Quan Niệm của Phật Giáo
Về Cái Chết

Nguyễn Chính kết, Việt Nam

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan


SÁU NẺO LUÂN HỒI

Trong thuyết luân hồi của Phật Giáo, các kiếp liên tiếp nối theo nhau như một chuỗi mắt xích dài vô tận. Kiếp này là quả của kiếp trước và là nhân cho kiếp sau. Do đó các kiếp sống có vô số mức khổ sướng khác nhau, và không phải kiếp nào chúng sinh cũng là người cả. Có nhiều loại chúng sinh trong vòng luân hồi, chúng sinh loại này sau khi chết có thể biến thành chúng sinh loại khác. Chẳng hạn thú biến thành người, người biến thành thiên thần, v.v... và cũng có thể biến ngược lại. Tất cả đều do nghiệp lực quyết định, nghĩa là do những việc thiện hay ác mà chúng sinh ấy làm trong kiếp trước đó. Chúng sinh không phải chỉ có trong trái đất này mà còn ở trong hằng hà sa số hành tinh khác trong vũ trụ. Có những hành tinh làm bằng những chất mà mắt con người không thấy được dành cho những chúng sinh vô hình đối với con mắt loài người. Có thể nói chúng sinh bị luân hồi trong 6 nẻo, còn gọi là lục đạo luân hồi, tức sáu cảnh giới, xếp theo mức độ từ sướng tới khổ như sau:

1. THIÊN:

(Nguyên nghĩa là có thân sáng láng) là cảnh giới của những chúng sinh vô hình, phần nào tương tự như những "thiên thần", có thân xác vi tế hơn con người, sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn, đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chư Thiên thường không hơn con người. Họ sinh ra theo kiểu hóa sinh (nghĩa là bỗng nhiên xuất hiện dưới hình thức một thiếu nữ hay một thanh niên, không phải nhờ tới ai làm cha mẹ sinh mình ra cả). Chư Thiên cũng có nhiều loại, nhiều đẳng cấp khác nhau (dục giới, sắc giới, vô sắc giới, mỗi giới lại phân thành nhiều cảnh Trời khác nhau), mức độ hạnh phúc và cách thế sống hay tuổi thọ giữa các loại, các cấp cũng khác nhau.

2. NHÂN:

Cảnh giới của con người với những điều kiện sống khó khăn hơn, trong đó hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Ðây là cảnh giới thuận lợi nhất để tu giải thoát nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ. Vì thế, các vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vao cảnh giới này, do có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và thực hành những pháp môn cần thiết để thành Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

3. ATULA:

Cảnh giới này giống như cảnh giới thấp nhất của Chư Thiên (dục giới), nghĩa là thuộc thế giới vô hình, nhưng có rất nhiều đau khổ tinh thần. Ðó là nơi tập trung những chúng sinh nhiều tham vọng, ham quyền lực, kiêu căng, ghen tị, hay có chiến tranh..., tuy điều kiện vật chất dễ dàng hơn con người. Nhiều học giả xếp cảnh giới Atula ngay sau cảnh giới Thiên, rồi mới tới Nhân, vì xác thân họ, điều kiện sống của họ gần với Chư Thiên hơn. Cảnh giới này khiến ta liên tưởng tới cảnh giới của Satan là thiên thần sa ngã, còn cảnh giới của Chư Thiên như cảnh giới của các thiên thần tốt lành.

4. NGẠ QUỶ:

(Nghĩa là quỉ đói): Cảnh giới của những chúng sinh tham lam vật chất (tiền bạc, của cải, lạc thú thể chất như ăn uống, nhục dục...) lúc nào cũng khao khát những thứ đó nhưng không bao giờ được thỏa mãn, khiến họ luôn luôn khổ đau. Ðời sống của họ dài và đau khổ. Thân xác của họ vi tế hơn con người, nên mắt thương của con người không thấy được. Cảnh giới của họ không phải là một tinh tú riêng biệt. Họ thường sống trong rừng bụi, ở những nơi dơ bẩn trên mặt đất, và sinh sống bằng những thực phẩm thừa thãi hoặc thiu thối của con người hay của những động vật khác.

5. SÚC SINH:

Cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy: thú vật, chim chóc, cá... là những chúng sinh ít hiểu biết, kém ý thức, có đời sống rất thấp kém, hầu như không có đời sống tinh thần. Chúng thường xuyên phải sống trong sợ hãi (bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc bị thúc đẩy đi giết các thú khác), nỗi sợ chung là sợ đói. Gia súc thì bị con người nuôi để ăn thịt, để giải trí. May mắn cho chúng ở chỗ đời sống chúng ngắn ngủi và ý thức trí tuệ chúng kém cỏi nên những đau khổ của chúng qua mau và hời hợt, không sâu sắc. Nhưng không may ở chỗ chúng khó có cơ hội để làm công đức, không đủ trí tuệ để tu tập thoát khỏi kiếp lầm than đó.

6. ÐỊA NGỤC:

Cảnh giới của những chúng sinh độc ác, hận thù, ích kỷ, ghen ghét, hay giận dữ, thích gây đau khổ cho người khác. Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn, khắc nghiệt để trả quả cho những hành vi bất thiện đã tạo trong quá khứ. Ðời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau. Mỗi địa ngục có một sắc thái riêng, với những cực hình khác nhau tương xứng với tội ác đã phạm. Sau thời gian có thể rất lâu tại đây để đền tội, tội nhân có thể ra khỏi để làm lại cuộc đời mới, trong một kiếp sống mới tốt đẹp hơn, để rồi về sau có thể trở thành Phật. Chính Ðức Phật, trong một vài tiền kiếp, đã từng sa địa ngục vì đã phạm những trọng tội.

Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, nên không có ai ở mãi trong một cảnh giới nào cả. Không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng vô thời hạn trong một cảnh giới hạnh phúc nào đó. Và không có một tội ác nào lớn tới mức vô cùng để đáng bị phạt đời đời tại một cảnh giới đau khổ nào đó. Do đó, chúng sinh cứ trôi lăn trong lục đạo mãi, hết ở cảnh khổ lại qua cảnh sướng, hết cảnh sướng lại rơi lại vào cảnh khổ. Cho tới một lúc nào đó, chúng sinh giác ngộ được con đường giải thoát, và quyết tâm tu tập thành Phật, thì mới ra khỏi cái vòng luân hồi luẩn đó. Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng, là cảnh giới Thiên và Nhân, nhưng cảnh giới Nhân là quí hơn cả. Xét về mặt hạnh phúc thì cảnh giới Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, nhưng chính vì vậy mà họ bị ru ngủ không muốn tìm sự giải thoát thật sự, để rồi khi họ hưởng hết phúc lành, họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các Atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi hơn thua, các ngạ quỉ thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn, súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thỏa mãn tính dục, còn ở địa ngục thì mọi chúng sinh bị hành khổ đủ cách nên không còn đầu óc đâu mà nghĩ đến đạo giải thoát. Chỉ có con người có sướng có khổ một cách tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Trong lục đạo, chỉ có con người có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Ðức Phật, được làm người là cả một cơ hội quí báu không nên uổng phí. Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8 (Phật Ðạo) nói rõ điều đó.

Theo Phật Giáo, chúng sinh không phải chỉ có ở trái đất này, mà còn ở trong hằng hà sa số các hành tinh khác. Chúng sinh nhiều vô cùng tận, và hệ thống tinh tú để chúng sinh ở cũng vô cùng tận. Trong Kinh Tăng-Nhất A-Hàm, Phật nói: "Không thể đi đến mức cùng tận của thế gian". Về vấn đề chúng sinh, khoa học ngày nay chưa thể kiểm chứng được những điều Phật dạy. Nhưng về hệ thống tinh tú, thì các nhà khoa học thời nay đã nhìn nhận: Không thể xác định được vũ trụ đến đâu là cùng tận. Số tinh tú mà các nhà thiên văn học khám phá được đã nhiều hơn gấp bội dân số thế giới hiện nay. Vì thế, giữa muôn tỉ tinh tú, có vô số tinh tú lớn gấp triệu lần trái đất này, mà tin rằng chỉ trái đất mới có sự sống hay có loài người, thì quả là tin một điều hết sức mạo hiểm, xác xuất đúng hết sức nhỏ bé. Do đó, điều Phật nói rằng có chúng sinh ngoài trái đất này có rất nhiều khả năng đúng. Riêng về thiên văn học, quan niệm của Ðức Phật đã đi trước thế giới cả hàng ngàn năm, thậm chí 2000 năm.

Các chúng sinh trong cảnh giới này có thể đầu thai sang cảnh giới khác, trong tinh tú này có thể đầu thai sang tinh tú khác, tùy theo sự đòi hỏi của nghiệp lực khiến ta phải đầu thai vào nơi nào thích hợp nhất với ta tại thời điểm đó. Chẳng hạn như ngay giây phút này, một chúng sinh ở trái đất này vừa chết và cần có chỗ đầu thai thích hợp với nghiệp của mình. Nhưng vào giây phút đó, tại trái đất này không có một nơi nào để đầu thai phù hợp cả: những nơi có thể đầu thai được (do noãn và tinh gặp nhau), thì cha mẹ hay hoàn cảnh không phù hợp, còn những cha mẹ phù hợp thì lại không thụ thai vào thời điểm đó. Mà trong muôn tinh tú kia, thế nào chả có nơi thích hợp vào thời điểm đó? Ðương nhiên nơi nào gần nhất vẫn là ưu tiên. Vì thế, việc chuyển kiếp sang tinh tú khác thường hay xảy ra. Do đó, có những trường hợp chúng sinh ở tinh tú này càng ngày càng tăng lên, đang khi ở một tinh tú khác càng ngày càng giảm đi. Ðiều đó giải thích tại sao dân số địa cầu càng ngày càng tăng lên: cách đây mấy ngàn năm dân số thế giới chỉ tính bằng triệu, nhưng hiện nay phải tính bằng hàng tỉ, đang khi theo giáo thuyết của Phật, con số chúng sinh không hề tăng lên hay giảm đi. Vả lại, chúng sinh không phải chỉ là loài người, mà còn là nhiều loài khác trong lục đạo có thể chuyển đổi cho nhau. Hơn nữa, theo Phật tổ thì số chúng sinh nhiều vô tận: một con vi trùng cũng là một chúng sinh, mà một người trí tuệ cao cả như Phật tổ cũng là một chúng sinh.

Theo Phật Giáo thuần túy, hiện tượng tử-sinh, tức chết rồi đi đầu thai sang kiếp khác, xẩy ra ngay tức khắc, bất cứ ở nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu tức khắc vào bộ máy thu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ chết sang tái sinh ngay tức khắc, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào cả. Nghĩa là không có chuyện linh hồn người chết phải tạm trú ở một nơi nào đó chờ đến khi tìm được một nơi nào thích hợp mới đi đầu thai. Như vậy là chết lúc nào thì đầu thai lúc đó, và luôn luôn có một nơi thích hợp trong vũ trụ để đầu thai. Vì vũ trụ là một bộ máy rất hòa hợp, mọi chuyện tự nhiên dù có vẻ ngẫu nhiên nhưng vẫn luôn luôn ăn khớp với nhau. Như vậy, theo Phật Giáo nguyên thủy, nếu hai người cùng chết một lượt thì sẽ đầu thai cùng một lúc ở hai nơi khác nhau, cho dù một nơi rất gần còn nơi kia rất xa. Tương tự như hai người ở cùng một chỗ có thể nghĩ đến hai nơi ấy cùng một lúc, không vì nơi này xa mà phải nghĩ đến sau nơi kia.

Tuy nhiên, về sau, nhiều thuyết cho rằng chỉ có những chúng sinh có nghiệp lực mạnh mới tái sinh ngay tức khắc, nghĩa là những người đã phạm nhiều tội ác thì tâm thức của họ sẽ bị những cảnh giới xấu thu hút ngay, hay những người đã làm rất nhiều việc thiện sẽ được những cảnh giới lành rút về ngay. Còn những người thuộc loại trung bình, không xấu lắm và cũng không tốt lắm, thì tâm thức họ có thể ở trong cõi trung ấm, và có thể dùng tư tưởng để tạo cho mình một xác thân bằng thanh khí của cõi trung ấm (cõi đó cũng chiếm cùng một không gian với cõi dương gian, ví như nước và miếng bọt biển có thể cùng chiếm một không gian và lồng vào nhau). Tâm thức ấy chỉ ở trong cõi trung ấm khoảng 49 ngày. Trong thời gian này, tâm thức vẫn có thể thay đổi tư tưởng (chẳng hạn quyết tâm trở nên tốt đẹp hơn, hay bị lôi cuốn vào những sân hận mới...) để có thể đầu thai vào những hoàn cảnh tốt đẹp hơn hoặc xấu xa hơn. Tối đa là 49 ngày, tâm thức phải đi đầu thai. Vì thế, trong vòng 49 ngày sau khi một người chết, thân nhân của người ấy có thể làm lễ cầu siêu cho người ấy (xem phần độ vọng ở sau).


Back to Vietnamese Missionaries in Taiwan Home Page