, trong khi đi bỏ hàng vào sáng sớm, anh đã bị xe đụng và cán lên 2 chân. Hơn 2 tháng điều trị với 9 lần giải phẫu tại bệnh viện Chợ Rẫy, kết quả chân trái bị cắt đến đùi. Chân phải bó bột với 2 đoạn gãy. Hoàn cảnh khó khăn vợ sắp chuyển dạ, anh xin xuất viện và về ở nhờ ở nhà ba mẹ, trong lúc chính ba của anh cũng đang có bệnh nặng về phổi và gan. Sau hơn một tháng nay nằm ở nhà, thuốc men thiếu thốn, các vết thương sưng lên, đau nhức, gia đình lại mới đưa anh lên bệnh viện Chợ Rẫy tái khám. Kết quả, siêu âm là mỏm cụt chân trái bị nhiễm trùng phải phẫu thuật trở lại. Còn vết gãy ở xương đùi chân phải lại lìa ra, cũng phải mổ rã bó bột lại. Vợ anh lại vừa mới sinh cháu bé thứ hai. Anh Hoan hiện được một người anh ruột là công nhân, phải xin nghỉ việc lên nuôi em mình ở bệnh viện Chợ Rẫy.

GOSPELNET xin nhờ thầy Lê Văn Hoàng chuyển đến trợ giúp gia đình anh Nguyễn Văn Hoan số tiền 500.000 VND để lo liệu thuốc men.

THÔNG TIN VỀ 3 TRƯỜNG HỠP NGẶT NGHÈO Ở SÓC TRĂNG

Cha Ða-minh Ðặng Xuân Ðồng, cha sở Họ Ðạo Cái Trầu, Hạt Trà Lồng, Giáo Phận Cần Thơ, Hộp Thư 9, Bưu Ðiện Trị Trấn Ngã 5, Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, ( điện thoại: 079.869.160 ) vừa gửi cho GOSPELNET một lá thư giới thiệu 3 trường hợp ngặt nghèo trong Giáo Xứ của cha, xin được trợ giúp.

1.     Em Phao-lô LÊ THÀNH QUỐC, sinh 1985, con ông Phê-rô Lê Thành Hiếu và bà Tê-rê-xa Nguyễn Thị Viễn. Em bị bại liệt hai chân ngay từ thuở nhỏ, không thể phục hồi. Em rất thông minh và ham đọc sách. Em đã được Rước Lễ Lần Ðầu Phục Sinh 2000 và sẽ được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức vào ngày 1.12.2001 tới đây. Nhà em khá xa Nhà Thờ Cái Trầu, mỗi Chúa Nhật, người nhà của em lại phải cõng em xuống xuồng rồi chèo đến bến Nhà Thờ, rồi lại cõng lên. Em rất mong có được một chiếc xe lăn để tự di chuyển trong những đoạn đường bộ để đi học Giáo Lý và tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật cũng như có thể được đi học văn hóa.

2.     Em Phê-rô LÂM VĂN DỂ, sinh năm 1977, mồ côi cả cha lẫn mẹ từ lâu, ở với gia đình người anh là Phê-rô Lâm Văn Muôn. Gia đình này có tới 9 người mà lại không có một công ruộng nào cả. Em Dể bẩm sinh đã không có trí khôn, không biết nói, chỉ la lên ú ớ, không ai hiểu em muốn nói gì. Gia đình anh Muôn xin được trợ giúp để có thể mưu sinh và săn sóc cho em trai mình.

3.     Em Ma-ri-a TRƯƠNG THỊ THANH ÐƯƠNG, sinh năm 1976, con ông Phê-rô Trương Văn Phon và bà Ma-ri-a Phạm Thị Bài. Gia đình có tất cả 8 miệng ăn mà không có một công ruộng nào để mưu sinh. Em Ðương không có trí khôn, lại bị khuyết tật cả tay chân bên phải. Gia đình ông Phon rất mong được trợ giúp để sinh sống và săn sóc đứa con bị khuyết tật.

GOSPELNET xin gửi đến cha Ðặng Xuân Ðồng số tiền 500.000 VND cho gia đình em LÂM VĂN DỂ, 500.000 VND cho gia đình em TRƯƠNG THỊ THANH HƯƠNG, và một chiếc xe lăn có thể xếp được do ông bà Nguyễn Văn Hiệp người Phật Giáo mua tặng cho em LÊ THÀNH QUỐC, tất cả sẽ được chuyển về Cần Thơ nhờ chị Bùi Thị Hồng Nga ( điện thoại: 071.838.427 ) chuyển về Sóc Trăng. Rất mong quý ân nhân gần xa trợ giúp thêm thường xuyên cho hai gia đình em Dể và em Ðương.

THÔNG TIN VỀ CHÁU BÉ NGUYỄN MỘNG TUYỀN BỊ BẠI LIỆT

GOSPELNET vừa nhận được qua Bưu Ðiện thư của cha Mai Văn Thược, Giáo Xứ Madagouil, Giáo Phận Ðà Lạt ( điện thoại: 063.874.367 ), do anh Phạm Văn Lượng, thuộc Huynh Ðoàn Ki-tô Bệnh Nhân và Người Khuyết Tật chuyển, giới thiệu trường hợp cháu bé NGUYỄN MỘNG TUYỀN, mẹ là chị Phùng Thị Thủy, 22 tuổi, mới góa chồng phải một nách 2 con nhỏ là Mộng Tuyền ( 3 tuổi ) và một cháu nhỏ ( 3 tháng tuổi ), hiện cư ngụ tại thôn 3, xã Hà Lâm, huyện Ða Hoai, tỉnh Lâm Ðồng. Cháu Mộng Tuyền bẩm sinh bị bại liệt toàn thân, không nói được. Chị Thủy tuy là người ngoài Công giáo, nhưng rất mong được gửi cháu Mộng Tuyền vào một Nhà Tình Thương Công giáo để được chăm sóc và chữa trị trong khi chị cố gắng lo mưu sinh nuôi cháu nhỏ.

GOSPELNET xin trợ giúp ngay số tiền 500.000 VND cho chị Phùng Thị Thủy và cố gắng liên hệ để giới thiệu cháu Mộng Tuyền được vào Cơ Sở Nuôi Dạy Trẻ Khuyết Tật Thiên Phước, địa chỉ: xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Sài-gòn.

THÔNG TIN VỀ CÁC KHOẢN TIỀN ÂN NHÂN MỚI TRỠ GIÚP

Anh em Mai Khôi và Tâm Ca ở Hoa Kỳ thực hiện chương trình LẼ SỐNG để giúp:

- Quỹ GOSPELNET Mổ Tim của cháu bé HOÀNG ÐÀO XUÂN MAI: 100 USD

-     Quỹ GOSPELNET của người nghèo: 100 USD

-     Quỹ GOSPELNET cứu trợ lũ lụt Miền Tây ( đã dùng để cứu trợ lũ lụt ): 100 USD

Chị Trần Thị Ðào, Ðại Học Y Dược cơ sở 2 ( Sài-gòn ) giúp Quỹ GOSPELNET: 500.000 VND.

Một bạn cựu ca viên Tâm Ca ở Việt Nam giúp Quỹ GOSPELNET: 1.000.000 VND.

Ông bà Nguyễn Văn Hiệp, người Phật giáo ( Sài-gòn ): Một chiếc xe lăn xếp được.

Dòng Mến Thánh Giá Ðà Lạt ( cộng đoàn Lê Văn Sỹ, Sài-gòn ): 500.000 VND.

Như vậy, tính đến ngày 11.11.2001, Quỹ Mổ Tim của cháu bé HOÀNG ÐÀO XUÂN MAI đã được tất cả là: 3.700.000 VND và 100 USD. Còn Quỹ Mổ Tim của cháu bé HÀ LÊ MỸ TIÊN là: 870 USD và 3.500.000 VND. Các cháu vẫn còn phải chờ được xét miễn giảm và lên lịch giải phẫu vì các bệnh nhân còn rất đông.