Mater Populi Fidelis - Mẹ của Dân Chúa
Ghi chú tín lý của Bộ Giáo lý Ðức tin
về một số tước hiệu liên quan đến
sự cộng tác của Ðức Maria trong công trình cứu độ
Mater Populi Fidelis - Mẹ của Dân ChúaGhi chú tín lý của Bộ Giáo lý Ðức tin về một số tước hiệu liên quan đến sự cộng tác của Ðức Maria trong công trình cứu độ.
Chuyển ngữ: Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Vatican (WHÐ 19-10-2026) - Bản ghi chú này nhằm trả lời cho nhiều yêu cầu và những đề nghị đã được gửi đến Tòa thánh trong những thập niên gần đây, cách riêng cho Bộ Giáo lý Ðức tin, liên quan đến các vấn đề về lòng sùng kính Ðức Maria và một số tước hiệu của Ðức Mẹ.
Bộ Giáo lý Ðức tin
Ghi chú tín lý
về một số tước hiệu liên quan đến sự cộng tác của Ðức Maria trong công trình cứu độ.
Giới Thiệu
Bản ghi chú này nhằm trả lời cho nhiều yêu cầu và những đề nghị đã được gửi đến Tòa thánh trong những thập niên gần đây, cách riêng cho Bộ này, liên quan đến các vấn đề về lòng sùng kính Ðức Maria và một số tước hiệu của Ðức Mẹ. Ðây là những vấn đề mà các Ðức Giáo hoàng gần đây quan tâm và đã được đề cập nhiều lần trong ba mươi năm qua, trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau của Bộ, chẳng hạn như các Ðại hội và Hội nghị Thường kỳ. Ðiều này đã cho phép Bộ sưu tập một khối lượng tài liệu phong phú và dồi dào, nuôi dưỡng suy tư hiện tại.
Trong khi làm rõ ý nghĩa của một số tước hiệu và cách diễn đạt liên quan đến Ðức Maria được chấp nhận hay không, văn bản này cũng nhằm mục đích đào sâu nền tảng đúng đắn về lòng sùng kính Ðức Maria bằng cách xác định vị trí của Ðức Mẹ trong mối quan hệ với các tín hữu dưới ánh sáng của mầu nhiệm Chúa Kitô là Ðấng Trung Gian và Ðấng Cứu Chuộc duy nhất. Ðiều này đòi hỏi một lòng trung thành sâu sắc với căn tính Công giáo, đồng thời cũng đòi hỏi một nỗ lực đại kết đặc biệt.
Chủ đề trung tâm xuyên suốt tất cả các trang này là Tình mẫu tử của Ðức Maria đối với các tín hữu. Chủ đề này xuất hiện nhiều lần trong văn kiện, với những tuyên bố được nhắc lại nhiều lần, mỗi lần đều có những cân nhắc mới, làm phong phú và hoàn thiện chúng theo hình xoắn ốc.
Lòng sùng kính Ðức Maria, mà tình mẫu tử của Mẹ sinh ra, được trình bày ở đây như một kho tàng của Giáo hội. Lòng sùng kính của Dân Chúa trung tín, những người tìm thấy nơi Ðức Maria sự nương náu, sức mạnh, sự dịu dàng và hy vọng, không được suy ngẫm ở đây để sửa chữa lòng sùng kính ấy, nhưng trên hết, để trân trọng, ngưỡng mộ và khuyến khích lòng sùng kính ấy. Bởi vì lòng sùng kính này là biểu hiện huyền nhiệm và biểu tượng của một thái độ tin tưởng vào Chúa theo tinh thần Tin mừng, điều mà Chúa Thánh Thần tự do khơi dậy nơi các tín hữu. Thực vậy, người nghèo "cũng tìm thấy tình yêu thương và lòng trìu mến của Thiên Chúa nơi khuôn mặt Ðức Maria. Nơi Mẹ, họ thấy phản chiếu sứ điệp cốt lõi Tin mừng."[1]
Tuy nhiên, có một số nhóm suy tư về Ðức Maria, nhiều ấn phẩm, những hình thức sùng kính mới, và thậm chí cả những đề nghị về tín điều Ðức Maria không có cùng đặc điểm với lòng đạo đức bình dân. Cuối cùng, thay vào đó, họ đề xuất một sự phát triển tín điều cụ thể và thể hiện mạnh mẽ thông qua phương tiện truyền thông xã hội, thường gây hoang mang cho các tín hữu bình dân. Ðôi khi, những sáng kiến này thậm chí còn bao gồm việc diễn giải lại các diễn đạt đã được sử dụng trong quá khứ với nhiều ý nghĩa khác nhau.
Văn kiện này xem xét các đề nghị ấy nhằm chỉ ra đâu là những cách thế đáp lại một lòng sùng kính Ðức Maria chân thực được gợi hứng từ Tin mừng, và đâu là những cách thế khác nên tránh vì chúng không thúc đẩy việc chiêm nghiệm đúng đắn về sự hài hòa của toàn bộ sứ điệp Kitô giáo.
Hơn nữa, nhiều đoạn trong bản ghi chú này cung cấp một sự khai triển Kinh thánh rộng rãi để cho thấy lòng sùng kính Ðức Maria chân thực không chỉ được tìm thấy trong Truyền thống phong phú của Giáo hội mà còn trong Kinh thánh. Dấu ấn Kinh thánh nổi bật của tài liệu này đi kèm với các văn bản của các Giáo phụ và các Tiến sĩ Hội thánh, cũng như các Ðức Giáo hoàng gần đây. Do đó, thay vì đề xuất những giới hạn, bản ghi chú này tìm cách đồng hành và duy trì tình yêu dành cho Ðức Maria và niềm tin tưởng vào sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ.
Victor Manuel Hồng y Fernández
Tổng trưởng
Dẫn Nhập
1. [Mater Populi Fidelis] Mẹ của Dân Chúa[2] được các Kitô hữu nhìn nhận với tình cảm trìu mến và ngưỡng mộ, bởi vì, nhờ ân sủng làm cho chúng ta nên giống Chúa Kitô, nên Ðức Maria là sự thể hiện hoàn hảo nhất của hành động Chúa Kitô biến đổi nhân tính của chúng ta. Mẹ là sự biểu hiện nữ tính của tất cả những gì ân sủng của Chúa Kitô có thể thực hiện trong một con người. Trước vẻ đẹp như vậy và được thúc đẩy bởi tình yêu, nhiều tín hữu trong suốt lịch sử đã tìm cách nhắc đến Mẹ bằng những từ ngữ đẹp đẽ nhất nhằm tôn vinh vị trí đặc biệt của Mẹ bên cạnh Chúa Kitô.
2. Gần đây, Bộ đã công bố các Quy tắc Tiến hành trong việc Phân định các Hiện tượng Siêu nhiên.[3] Một số tước hiệu[4] và cách diễn đạt liên quan đến Ðức Trinh Nữ Maria thường được sử dụng liên quan đến các hiện tượng như vậy. Tuy nhiên, những tước hiệu này - một số trong đó đã xuất hiện trong các tác phẩm của các Giáo phụ - không phải lúc nào cũng được sử dụng chính xác, và ý nghĩa của chúng đôi khi bị thay đổi hoặc hiểu sai. Ngoài các vấn đề về thuật ngữ, một số tước hiệu đặt ra những khó khăn đáng kể liên quan đến nội dung của chúng vì chúng thường có thể dẫn đến sự hiểu lầm về vai trò của Ðức Maria, điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên bình diện Kitô học,[5] Giáo hội học[6] và Nhân học[7].
3. Vấn đề chính trong việc diễn giải những tước hiệu này khi áp dụng cho Ðức Trinh Nữ Maria là làm thế nào để hiểu mối liên hệ của Mẹ với công trình Cứu Chuộc của Chúa Kitô - nghĩa là, "ý nghĩa của sự cộng tác độc nhất của Ðức Maria trong kế hoạch cứu độ là gì?"[8] Dầu không có ý định bao quát hay trình bày cặn kẽ, tài liệu này tìm cách duy trì sự cân bằng cần thiết phải được thiết lập trong các mầu nhiệm Kitô giáo giữa sự trung gian duy nhất của Chúa Kitô và sự cộng tác của Ðức Maria trong công trình cứu độ, và tìm cách chỉ ra điều này được diễn tả như thế nào qua các tước hiệu khác nhau của Ðức Maria.
Sự Cộng Tác Của Ðức Maria Trong Công Trình Cứu Ðộ
4. Sự cộng tác của Mẹ Maria trong công trình cứu độ theo truyền thống được tiếp cận từ một góc nhìn kép: sự tham gia của Mẹ vào công trình cứu chuộc khách quan do Chúa Kitô thực hiện trong cuộc đời trần thế của Người - đặc biệt là trong mầu nhiệm Vượt qua - và ảnh hưởng hiện thời của Mẹ đối với những người đã được cứu chuộc. Thật vậy, hai vấn đề này có liên quan với nhau và không thể được xem xét tách biệt nhau.
5. Sự tham dự của Ðức Maria vào công trình cứu độ của Chúa Kitô được chứng thực trong Kinh thánh, nó trình bày biến cố cứu độ được hoàn tất nơi Ðức Giêsu Kitô như một lời hứa trong Cựu ước và như một sự thành toàn trong Tân ước. Ðức Maria được tiên báo trong sách Sáng Thế 3,15 bởi vì bà là người phụ nữ tham gia vào chiến thắng cuối cùng trên con rắn. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Ðức Giêsu gọi Ðức Maria là "Bà" trên đồi Calvariô (Ga 19,26). Tương tự như vậy, tại Cana, Người gọi mẹ là "Bà" (Ga 2,4), ám chỉ Ðức Maria và vai trò của Bà, cùng với Người, trong "giờ" thập giá.
6. Trong "giờ" đó, sự cộng tác của Ðức Maria xuất hiện khi Mẹ lặp lại lời "Xin vâng" của biến cố Truyền tin. Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, Tin mừng chuyển từ việc đặt trên môi Chúa Giêsu từ "Bà" (Ga 19:26) sang trình bày Bà là "Mẹ" (Ga 19,27). Khi Tin mừng giải thích rằng, để đáp lại, người môn đệ (đại diện cho tất cả chúng ta) đã đón Bà về, và sử dụng một động từ (lamban#), trong Tin mừng này, mang nghĩa là "đón nhận" bằng đức tin (x. Ga 1,11-12; 5,43; và 13,20). Tin mừng Thứ Tư sử dụng cùng động từ này để diễn tả rằng Ánh sáng đã đến với những người thuộc về Người nhưng họ đã không "đón nhận" Người (Ga 1,11). Nói cách khác, người môn đệ này thay thế chúng ta bên cạnh Ðức Maria đã đón nhận Mẹ như một người mẹ trong đức tin. Chỉ sau khi trao phó chúng ta cho Ðức Maria làm mẹ, Chúa Giêsu mới thừa nhận rằng "mọi sự đã hoàn tất" (Ga 19,28). Lời tuyên bố long trọng về sự hoàn tất ngăn chặn mọi diễn giải hời hợt về sự kiện này. Chức làm mẹ của Ðức Maria đối với chúng ta là một phần của sự hoàn tất kế hoạch thiêng liêng, được thực hiện trong mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô. Tương tự như vậy, sách Khải Huyền trình bày "Người Phụ nữ" (Kh 12,1) là mẹ của Ðấng Mêsia (x. Kh 12,5) và là mẹ của "những người còn lại của bà" (Kh 12,17).
7. Cần nhớ rằng Ðức Maria thành Nadarét có thể được coi là "nhân chứng ưu tuyển"[9] về các biến cố thời thơ ấu của Chúa Giêsu[10] được ghi lại trong các sách Tin mừng (x. Lc 1-2; Mt 1-2). Trong lời tựa của Tin mừng, Luca cho độc giả biết rằng "có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà họ đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta," nên ngài cũng quyết định "cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự" (Lc 1,1-3). Trong số những nhân chứng đó, Ðức Maria nổi bật là nhân vật chính trực tiếp trong quá trình thụ thai, sinh hạ và thời thơ ấu của Ðức Giêsu. Ðiều tương tự cũng có thể nói về các tường thuật về cuộc Khổ nạn, vì Ðức Maria "đứng bên thập giá Ðức Giêsu" với tư cách là "mẹ Người" (Ga 19,25), và cũng như về giai đoạn hướng đến lễ Ngũ tuần, khi các Tông đồ "chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Ðức Giêsu (Cv 1,14).
8. Tin mừng Luca trình bày Ðức Maria như "Nữ tử Xion" mới, người đón nhận và truyền lại niềm vui cứu độ. Luca thu thập những lời hứa tiên tri báo trước niềm vui cứu thế (x. Xp 3,14-17; Xp 9,9). Nơi Ðức Maria, những lời hứa đó được ứng nghiệm, khiến Gioan Tẩy Giả nhảy mừng (x. Lc 1,41). Bà Êlisabét tự nhận mình không xứng đáng được Ðức Maria viếng thăm, bà nói: "Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" (Lc 1,43). Bà không nói: "Tôi là ai mà Chúa tôi đến với tôi?", nhưng trực tiếp nói đến người mẹ, qua đó chỉ ra mối liên hệ bất khả phân ly giữa sứ mạng của Chúa Kitô và sứ mạng của Ðức Maria. Bà Êlisabét nói khi được tràn đầy Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,41), nên thái độ của bà đối với Ðức Maria được trình bày như một mẫu gương đức tin.
Bấy giờ, được Thánh Thần thúc đẩy, bà Êlisabét thốt lên: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc!" (Lc 1,42). Ðiều đáng chú ý là, dưới tác động của Thánh Thần, việc bà gọi Chúa Giêsu là "được chúc phúc" thôi chưa đủ; bà cũng gọi mẹ Người là "được chúc phúc," khi nhận thấy hai mẹ con được kết hợp mật thiết trong khoảnh khắc hân hoan thiên sai này. Ở đây, Ðức Maria xuất hiện như một người được chúc phúc đặc biệt: "Em thật có phúc, vì đã tin" (Lc 1,45); "thần trí tôi hớn hở vui mừng" (Lc 1,47); "Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc" (Lc 1,48). Lời mô tả này càng có ý nghĩa hơn khi chúng ta lưu ý rằng, trong Tin mừng Luca, sự chúc phúc này không được xem như một trạng thái tinh thần mà là sự hoàn tất lời hứa về Ðấng Mêsia cho những người bé mọn (x. Lc 6,20-22), những người sẽ nhận được "phần thưởng lớn lao" (Lc 6,23).
9. Về sự phát triển thần học của những chủ đề này trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo, các Giáo phụ chủ yếu quan tâm đến thiên chức làm mẹ thiêng liêng của Ðức Maria (Theotokos), sự đồng trinh trọn đời (Aeiparthenos), sự thánh thiện hoàn hảo của Mẹ như một người không vướng mắc tội lỗi trong suốt cuộc đời (Panagia), và vai trò của Mẹ như là Evà mới,[11] khi suy tư về mối liên hệ của Ðức Maria với công trình cứu chuộc của Chúa Kitô trong bối cảnh của mầu nhiệm Nhập thể. Lời "Xin vâng" của Ðức Maria trước sứ điệp của sứ thần Gabrien - để Ngôi Lời Thiên Chúa được nhập thể trong cung lòng Mẹ (x. Lc 1,26-37) - mở ra cho nhân loại khả năng thần hóa. Vì lý do này, Thánh Augustinô gọi Ðức Trinh Nữ là "người cộng tác" vào công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, qua đó nhấn mạnh cả hành động của Ðức Maria bên cạnh Chúa Kitô cũng như sự tùng phục của Mẹ đối với Người, vì Ðức Maria cộng tác với Chúa Kitô để "các tín hữu được sinh ra trong Giáo hội."[12] Vì lý do này, chúng ta có thể gọi Mẹ là Mẹ của Dân trung tín Thiên Chúa.
10. Trong thiên niên kỷ I, việc suy tư về Ðức Trinh Nữ Maria trong Giáo hội không thể tách rời khỏi phụng vụ. Sự đa dạng lớn lao và phong phú của các truyền thống phụng vụ Kitô giáo Ðông Phương đã tìm cách trở thành một tiếng vọng trung thành của Thánh kinh, các Công đồng và các Giáo phụ. Lex orandi, sau này phát triển thành Lex credendi, đã định hình nên Thánh Mẫu học Ðông Phương qua các bài thánh ca, tranh ảnh và lòng đạo đức bình dân.[13] Ví dụ, bắt đầu từ thế kỷ V, lễ kính Ðức Maria đầu tiên được tổ chức ở Ðông Phương và sau đó, bắt đầu từ thế kỷ VII, lan sang Tây Phương. Các Giáo hội Ðông Phương tưởng niệm sự tham gia của Mẹ Thiên Chúa vào công trình cứu chuộc không chỉ trong các kinh nguyện và phụng vụ Thánh thể, mà trên hết, qua các bản văn thánh ca được sử dụng trong các Giờ kinh chính thức, hiện diện trong các truyền thống phụng vụ khác nhau của Kitô giáo Ðông Phương. Sách thánh ca của họ đầy rẫy những sáng tác dành riêng cho Ðức Maria, với những ẩn dụ Kinh thánh,[14] cho phép đi sâu hơn vào mầu nhiệm cơ bản của sự Nhập thể và ý nghĩa của mầu nhiệm này đối với ơn Cứu chuộc của chúng ta trong Chúa Kitô. Những thánh ca này sử dụng ngôn ngữ đầy tính biểu tượng thi vị, có khả năng truyền tải sự kinh ngạc và thán phục của những ai - chia sẻ cùng bản chất với Ðức Maria - chiêm ngưỡng những điều kỳ diệu mà Ðấng Toàn Năng đã thực hiện nơi Mẹ.[15]
11. Giáo huấn của các Công đồng chung đầu tiên bắt đầu phác họa tín điều về Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa, sau này được công bố tại Công đồng Êphêsô. Giáo hội Kitô giáo Ðông Phương luôn duy trì các tín điều được định tín bởi các Công đồng đầu tiên này, ít nhất là trong số các Giáo hội chấp nhận Công đồng Êphêsô và Calcêđônia. Ðồng thời, trong các truyền thống phụng vụ, thánh ca và tranh ảnh của mình, Kitô giáo Ðông Phương đã tiếp nhận các câu chuyện và truyền thuyết phổ biến về Ðức Maria liên quan đến thời thơ ấu và cái chết của Chúa Giêsu. Những câu chuyện như vậy tìm cách nuôi dưỡng lòng đạo đức của Dân Chúa bằng cách cất lên tiếng nói cho chất trữ tình của những hình ảnh thơ ca, mục đích duy nhất là đánh thức sự ngạc nhiên. Sự tôn kính Mẹ Thiên Chúa này cũng được thể hiện thông qua tranh ảnh, cung cấp một mô tả trực quan về Ðức Maria và Ngôi Lời Nhập Thể. Ðiều đáng chú ý là các Icone truyền thống của các Giáo hội này - có liên quan đến các Công đồng Êphêsô và Calcêđônia - chủ yếu miêu tả Ðức Maria là "Theotokos" ("Mẹ Thiên Chúa").[16] Các Icone thuộc loại này được vẽ ra để chiêm ngưỡng Ðức Mẹ Ðồng Trinh, người giới thiệu Con mình, Chúa Giêsu Hài Ðồng, cho thế giới và người ôm lấy Chúa cũng luôn cầu bầu cho nhân loại trước Người. Do đó, Icone về Ðức Maria của Ðông Phương như là một kerygma và lời nhắc nhở trực quan đầy màu sắc về thần học của các Công Ðồng đầu tiên và các Giáo phụ, nó tìm cách trở thành bản dịch trực quan của các tước hiệu được áp dụng riêng cho Ðức Trinh Nữ.[17] Vì lý do này, các Icone phải được "đọc" dưới ánh sáng phụng vụ và thánh ca của Giáo hội. Ðức Maria không phải là đối tượng của lòng sùng kính được đặt cạnh Chúa Kitô, nhưng Mẹ được đưa vào mầu nhiệm Chúa Kitô qua sự Nhập thể.[18] Mẹ là hình ảnh mà Chúa Kitô được tôn kính. Mẹ là Theotokos, Ðức Mẹ Ðồng Trinh, Ðấng giới thiệu Con mình, Chúa Giêsu Kitô, cho chúng ta. Ðồng thời, Mẹ cũng là Odegetria (Ðấng chỉ đường), Ðấng chỉ tay cho chúng ta Con Ðường duy nhất, đó là Chúa Kitô.
12. Bắt đầu từ thế kỷ XII, thần học Tây Phương[19] đã hướng sự chú ý của mình vào mối liên hệ kết nối Ðức Mẹ Ðồng Trinh với mầu nhiệm cứu chuộc đẫm máu của Chúa Kitô trên đồi Calvariô, khi liên kết lời tiên tri của Simêôn về lưỡi gươm với thập giá của Chúa Kitô. Sự hiện diện của Ðức Maria dưới chân thập giá được xem là dấu chỉ của sức mạnh Kitô giáo, tràn đầy tình mẫu tử. Thánh Bênarđô thành Clairvaux đã nói về sự cộng tác của Ðức Mẹ trong hy lễ cứu chuộc khi bình luận về việc dâng Chúa Giêsu trong Ðền thờ.[20] Arnold, một người bạn của Thánh Bênarđô và là viện phụ dòng Biển Ðức ở Bonneval (X sau năm 1159), là người đầu tiên xem xét sự cộng tác của Ðức Maria với hy tế trên đồi Calvariô, đứng cạnh Con của Mẹ, Chúa Giêsu Kitô.[21]
13. Sự cộng tác của Mẹ với Chúa Con trong công trình cứu chuộc đã được Huấn quyền Giáo hội dạy.[22] Như Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố, "do đó, các Giáo phụ thánh thiện đã đúng khi nhìn nhận Ðức Maria không chỉ là một dụng cụ thụ động trong tay Thiên Chúa, mà còn là người cộng tác tự do vào công trình cứu độ nhân loại qua đức tin và sự vâng phục."[23] Sự cộng tác này không chỉ hiện diện trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu (khi Người thụ thai, sinh ra, chết và phục sinh) mà còn trong suốt đời sống của Giáo hội.
14. Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội làm nổi bật tính ưu việt và duy nhất của Chúa Kitô trong công trình cứu chuộc, vì tín điều này dạy rằng Ðức Maria - người đầu tiên được cứu chuộc - đã được Chúa Kitô cứu chuộc và được Chúa Thánh Thần biến đổi, trước bất kỳ hành động nào có thể có của chính Mẹ.[24] Từ điều kiện đặc biệt này là người đầu tiên được Chúa Kitô cứu chuộc và người đầu tiên được Chúa Thánh Thần biến đổi, Ðức Maria có thể cộng tác sâu sắc và mạnh mẽ hơn với Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, trở thành nguyên mẫu,[25] khuôn mẫu và gương mẫu về những gì Thiên Chúa muốn thực hiện trong mỗi người được cứu chuộc.[26]
15. Sự cộng tác của Ðức Maria vào công trình cứu chuộc mang cấu trúc Ba Ngôi, vì đó là hoa trái sáng kiến của Chúa Cha, Ðấng "đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn" (Lc 1,48); nó phát xuất từ sự tự hủy của Chúa Con, Ðấng đã hạ mình xuống mặc lấy thân phận tôi tớ (x. Pl 2,7-8); và đó là hiệu quả của ân sủng Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,28.30), Ðấng đã chuẩn bị tâm hồn người thiếu nữ thành Nadarét để đáp lại lời truyền tin và trong suốt cuộc đời hiệp thông với Chúa Con. Thánh Phaolô VI đã dạy rằng "nơi Ðức Trinh Nữ Maria, mọi sự đều quy chiếu về Chúa Kitô và tùy thuộc vào Người. Chính vì hướng về Chúa Kitô mà Thiên Chúa Cha, từ muôn đời, đã chọn Mẹ làm Mẹ thánh thiện và trang điểm cho Mẹ bằng những hồng ân của Chúa Thánh Thần mà không ai khác có thể ban cho Mẹ."[27] Lời "Xin vâng" của Ðức Maria không chỉ là một điều kiện tiên quyết cho một điều gì đó có thể được thực hiện mà không cần sự đồng ý và cộng tác của Mẹ. Thiên chức làm mẹ của Ðức Maria không chỉ mang tính sinh học, cũng không thụ động về bản chất,[28] nhưng là một thiên chức làm mẹ "hoàn toàn chủ động,"[29] được kết hợp với mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô như một khí cụ mà Chúa Cha đã muốn trong kế hoạch cứu chuộc của Người. Mẹ là "bảo chứng rằng Người thực sự là người, 'sinh ra bởi một người nữ' (Gl 4,4)" và, sau khi tín điều Nicêa được công bố, Mẹ cũng được công nhận là "Theotokos, Ðấng sinh hạ Thiên Chúa."[30]
Các Tước Hiệu Ám Chỉ Sự Cộng Tác Của Ðức Maria Trong Công Trình Cứu Chuộc
16. Trong số các tước hiệu được dùng để cầu khẩn Ðức Maria ("Mẹ Của Lòng Thương xót," "Niềm Hy Vọng Của Người Nghèo," "Ðấng Phù Hộ Các Kitô hữu," "Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp," "Ðấng Bào Chữa Cho Chúng Ta," v.v#), có một số tước hiệu nhấn mạnh hơn đến sự cộng tác của Mẹ trong công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, chẳng hạn như "Ðồng Công Cứu Chuộc" và "Ðấng Trung Gian."
Ðồng Công Cứu Chuộc
17. Tước hiệu "Ðồng Công Cứu Chuộc" xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ XV như một sự sửa đổi cho lời cầu khẩn "Redemptrix" (viết tắt của tước hiệu "Mẹ Ðấng Cứu chuộc"), vốn được gán cho Ðức Maria từ thế kỷ X. Thánh Bênarđô đã gán cho Maria một vai trò dưới chân thánh giá, điều này đã dẫn đến tước hiệu "Co-redemptrix," lần đầu tiên xuất hiện trong một bài thánh ca vô danh vào thế kỷ XV ở Salzburg.[31] Mặc dù danh xưng "Redemptrix - Mẹ Cứu Chuộc" vẫn tồn tại trong suốt thế kỷ XVI và XVII, nhưng nó đã hoàn toàn biến mất vào thế kỷ XVIII, và được thay thế bằng danh xưng "Co-redemptrix - Ðồng Công Cứu Chuộc." Nghiên cứu thần học về sự cộng tác của Ðức Maria vào công trình cứu chuộc của Chúa Kitô trong nửa đầu thế kỷ XX đã dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về ý nghĩa của danh xưng "Ðồng Công Cứu Chuộc."[32]
18. Một số Giáo hoàng đã sử dụng danh xưng "Ðồng Công Cứu Chuộc" mà không giải thích nhiều về ý nghĩa của nó.[33] Nhìn chung, các ngài đã trình bày danh xưng này theo hai cách cụ thể: ám chỉ đến thiên chức làm mẹ thiêng liêng của Ðức Maria (trong chừng mực mà với tư cách là Mẹ, Ðức Maria đã làm cho công trình cứu chuộc mà Chúa Kitô đã hoàn thành trở nên khả thi[34]) hoặc ám chỉ đến sự kết hợp của Mẹ với Chúa Kitô trên thập giá cứu chuộc.[35] Công đồng Vaticanô II đã kiềm chế không sử dụng danh xưng này vì lý do tín lý, mục vụ và đại kết. Thánh Gioan Phaolô II đã gọi Ðức Maria là "Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc" ít nhất bảy lần, đặc biệt liên hệ tước hiệu này với giá trị cứu độ của những đau khổ của chúng ta khi chúng được dâng lên cùng với những đau khổ của Chúa Kitô, Ðấng mà Ðức Maria đã kết hợp đặc biệt tại thập giá.[36]
19. Trong cuộc họp Feria IV vào ngày 21 tháng 2 năm 1996, Ðức Hồng y Joseph Ratzinger, khi đó là Tổng trưởng Bộ Giáo lý Ðức tin, đã được hỏi liệu yêu cầu của phong trào Vox Populi Mariae Mediatrici về việc định tín một tín điều khi tuyên bố Ðức Maria là "Ðấng Ðồng Cứu Chuộc" hay "Mediatrix - Ðấng Trung Gian của mọi ân sủng" có được chấp nhận hay không. Trong (votum) ý kiến cá nhân của mình, ngài trả lời: "Không được. Ý nghĩa chính xác của những tước hiệu này không rõ ràng, và giáo lý chứa đựng trong đó chưa chín chắn. Một giáo lý được xác định về đức tin thần linh thuộc về Depositum Fidei - nghĩa là, thuộc về mặc khải của Thiên Chúa được truyền đạt trong Kinh thánh và truyền thống tông đồ. Tuy nhiên, những tước hiệu này diễn tả không rõ ràng giáo lý có như thế nào trong Kinh thánh và truyền thống tông đồ."[37] Sau đó, vào năm 2002, ngài đã công khai bày tỏ ý kiến của mình chống lại việc sử dụng tước hiệu này: "Danh xưng 'Co-redemptrix' đi quá xa khỏi ngôn ngữ của Kinh thánh và của các Giáo phụ, do đó gây ra những hiểu lầm# Mọi sự đều đến từ Người [Chúa Kitô], như Thư gửi tín hữu Êphêsô và đặc biệt là Thư gửi tín hữu Côlôsê đã nói với chúng ta; Ðức Maria cũng vậy, tất cả những gì Mẹ có đều nhờ Người. Từ 'Co-redemptrix' sẽ làm lu mờ nguồn gốc này." Mặc dù Ðức Hồng y Ratzinger không phủ nhận rằng có thể có những ý định tốt và những khía cạnh giá trị trong đề xuất sử dụng tước hiệu này, nhưng ngài vẫn cho rằng chúng "đang được diễn đạt sai cách."[38]
20. Ðức Hồng y Ratzinger khi đó đã nhắc đến Thư gửi tín hữu Êphêsô và Côlôsê, trong đó từ vựng và động lực thần học của các bài thánh ca trình bày vị trí trung tâm cứu chuộc độc đáo của Chúa Con nhập thể theo cách không chừa chỗ cho bất kỳ hình thức trung gian nào khác - vì "muôn vàn ơn phúc" được ban cho chúng ta "trong Ðức Kitô" (Ep 1,3); chúng ta được làm nghĩa tử nhờ Người (x. Ep 1,5); trong Người, chúng ta đã được ban ân sủng (x. Ep 1,6); "nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc" (Ep 1,7); và ân sủng của Người đã "rộng ban cho ta" (Ep 1,8). "Cũng trong Ðức Kitô, Thiên Chúa# đã tiền định cho chúng tôi làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người" (Ep 1,11). Trong Người, "vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người" (Cl 1,19), nhờ Người và qua Người, Thiên Chúa muốn "muôn vật được hòa giải với mình" (Cl 1,20). Lời ca ngợi như vậy về vị trí độc nhất của Chúa Kitô mời gọi chúng ta đặt mọi tạo vật vào một vị thế tiếp nhận rõ ràng trong mối quan hệ với Người và thực hành sự thận trọng kỹ lưỡng và cung kính mỗi khi đề xuất bất kỳ hình thức cộng tác nào có thể có với Người trong lĩnh vực cứu chuộc.
21. Ít nhất ba lần, Ðức Giáo hoàng Phanxicô đã bày tỏ sự phản đối rõ ràng của mình đối với việc sử dụng tước hiệu "Ðồng Công Cứu Chuộc," khi lập luận rằng Ðức Maria "không bao giờ muốn chiếm đoạt bất cứ điều gì của Con mình cho riêng mình. Mẹ không bao giờ tự nhận mình là Ðấng Ðồng Cứu Chuộc. Không, chỉ là một người môn đệ."[39] Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô là hoàn hảo rồi và không cần thêm thắt gì; do đó, "Ðức Mẹ không muốn tước bỏ bất kỳ tước hiệu nào của Chúa Giêsu# Mẹ không xin cho mình trở thành một Ðấng Cứu Chuộc bán phần hay một Ðấng Ðồng Cứu Chuộc: không. Chỉ có một Ðấng Cứu Chuộc, và tước hiệu này không thể bị sao lại."[40] Chúa Kitô "là Ðấng Cứu Chuộc duy nhất; không có Ðấng Ðồng Cứu Chuộc nào với Chúa Kitô."[41] Vì "hy tế thập giá, được dâng lên trong tinh thần yêu thương và vâng phục, mang đến sự thỏa mãn dồi dào và vô hạn nhất."[42] Trong khi chúng ta có thể mở rộng hiệu quả của nó trên thế giới (x. Cl 1,24), thì cả Giáo hội lẫn Ðức Maria đều không thể thay thế hoặc hoàn thiện công trình cứu chuộc của Con Thiên Chúa nhập thể, vốn đã hoàn hảo và không cần thêm thắt gì.
22. Vì cần phải giải thích vai trò phụ thuộc của Ðức Maria đối với Chúa Kitô trong công trình cứu chuộc, nên việc dùng danh xưng "Ðồng Công Cứu Chuộc" để định nghĩa sự cộng tác của Ðức Maria luôn là điều không phù hợp. Danh xưng này có nguy cơ che khuất sự trung gian cứu độ độc nhất của Chúa Kitô, và do đó có thể gây ra sự nhầm lẫn và mất cân bằng trong sự hài hòa của các chân lý đức tin Kitô giáo, bởi vì "ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh xưng đó mà được cứu độ" (Cv 4,12). Khi một thành ngữ đòi hỏi nhiều lần giải thích lặp đi lặp lại để tránh lạc đề, thì thành ngữ đó không phục vụ đức tin của Dân Chúa và trở nên vô ích. Trong trường hợp này, cụm từ "Ðồng Công Cứu Chuộc" không giúp tôn vinh Ðức Maria như người cộng tác đầu tiên và quan trọng nhất trong công trình cứu chuộc và ân sủng, vì nó có nguy cơ làm lu mờ vai trò độc nhất của Chúa Giêsu Kitô - Con Thiên Chúa làm người vì ơn cứu độ của chúng ta, Ðấng duy nhất có khả năng dâng lên Chúa Cha một hy lễ vô giá - mà điều đó không phải là một vinh dự đích thực cho Mẹ Người. Thật vậy, với tư cách là "nữ tỳ của Chúa" (Lc 1,38), Ðức Maria hướng dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô và yêu cầu chúng ta "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" (Ga 2,5).
Mediatrix
23. Khái niệm về sự trung gian xuất hiện trong các Giáo phụ Ðông Phương từ thế kỷ VI. Trong các thế kỷ tiếp theo, Thánh Andrea thành Crete,[43] Thánh Germanus thành Constantinople[44] và Thánh Gioan thành Ðamátxô[45] đã sử dụng tước hiệu này với nhiều ý nghĩa khác nhau. Ở Tây Phương, cách diễn đạt này được sử dụng thường xuyên hơn bắt đầu từ thế kỷ XII, mặc dù nó không được chính thức công nhận là một luận đề giáo lý cho đến thế kỷ XVII. Năm 1921, Ðức Hồng y Mercier, Tổng Giám mục Mechelen - với sự hợp tác nghiên cứu của Ðại học Công giáo Louvain và sự hỗ trợ của các giám mục, giáo sĩ và giáo dân Bỉ - đã kiến nghị Ðức Giáo hoàng Bênêđictô XV ban hành một định nghĩa tín lý về sự trung gian phổ quát của Ðức Maria. Tuy nhiên, Ðức Thánh cha đã không chấp thuận yêu cầu này; ngài chỉ chấp thuận một lễ với Thánh lễ riêng và Nghi thức Ðức Maria Mediatrix (Ðấng Trung Gian).[46] Từ đó cho đến năm 1950, nghiên cứu thần học về vấn đề này tiếp tục phát triển cho đến giai đoạn chuẩn bị Công đồng Vaticanô II. Công đồng không đưa ra những tuyên bố tín điều,[47] nhưng thích trình bày một tổng hợp mở rộng "về giáo lý Công giáo liên quan đến vị trí dành cho Ðức Trinh Nữ Maria trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội."[48]
24. Lời Kinh thánh về vai trò trung gian độc nhất của Chúa Kitô là lời khẳng định chắc chắn. Chúa Kitô là Ðấng Trung Gian duy nhất, "thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Ðấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Ðức Kitô Giêsu, Ðấng đã hiến mình làm giá chuộc mọi người" (1 Tim 2,5-6). Giáo hội đã làm sáng tỏ vị trí độc nhất này của Chúa Kitô dựa trên sự kiện Người là Con Thiên Chúa vĩnh cửu và vô hạn, đã kết hợp ngôi vị với nhân tính mà Người đã đảm nhận. Ðiều này chỉ dành riêng cho nhân tính của Chúa Kitô, và những hệ quả phát sinh từ đó chỉ có thể được áp dụng đúng đắn cho Người. Theo nghĩa chính xác này, vai trò của Ngôi Lời Nhập Thể là độc nhất và duy nhất. Với sự rõ ràng này trong Lời Chúa được mặc khải, cần đặc biệt thận trọng khi áp dụng thuật ngữ "Ðấng Trung Gian" cho Ðức Maria. Trước khuynh hướng mở rộng quá mức phạm vi sự cộng tác của Ðức Maria qua tước hiệu này, thật hữu ích khi xác định rõ cả giá trị lẫn những giới hạn của tước hiệu ấy.
25. Một mặt, chúng ta không thể bỏ qua thực tế là từ "trung gian" thường được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống thường nhật, nơi nó được hiểu đơn giản là sự cộng tác, trợ giúp hoặc chuyển cầu. Do đó, không thể tránh khỏi việc thuật ngữ này được áp dụng cho Ðức Maria theo nghĩa phụ thuộc. Ðược sử dụng theo cách này, nó không có ý định thêm bất kỳ hiệu năng hay quyền năng nào cho sự trung gian độc nhất của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và người thật.
26. Mặt khác, rõ ràng là Ðức Maria đã giữ một vai trò trung gian thực sự trong việc làm cho Con Thiên Chúa nhập thể trong nhân tính của chúng ta, vì Ðấng Cứu Chuộc sẽ được "sinh ra bởi một người phụ nữ" (Gl 4,4). Trình thuật Truyền tin cho thấy điều này không chỉ liên quan đến một sự trung gian sinh học vì nó làm nổi bật sự tham gia tích cực của Ðức Maria trong việc đặt câu hỏi (x. Lc 1,29, 34) và chấp nhận với một quyết tâm vững chắc: "Fiat" (Lc 1,38). Câu trả lời của Ðức Maria đã mở ra cánh cổng cứu chuộc mà toàn thể nhân loại đã mong đợi và các thánh đã mô tả bằng tấn kịch thi ca.[49] Tại tiệc cưới Cana, Ðức Maria cũng đóng vai trò trung gian khi trình bày những nhu cầu của đôi tân hôn với Chúa Giêsu (x. Ga 2,3) và hướng dẫn những người hầu tuân theo chỉ dẫn của Người (x. Ga 2,5).
27. Thuật ngữ của Công đồng Vaticanô II về sự trung gian chủ yếu ám chỉ Chúa Kitô; đôi khi cũng ám chỉ Ðức Maria, nhưng theo một cách rõ ràng là phụ thuộc.[50] Thực ra, Công đồng thích sử dụng một thuật ngữ khác cho Ðức Maria: một thuật ngữ tập trung vào sự cộng tác[51] hoặc sự trợ giúp của người mẹ.[52] Giáo huấn của Công đồng đã hình thành rõ ràng quan điểm về sự chuyển cầu từ mẫu của Ðức Maria, sử dụng các thành ngữ như "sự chuyển cầu đa dạng" và "sự trợ giúp từ mẫu."[53] Hai khía cạnh này cùng nhau xác định bản chất cụ thể sự cộng tác của Ðức Maria vào hành động của Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. Nói một cách chính xác, chúng ta không thể nói về bất kỳ sự trung gian nào khác trong ân sủng ngoài sự trung gian của Con Thiên Chúa nhập thể.[54] Vì vậy, chúng ta phải luôn nhớ lại, và không bao giờ được làm lu mờ, niềm xác tín Kitô giáo "phải được tin vững chắc như một yếu tố thường hằng của đức tin Giáo hội" liên quan đến "sự thật về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất, Ðấng đã đưa lịch sử cứu độ đến chỗ viên mãn, và lịch sử đó có nơi Người sự viên mãn và trung tâm của nó."[55]
Ðức Maria Trong Vai Trò Trung Gian Ðộc Nhất Của Chúa Kitô
28. Ðồng thời, chúng ta cần nhớ rằng tính duy nhất trong vai trò trung gian của Chúa Kitô là "bao hàm." Người cho phép nhiều hình thức tham gia vào kế hoạch cứu độ của Người, bởi vì, khi hiệp thông với Người, tất cả chúng ta, theo một cách nào đó, có thể trở thành những người cộng tác với Thiên Chúa và "trung gian" cho nhau (x. 1 Cr 3,9). Chính nhờ quyền năng vô biên của Chúa Kitô, Người có thể nâng anh chị em mình lên để họ có khả năng cộng tác thực sự vào việc hoàn thành kế hoạch của Người. Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng "sự trung gian duy nhất của Ðấng Cứu Chuộc không loại trừ nhưng đúng hơn là tạo ra một sự cộng tác đa dạng, chỉ là sự chia sẻ từ một nguồn duy nhất."[56] Vì lý do này, "nội dung của sự trung gian tham gia này cần được khám phá sâu hơn, nhưng phải luôn phù hợp với nguyên tắc trung gian duy nhất của Chúa Kitô."[57] Thật vậy, Giáo hội trải dài trong thời gian và thông truyền khắp mọi nơi các hiệu quả mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô,[58] và Ðức Maria giữ một vị trí độc nhất trong lòng của Mẹ Giáo hội.[59]
29. Sự tham gia của Ðức Maria vào công trình của Chúa Kitô trở nên rõ ràng khi chúng ta bắt đầu với niềm xác tín rằng Chúa Phục Sinh thúc đẩy, biến đổi và ban cho các tín hữu khả năng cộng tác với Người trong công trình của Người. Ðiều này không xảy ra do sự yếu đuối, bất lực hay nhu cầu nào đó của Chúa Kitô, nhưng là do quyền năng vinh quang của Người, có khả năng đón nhận chúng ta, một cách quảng đại và tự do, như những người cộng tác vào công trình của Người. Ðiều cần nhấn mạnh trong trường hợp này là khi Chúa Kitô cho phép chúng ta đồng hành với Người và cống hiến hết mình, dưới sự thúc đẩy của ân sủng Người, thì cuối cùng chính quyền năng và lòng thương xót của Người được tôn vinh.
Sinh Hoa Trái Trong Chúa Kitô Vinh Quang
30. Ðoạn văn sau đây đặc biệt soi sáng khi nối kết với chủ đề này: "Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha" (Ga 14,12). Các tín hữu được kết hợp với Chúa Kitô Phục Sinh, Ðấng đã ngự bên hữu Chúa Cha, có thể thực hiện những công trình vượt xa những kỳ công Chúa Giêsu đã làm khi còn tại thế, nhưng luôn luôn nhờ sự kết hợp của họ với Chúa Kitô vinh quang qua đức tin. Ðiều này được chứng minh, chẳng hạn, qua sự phát triển kỳ diệu của Giáo hội sơ khai, khi Ðấng Phục Sinh chia sẻ công trình này với Giáo hội của Người (x. Mc 16,15). Bằng cách này, vinh quang của Chúa Kitô không hề suy giảm mà còn được tỏ hiện rõ ràng hơn, khi thể hiện quyền năng biến đổi các tín hữu và làm cho họ sinh hoa kết trái với Người.
31. Trong số các Giáo phụ, ý tưởng này được diễn đạt rõ nét trong các bài chú giải về Ga 7,37-39, vì một số vị giải thích lời hứa của Chúa Kitô về "những dòng nước hằng sống" ám chỉ đến các tín hữu. Theo cách giải thích này, chính các tín hữu, được biến đổi bởi ân sủng của Chúa Kitô, trở thành nguồn suối cho người khác. Origene giải thích rằng Chúa thực hiện những gì Người đã loan báo trong Gioan 7,38 bằng cách khiến những dòng nước chảy ra từ chúng ta: "Linh hồn con người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, có thể tự chứa đựng và tuôn trào những giếng, suối và sông."[60] Thánh Ambrôsiô khuyên nên uống nước từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô, "để nguồn nước tuôn trào đến sự sống vĩnh cửu có thể tràn ngập trong bạn."[61] Thánh Tôma Aquinô đã diễn đạt điều này bằng cách nói rằng nếu một tín hữu "vội vàng chia sẻ những ân huệ khác nhau nhận được từ Thiên Chúa, thì nước hằng sống sẽ chảy ra từ trái tim người ấy."[62]
32. Nếu điều này đúng với mọi tín hữu - mà sự cộng tác của họ với Chúa Kitô ngày càng sinh hoa kết trái đến mức họ để cho mình được biến đổi bởi ân sủng - thì điều này càng phải được khẳng định nơi Ðức Maria theo một cách độc đáo và tuyệt vời biết bao. Bởi vì Mẹ là Ðấng "đầy ân sủng" (Lc 1,28) và là Ðấng đã thưa lên, không hề cản trở công trình của Thiên Chúa: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38). Ðức Maria đã ban cho thế gian Ðấng là Tác Giả của ơn cứu chuộc và ân sủng, Mẹ đã đứng vững dưới chân thập giá (x. Ga 19,25), chịu đau khổ bên cạnh Con mình và hiến dâng nỗi đau của trái tim người mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu (x. Lc 2,35). Từ nhập thể đến thập giá và phục sinh, Mẹ đã kết hợp với Chúa Kitô theo một cách độc đáo và vượt xa bất kỳ tín hữu nào khác.
33. Tất cả những điều này không phải vì công trạng riêng của Mẹ mà nhờ công trạng của Chúa Kitô trên thập giá đã được áp dụng cho Mẹ một cách trọn vẹn - theo cách đặc biệt và trước kỳ hạn - để tôn vinh Chúa và Ðấng Cứu Ðộ duy nhất.[63] Cuối cùng, Mẹ là một bài thánh thi ca ngợi hiệu quả ân sủng của Thiên Chúa đến nỗi bất kỳ sự thừa nhận nào về vẻ đẹp của Mẹ đều ngay lập tức hướng về sự tôn vinh nguồn gốc nguyên thủy của mọi điều tốt lành: Chúa Ba Ngôi. Sự vĩ đại vô song của Ðức Maria hệ tại những gì Mẹ đã lãnh nhận và sự sẵn sàng tin tưởng để cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Khi chúng ta cố gắng gán cho Mẹ những vai trò tích cực song song với vai trò của Chúa Kitô, chúng ta đang rời xa vẻ đẹp vô song vốn chỉ có ở Mẹ. Cụm từ "trung gian tham dự" có thể diễn tả một ý nghĩa chính xác và quý giá về vai trò của Ðức Maria, nhưng nếu bị hiểu sai, nó có thể dễ dàng làm lu mờ hoặc thậm chí mâu thuẫn với ý nghĩa đó. Sự trung gian của Chúa Kitô, trong một số khía cạnh có thể là "bao gồm" hoặc được chia sẻ, trong những khía cạnh khác lại mang tính loại trừ và bất khả truyền đạt.
Mẹ Của Các Tín Hữu
34. Trong trường hợp của Ðức Maria, sự trung gian này diễn ra theo cách thuộc mẫu tính,[64] giống như Mẹ đã làm ở Cana[65] và như đã được xác nhận trên thập giá.[66] Ðức Thánh cha Phanxicô đã giải thích điều này như sau: "Ðức Maria là Mẹ. Và đây là tước hiệu Mẹ đã nhận được từ Chúa Giêsu, ngay tại đó, vào lúc thập giá (x. Ga 19,26-27). Ðây là con của Mẹ, đây là Mẹ con... Mẹ đã nhận được hồng ân làm mẹ của Người và bổn phận đồng hành với chúng ta như Mẹ, để là Mẹ của chúng ta."[67]
35. Danh xưng "Mẹ" có nguồn gốc từ Kinh thánh và các Giáo phụ. Danh xưng này được Huấn quyền trình bày và nội dung của nó được phát triển dần dần cho đến giáo huấn của Công đồng Vaticanô II[68] cũng như thuật ngữ "mẫu tính thiêng liêng" được dùng trong thông điệp Redemptoris Mater.[69] Mẫu tính thiêng liêng của Ðức Maria bắt nguồn từ mẫu tính thể lý của Người đối với Con Thiên Chúa. Bằng việc mang thai Chúa Kitô về mặt thể lý - qua việc Mẹ tự do và tin tưởng chấp nhận sứ mệnh đó - Ðức Maria, trong đức tin, cũng đã sinh ra tất cả các Kitô hữu, những người là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Nói cách khác, Mẹ đã sinh ra Chúa Kitô toàn thể: Ðầu và các chi thể.[70]
36. Với tư cách là Mẹ, sự tham gia của Ðức Trinh Nữ Maria vào cuộc đời của Con mình, từ nhập thể đến thập giá và phục sinh, mang lại một tính chất độc đáo và riêng biệt cho sự cộng tác của Mẹ vào công trình cứu chuộc của Người, đặc biệt là đối với Giáo hội, "khi [Giáo hội] chiêm ngưỡng mẫu tính thiêng liêng của Ðức Maria đối với tất cả các chi thể của Nhiệm thể; trong lời cầu khẩn tin tưởng của mình [đối với Mẹ]; khi Giáo hội cảm nghiệm sự chuyển cầu của Ðấng bênh vực và trợ giúp của mình."[71] Khía cạnh mẫu tử này đặc trưng cho mối quan hệ của Ðức Trinh Nữ với Chúa Kitô và sự cộng tác của Mẹ trong mọi khoảnh khắc của công trình cứu độ. Trong sứ mệnh làm Mẹ, Ðức Maria có một mối quan hệ duy nhất với Ðấng Cứu Chuộc và với những người đã được cứu chuộc, trong đó Mẹ là người đầu tiên: "Ðức Maria là mẫu mực [mô mẫu] của Giáo hội và của sự tái sinh diễn ra trong Giáo hội;" thực vậy, Mẹ là biểu tượng và "hình ảnh thu nhỏ của chính Giáo hội."[72] Chức làm mẹ này được sinh ra từ sự hiến thân trọn vẹn của Mẹ và ơn gọi trở thành người phục vụ mầu nhiệm.[73] Trong chức làm mẹ của Ðức Maria, tất cả những gì chúng ta có thể nói về chức làm mẹ theo ân sủng và về vị trí hiện tại của Mẹ trong toàn thể Giáo hội đều được tổng hợp.
37. Mẫu tính thiêng liêng của Ðức Maria có một số đặc điểm xác định:
a) Mẫu tính này được đặt nền tảng trên sự thật rằng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và thiên chức làm mẹ của Mẹ được mở rộng đến các môn đệ của Chúa Kitô[74] và thậm chí đến toàn thể nhân loại.[75] Về mặt này, sự hợp tác của Maria là duy nhất và khác biệt so với sự hợp tác của tất cả "các tạo vật khác."[76] Sự chuyển cầu của Mẹ không mang đặc tính của sự trung gian tư tế (như của Chúa Kitô), nhưng được đặt trong trật tự và sự tương đồng với thiên chức làm mẹ.[77] Bằng cách liên kết sự chuyển cầu của Mẹ Maria với công trình của Chúa Kitô, những ân huệ Chúa ban cho chúng ta được trình bày với một khía cạnh mẫu tử, thấm đẫm sự dịu dàng và gần gũi của Người Mẹ[78] mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta (x. Ga 19,27).
b) Sự cộng tác mẫu tử của Mẹ Maria ở trong Chúa Kitô, và do đó, mang tính tham gia. Nói cách khác, nó bao hàm "sự chia sẻ nguồn mạch duy nhất, đó là sự trung gian của chính Chúa Kitô."[79] Ðức Maria bước vào sự trung gian duy nhất của Chúa Kitô một cách hoàn toàn cá nhân.[80] Vai trò làm mẹ của Mẹ "không hề che khuất hay làm giảm đi vai trò trung gian độc đáo này của Chúa Kitô, nhưng đúng hơn, cho thấy sức mạnh của vai trò ấy. Mọi ảnh hưởng cứu độ của Ðức Trinh Nữ Maria" đối với chúng ta đều xuất phát từ "sự phong phú dồi dào của công nghiệp Chúa Kitô, nương tựa vào sự trung gian của Người, hoàn toàn tùy thuộc vào sự trung gian ấy và rút ra tất cả sức mạnh từ đó."[81] Trong thiên chức làm mẹ của mình, Ðức Maria không phải là một rào cản giữa con người và Chúa Kitô. Trái lại, vai trò làm mẹ của Mẹ gắn liền một cách bất khả phân ly với vai trò của Chúa Kitô và hướng về Người. Hiểu theo cách này, chức làm mẹ của Ðức Maria không tìm cách làm suy yếu lòng tôn thờ độc nhất dành cho một mình Chúa Kitô, nhưng đúng hơn, tìm cách khơi dậy lòng tôn thờ đó.[82] Do đó, cần tránh những danh xưng và cách diễn đạt trình bày Ðức Maria như một loại "cột thu lôi" trước công lý của Chúa, như thể Mẹ là một sự thay thế cần thiết trước sự bất lực của lòng thương xót của Thiên Chúa. Công đồng Vaticanô II đã tái khẳng định lòng sùng kính dành cho Ðức Maria phải như thế nào, cụ thể là "một lòng sùng kính hướng đến Chúa Kitô như là trung tâm của đức tin Kitô giáo, theo cách mà 'khi Mẹ được tôn vinh, thì Chúa Con# được nhận biết, yêu mến và tôn vinh một cách xứng đáng.'"[83] Cuối cùng, thiên chức làm mẹ của Ðức Maria phụ thuộc[84] vào sự tuyển chọn của Chúa Cha, vào công trình của Chúa Kitô, và vào hoạt động của Chúa Thánh Thần.
c) Giáo hội không chỉ là điểm quy chiếu cho mẫu tính thiêng liêng của Ðức Maria, mà chính trong chiều kích bí tích của Giáo hội mà mẫu tính của Mẹ luôn được triển khai.[85] Ðức Maria hành động với Giáo hội, trong Giáo hội và cho Giáo hội. Việc thực hành thiên chức làm mẹ của Mẹ được tìm thấy trong sự hiệp thông của Giáo hội chứ không phải bên ngoài Giáo hội, khi Mẹ dẫn dắt và đồng hành với Giáo hội. Giáo hội học được thiên chức làm mẹ của chính mình từ Ðức Maria,[86] trong việc đón nhận Lời Chúa, loan báo Tin mừng, hoán cải và loan báo Chúa Kitô; trong hồng ân của đời sống bí tích Rửa tội và Thánh thể; và trong việc giáo dục và đào tạo của người mẹ giúp con cái Thiên Chúa được sinh ra và lớn lên.[87] Vì lý do này, có thể nói rằng "sự phong phú của Giáo hội cũng giống như sự phong phú của Ðức Maria; nó được thể hiện trong cuộc sống của các thành viên của Giáo hội đến mức họ sống lại, 'thu nhỏ', những gì Mẹ đã sống, nghĩa là họ yêu thương theo tình yêu của Chúa Giêsu."[88] Là Mẹ, Ðức Maria chờ đợi Chúa Kitô được sinh ra trong chúng ta[89] và không thay thế Người; điều tương tự cũng đúng với Giáo hội. Do đó, "nhờ những ân sủng dồi dào tuôn trào từ cạnh sườn mở ra của Chúa Kitô, theo những cách khác nhau, Giáo hội, Ðức Trinh Nữ Maria và tất cả các tín hữu trở thành những dòng nước hằng sống. Bằng cách này, Chúa Kitô biểu lộ vinh quang của Người trong và qua sự nhỏ bé của chúng ta."[90]
Sự Chuyển Cầu
38. Ðức Maria được kết hợp với Chúa Kitô một cách độc nhất vô nhị nhờ thiên chức làm mẹ và nhờ tràn đầy ân sủng. Ðiều này được ám chỉ trong lời chào của thiên thần (x. Lc 1,28), trong đó sử dụng một từ (kecharitomene) chỉ được tìm thấy ở đây và không nơi nào khác trong Kinh thánh. Mẹ đã đón nhận quyền năng của Chúa Thánh Thần trong lòng mình và trở thành Mẹ Thiên Chúa, nhờ cùng một Thánh Thần, Mẹ trở thành Mẹ của Giáo hội.[91] Chính nhờ sự kết hợp đặc biệt này trong thiên chức làm mẹ và trong ân sủng, lời cầu nguyện của Mẹ cho chúng ta có một giá trị và hiệu quả không thể so sánh với bất kỳ lời chuyển cầu nào khác. Thánh Gioan Phaolô II đã kết nối tước hiệu "Ðấng Trung Gian" với vai trò chuyển cầu từ mẫu này, khi lưu ý rằng Ðức Maria "đặt mình 'ở giữa', nghĩa là, Mẹ hành động như một người trung gian không phải như một người ngoài cuộc, nhưng trong tư cách là một người mẹ. Mẹ biết rằng, với tư cách đó, Mẹ có thể thưa lên với Con mình những nhu cầu của nhân loại."[92]
39. Dựa vào Kinh thánh, Ðức tin Công giáo nhận thấy rằng những ai đang ở với Thiên Chúa trên thiên đàng có thể tiếp tục thực hiện các hành động yêu thương bằng cách cầu bầu cho chúng ta và đồng hành với chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta thấy rằng các thiên thần là "những bậc thiêng liêng chuyên lo phụng thờ Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ" (Dt 1,14). Kinh thánh nói về các sứ vụ được thực hiện bởi các thiên thần (x. Tb 5,4; 12,12; Cv 12,7-11; Kh 8,3-5). Các thiên thần đã phục vụ Chúa Giêsu nơi sa mạc trong những cơn cám dỗ của Người (x. Mt 4,11) và trong cuộc khổ nạn của Người (x. Lc 22,43). Các Thánh Vịnh hứa với chúng ta rằng "bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường" (Tv 91,11).
40. Những đoạn văn này cho chúng ta biết rằng thiên đàng không hoàn toàn tách biệt với trái đất, điều này mở ra khả năng rằng những người nơi thiên đàng có thể cầu bầu cho chúng ta. Sách Dacaria trình bày một thiên thần của Thiên Chúa phán rằng: "Lạy Ðức Chúa các đạo binh, Ngài không thương Giêrusalem và các thành Giuđa cho đến mãi bao giờ?" (Dcr 1,12). Tương tự, sách Khải Huyền nói về những "người bị giết," tức là các vị tử đạo trên trời, những người can thiệp bằng cách cầu xin Thiên Chúa hành động trên trái đất để giải thoát chúng ta khỏi bất công: "Tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng. Họ lớn tiếng kêu: "Lạy Chúa chí thánh và chân thật, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng con?" (Kh 6,9-10). Ngay trong truyền thống Do Thái Hy Lạp, đã có niềm tin rằng những người công chính đã chết sẽ cầu bầu cho dân tộc (x. 2 Mcb 15,12-14).
41. Ở trên trời Ðức Maria yêu thương "những người còn lại trong dòng dõi bà" (Kh 12,17), và vì thế, như xưa Mẹ đã đồng hành với lời cầu nguyện của các Tông đồ khi họ nhận được Chúa Thánh Thần (x. Cv 1,14), thì nay Mẹ cũng đồng hành với lời cầu nguyện của chúng ta từ trời với lời chuyển cầu từ mẫu. Bằng cách này, Mẹ tiếp tục thái độ phục vụ và lòng trắc ẩn mà Mẹ đã thể hiện tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-11), khi Mẹ vẫn hướng về Chúa Giêsu hôm nay mà thưa: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3). Trong bài ca ngợi khen của Mẹ, chúng ta thấy Ðức Maria là một người phụ nữ của dân tộc mình, người ngợi khen Thiên Chúa vì "Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư" (Lc 1,52-53), và vì "Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời" (Lc 1,54-55); và chúng ta nhận ra sự mau mắn của Mẹ khi Mẹ vội vã lên đường giúp đỡ người chị họ Êlisabét (x. Lc 1,39-40). Vì những lý do này, Dân Chúa tin tưởng vững chắc vào lời chuyển cầu của Mẹ.
42. Trong số những người được tuyển chọn và được vinh quang với Chúa Kitô, trước hết và trên hết là Mẹ của Người. Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng Ðức Maria có một sự cộng tác độc đáo vào công trình cứu độ mà Chúa Kitô thực hiện trong Giáo hội của Người. Nhờ lời chuyển cầu này, Ðức Maria trở thành dấu chỉ từ mẫu của lòng thương xót Chúa đối với chúng ta. Bằng cách này, Chúa ban cho hành động của Người trong chúng ta một khuôn mặt từ mẫu, vì Người đã tự ý muốn như vậy.[93]
Sự Gần Gũi Của Mẹ
43. Nhiều lời cầu khẩn, hình ảnh và đền thánh Ðức Maria cho thấy tình mẫu tử đích thực của Mẹ, gần gũi với cuộc sống của con cái Người. Một ví dụ về điều này có thể thấy qua việc Mẹ hiện ra với Thánh Juan Diego trên đồi Tepeyac và nói với ngài bằng những lời dịu dàng của một người mẹ: "Con trai yêu dấu và trẻ trung nhất của Mẹ, Juan." Khi Thánh Juan Diego bày tỏ những khó khăn trong việc thực hiện sứ mạng được giao phó, Ðức Maria đã cho ngài thấy sức mạnh của tình mẫu tử: "Mẹ không ở đây sao, mẹ của con là ai?... Con không ở trong lòng áo choàng của Mẹ, trong vòng tay Mẹ sao?"[94]
44. Kinh nghiệm về tình mẫu tử của Ðức Maria mà Thánh Juan Diego đã sống, là kinh nghiệm cá nhân của tất cả các Kitô hữu đón nhận tình mẫu tử của Ðức Maria và phó thác "những nhu cầu hằng ngày" của mình vào tay Mẹ, tin tưởng mở lòng "khẩn cầu sự chuyển cầu của Mẹ và xin Mẹ che chở an ủi."[95] Ngoài những biểu hiện phi thường về sự gần gũi của Mẹ, còn có những biểu hiện thường xuyên và hằng ngày về tình mẫu tử của Mẹ trong cuộc sống của tất cả con cái Mẹ. Ngay cả khi chúng ta không cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ, Mẹ vẫn tỏ ra gần gũi với chúng ta như một người Mẹ để giúp chúng ta nhận ra tình yêu của Chúa Cha, chiêm ngắm hồng ân cứu độ của Chúa Kitô, và đón nhận hành động thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Giá trị của sự gần gũi của Mẹ với Giáo hội lớn lao đến nỗi các mục tử không được để nó bị lạm dụng cho các mục đích chính trị. Trong nhiều dịp, Ðức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo về điều này và bày tỏ mối quan ngại về "nhiều đề xuất ý thức hệ và văn hóa khác nhau tìm cách chiếm hữu riêng cho mình cuộc gặp gỡ của một dân tộc với Mẹ của họ."[96]
Mẹ Của Ân Sủng
45. Cách hiểu này về tước hiệu "Mẹ Của Các Tín Hữu" cho phép chúng ta nói về vai trò của Ðức Maria trong mối liên hệ với đời sống ân sủng của chúng ta. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một số cách diễn tả có thể được chấp nhận về mặt thần học lại có thể dễ dàng trở nên nặng nề với những khái niệm và biểu tượng chứa đựng những quan niệm khó chấp nhận hơn. Ví dụ, Ðức Maria đôi khi được miêu tả như thể Mẹ sở hữu một kho tàng ân sủng tách biệt với Thiên Chúa. Trong quan niệm như vậy, không rõ ràng rằng với sự toàn năng quảng đại và tự do của Người, chính Chúa đã muốn liên kết Mẹ với việc chia sẻ sự sống thần linh đó, sự sống phát xuất từ trung tâm duy nhất là trái tim Chúa Kitô, chứ không phải từ trái tim của Ðức Maria.[97] Ðức Maria cũng thường được miêu tả hoặc hình dung như một nguồn mạch tuôn chảy mọi ân sủng. Nếu người ta xem xét sự kiện rằng sự cư ngụ của Ba Ngôi (ân sủng bất tạo) và sự tham gia của chúng ta vào sự sống thần linh (ân sủng thụ tạo) là không thể tách rời, chúng ta không thể nghĩ rằng mầu nhiệm này phụ thuộc vào một "sự đi qua" nhờ bàn tay của Ðức Maria. Những quan niệm như vậy nâng Ðức Maria lên cao đến mức vị thế trung tâm của chính Chúa Kitô có thể biến mất, hoặc ít nhất, trở nên bị ràng buộc. Ðức Hồng Y Ratzinger đã khẳng định rằng tước hiệu "Ðức Maria, Ðấng Trung Gian của mọi ân sủng" không được đặt nền tảng rõ ràng trong Sách Khải Huyền.[98] Phù hợp với niềm xác tín này, chúng ta có thể nhận ra những khó khăn mà tước hiệu này đặt ra, cả về mặt suy tư thần học lẫn tu đức.
46. Ðể tránh những khó khăn này, chức làm mẹ của Ðức Maria trong trật tự ân sủng phải được hiểu như một sự trợ giúp chuẩn bị cho chúng ta đón nhận ơn thánh hóa của Thiên Chúa. Ðiều này có thể thấy qua cách thức, một mặt, lời chuyển cầu của Mẹ[99] là biểu hiện của "sự trợ giúp của Mẹ"[100] cho phép chúng ta nhận ra Chúa Kitô là Ðấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại. Mặt khác, sự hiện diện của Mẹ trong cuộc sống chúng ta không ngăn cản nhiều hành động khác nhau của Ðức Maria nhằm khuyến khích chúng ta mở lòng đón nhận hoạt động của Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần. Như thế, Mẹ giúp chúng ta, bằng nhiều cách khác nhau, chuẩn bị bản thân để đón nhận sự sống ân sủng mà chỉ có Chúa mới có thể đổ tràn vào chúng ta.
47. Sự cứu rỗi của chúng ta chỉ là công trình của ân sủng cứu rỗi của Chúa Kitô chứ không phải của bất kỳ ai khác. Thánh Augustinô khẳng định rằng "vương quốc sự chết này chỉ bị tiêu diệt nơi bất kỳ con người nào nhờ ân sủng của Ðấng Cứu Thế,"[101] và ngài đã giải thích rõ ràng điểm này dưới ánh sáng của sự cứu chuộc người không công chính: "Ai lại muốn chết cho một người không công chính, cho một người vô đạo, ngoài Chúa Kitô, Ðấng công chính đến mức có thể biện minh cho cả những người không công chính? Vì vậy, thưa anh em, chúng ta không có công trạng nào, mà chỉ có tội. Mặc dù công trạng của con người thuộc loại như vậy, nhưng lòng thương xót của Người không bỏ rơi họ và... thay vì hình phạt phải chịu, Người đã ban cho họ ân sủng mà họ không đáng được nhận# [Người đã làm điều này] để cứu chuộc chúng ta, không phải bằng vàng hay bạc, mà bằng giá máu của Người đổ ra."[102] Vì vậy, khi Thánh Tôma Aquinô hỏi liệu có ai có thể xứng đáng vì lý do nào khác không, ngài trả lời rằng "không ai có thể xứng đáng vì lý do nào khác ân sủng đầu tiên của Người, ngoài Chúa Kitô."[103] Không một con người nào khác có thể xứng đáng theo nghĩa chặt chẽ (de condigno), và về điểm này, không còn nghi ngờ gì nữa: "Không ai có thể công chính nếu không nhờ công trạng của cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta."[104] Tương tự như vậy, sự viên mãn ân sủng của Ðức Maria hiện hữu vì Mẹ đã đón nhận ân sủng đó một cách tự do, trước bất kỳ hành động nào của riêng mình, "vì công trạng của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ nhân loại."[105] Chỉ có công trạng của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng đã hiến mình cho đến cùng, mới được áp dụng cho chúng ta vì sự công chính của chúng ta, vì nó "kết thúc trong sự tốt lành vĩnh cửu của sự tham gia của Thiên Chúa, là một công trình vĩ đại hơn cả việc tạo dựng trời đất."[106]
48. Tuy nhiên, chúng ta có thể tham gia bằng cách mong muốn điều tốt lành cho người khác, và thật phù hợp (congruo) khi Thiên Chúa thực hiện mong muốn bác ái này, có thể được diễn tả "trong lời cầu nguyện" hoặc bằng "những việc làm thương xót."[107] Ðúng là chỉ có Thiên Chúa mới có thể đổ tràn ân sủng vì khả năng này "vượt quá sự cân xứng của bản tính chúng ta"[108] và có một khoảng cách vô hạn[109] giữa bản tính của chúng ta và sự sống thần linh của Người. Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể ban tặng ân sủng này, khi thực hiện mong muốn của Người Mẹ, Ðấng nhờ đó kết hợp mình một cách hân hoan với công trình của Thiên Chúa như một người tôi tớ khiêm nhường.
49. Như ở Cana, Ðức Maria không nói với Chúa Kitô những gì Người phải làm. Thay vào đó, Mẹ cầu bầu bằng cách trình bày với Người những thiếu sót, nhu cầu và đau khổ của chúng ta để Người có thể hành động với quyền năng thần linh của Người:[110] "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3). Ngay cả ngày nay, Mẹ vẫn giúp chúng ta chuẩn bị cho hành động của Thiên Chúa:[111] "Người bảo gì, các anh cứ làm theo" (Ga 2,5). Lời của Mẹ không chỉ là một gợi ý đơn thuần mà trở thành một phương pháp sư phạm mẫu tử đích thực, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, dẫn chúng ta vào ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Chúa Kitô.[112] Ðức Maria lắng nghe, quyết định và hành động[113] để giúp chúng ta mở lòng mình ra với Chúa Kitô và với ân sủng của Người,[114] bởi vì chỉ có Thiên Chúa mới hoạt động trong tận đáy lòng chúng ta.
Nơi Chỉ Thiên Chúa Có Thể Vươn Tới
50. Như Sách Giáo Lý nhắc nhở chúng ta, ơn thánh hóa "trước hết và trên hết là ân huệ của Chúa Thánh Thần, Ðấng công chính hóa và thánh hóa chúng ta."[115] Ðó không chỉ đơn thuần là một sự trợ giúp hay một năng lực mà chúng ta sở hữu, nhưng là "ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta chính sự sống của Người, được Chúa Thánh Thần truyền vào linh hồn chúng ta,"[116] có thể được mô tả như sự cư ngụ của Ba Ngôi trong sâu thẳm tâm hồn chúng ta, như tình bạn với Thiên Chúa, và như giao ước với Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thực hiện được điều này vì nó bao hàm việc vượt qua sự mất cân xứng "vô hạn."[117] Sự tự hiến của Ba Ngôi - qua đó chính Thiên Chúa sẽ "đi vào"[118] (illabitur) linh hồn - hàm ý một sự biến đổi cố hữu trong phần sâu thẳm nhất của người tin.[119] Ðể mô tả hành động "đi vào" nơi sâu thẳm nhất của chúng ta, Thánh Tôma Aquinô sử dụng động từ illabi, chỉ áp dụng cho Thiên Chúa, vì chỉ có Người, không phải là một tạo vật, mới có thể chạm đến phần sâu thẳm nhất đó của chúng ta mà không vi phạm quyền tự do và căn tính của chúng ta.[120] Thật vậy, chỉ có Thiên Chúa mới đạt tới trung tâm sâu thẳm nhất của chúng ta để mang lại sự nâng cao và biến đổi khi Người hiến mình làm Bạn, và do đó, "không tạo vật nào có thể ban ân sủng."[121] Thánh Tôma nhắc lại điểm này khi nói về ân sủng bí tích: là nguyên nhân chính, "chỉ có Thiên Chúa mới tạo ra hiệu quả bên trong của bí tích: trước hết, vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể đi vào linh hồn nơi hiệu quả bí tích diễn ra (và không có tác nhân nào có thể hoạt động ngay lập tức ở nơi nó không có): thứ hai, vì ân sủng là hiệu quả bên trong của bí tích đến từ một mình Thiên Chúa."[122]
51. Các tác giả khác cũng đã diễn đạt theo cách tương tự.[123] Trong bối cảnh này, cần nhấn mạnh đến Thánh Bonaventura, người đã dạy rằng khi Thiên Chúa hoạt động với ân sủng thánh hóa nơi một con người, Người làm cho người đó hoàn toàn gần gũi với Người.[124] Nhờ ân sủng, Thiên Chúa trở nên hoàn toàn gần gũi với con người, với một sự gần gũi tuyệt đối, một sự "đi vào" tận sâu thẳm nhất của con người mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể đạt được.[125] Vậy, ân sủng thụ tạo (created grace) không hoạt động như một "trung gian" mà là hiệu quả trực tiếp của tình bạn mà Thiên Chúa ban tặng, nó chạm trực tiếp đến trái tim con người. Và như vậy, vì chính Thiên Chúa là Ðấng mang lại sự biến đổi cho con người khi Người hiến mình như người Bạn, nên không có trung gian nào giữa Thiên Chúa và con người được biến đổi.[126] Chỉ có Thiên Chúa mới có khả năng đi vào sâu thẳm như vậy, để thánh hóa chúng ta đến mức trở nên hoàn toàn gần gũi với chúng ta, và chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm như vậy mà không hủy hoại con người.[127]
52. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa vĩnh cửu và tự nhiên[128] đã mặc lấy bản tính nhân loại, chiếm một vị trí độc nhất trong công trình cứu độ. Ðược kết hợp ngôi vị với Chúa Con nhờ ân sủng "hoàn toàn vô hạn,"[129] nhân tính này đã nhận được ân sủng "theo cách cao cả nhất; và do đó, từ sự trổi vượt của ân sủng mà Người đã nhận được, chính từ Người mà ân sủng này được ban cho những người khác, và điều này thuộc về bản tính của Ðầu."[130] Nhân tính của Người tham gia vào việc tuôn đổ ân sủng thánh hóa, ân sủng này trào tràn hay "tràn đầy"[131] từ đây. Do vậy, "theo một nghĩa nào đó, Người là nguồn mạch của mọi ân sủng theo nhân tính của Người" với tư cách là Ðầu mà từ đó ân sủng tuôn chảy đến những người khác ("in alios transfunderetur").[132] Bản tính nhân loại này không thể tách rời khỏi ơn cứu độ của chúng ta, vì "với việc nhập thể, mọi hành động cứu độ của Ngôi Lời Thiên Chúa luôn được thực hiện trong sự hiệp nhất với bản tính nhân loại mà Người đã đảm nhận để cứu độ mọi người."[133] Qua bản tính nhân loại đã đảm nhận này, Con Thiên Chúa "đã kết hợp với mỗi người một cách nào đó" và trong bản tính ấy, Người "đã ban sự sống cho chúng ta nhờ máu Người đã đổ ra một cách tự do."[134] Nhờ ân sủng, các tín hữu được kết hợp với Chúa Kitô và tham gia vào Mầu nhiệm Vượt qua của Người, để họ có thể sống kết hợp mật thiết và độc nhất với Người, điều mà Thánh Phaolô đã diễn tả bằng những lời này: "Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).
53. Không một con người nào - kể cả các Tông đồ hay Ðức Trinh Nữ - có thể hành động như một Ðấng ban phát ân sủng phổ quát. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban ân sủng,[135] và Người làm như vậy thông qua nhân tính của Ðức Kitô[136] vì "con người Ðức Kitô sở hữu sự sung mãn tối cao của ân sủng, vì là Con Một của Chúa Cha."[137] Mặc dù Ðức Trinh Nữ Maria là "đầy ân sủng" và là "Mẹ Thiên Chúa" một cách tuyệt vời, nhưng giống như chúng ta, Mẹ là "dưỡng tử" của Chúa Cha và, như Dante Alighieri viết, "ái nữ của Con Mẹ."[138] Mẹ cộng tác vào công trình cứu độ bằng một sự tham gia được phát xuất và tuỳ phụ. Do đó, bất kỳ diễn đạt nào về "sự trung gian" của Mẹ trong ân sủng phải được hiểu như một sự so sánh xa biệt với Chúa Kitô và sự trung gian độc nhất của Người.[139]
54. Trong sự gần gũi hoàn hảo giữa con người và Thiên Chúa qua việc thông truyền ân sủng, ngay cả Ðức Maria cũng không thể can thiệp. Tình bạn với Chúa Giêsu Kitô cũng như sự cư ngụ của Ba Ngôi không thể được quan niệm như một điều gì đó đến với chúng ta qua Ðức Maria hay các thánh. Trong mọi trường hợp, điều chúng ta có thể nói là Ðức Maria mong muốn điều tốt lành này cho chúng ta và Mẹ cầu xin điều đó, cùng với chúng ta. Phụng vụ cũng là lex credendi (luật đức tin), cho phép chúng ta tái khẳng định sự cộng tác này của Ðức Maria không phải trong việc thông truyền ân sủng mà trong sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ. Thật vậy, khi giải thích ý nghĩa đặc ân được ban cho Ðức Maria để hướng đến điều tốt lành của Dân Chúa, phụng vụ của lễ trọng Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội quả quyết rằng Mẹ đã trở thành "Ðấng cầu bầu ân sủng,"[140] nghĩa là Mẹ chuyển cầu bằng cách cầu xin Thiên Chúa để chúng ta có thể lãnh nhận ân sủng.
55. Như Công đồng Vaticanô II dạy, "ảnh hưởng cứu độ của Ðức Trinh Nữ Maria# không hề cản trở sự kết hợp trực tiếp của các tín hữu với Chúa Kitô, nhưng đúng hơn, còn nuôi dưỡng sự kết hợp đó."[141] Vì lý do này, chúng ta nên tránh bất kỳ mô tả nào gợi ý về sự tuôn đổ ân sủng theo từng giai đoạn giống như chủ nghĩa Tân Platon, như thể ân sủng của Thiên Chúa đang tuôn đổ qua nhiều trung gian khác nhau (như Ðức Maria) trong khi nguồn gốc tối hậu của ân sủng (Thiên Chúa) vẫn không kết nối với trái tim chúng ta. Những cách giải thích như vậy mang lại tác động tiêu cực đến sự hiểu biết đúng đắn về cuộc gặp gỡ mật thiết, trực tiếp và tức thời mà ân sủng tạo ra giữa Chúa và trái tim người tín hữu.[142] Sự thật là chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi mới làm cho nên công chính hoá.[143] Chỉ có Thiên Chúa nâng chúng ta lên để vượt qua sự mất cân xứng vô hạn ngăn cách chúng ta với sự sống thần linh; chỉ có Người hành động trong chúng ta với sự cư ngụ của Ba Ngôi; chỉ có Người bước vào trong chúng ta và biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành người thông phần vào sự sống thần linh của Người. Việc gán cho Ðức Maria bất kỳ vai trò trung gian nào trong việc hoàn thành công việc này vốn chỉ thuộc về Chúa là không tôn trọng Mẹ.
Nước Hằng Sống Tuôn Chảy
56. Ðồng thời, vì Ðức Maria đầy ân sủng và vì điều thiện luôn tìm cách thông truyền cho người khác, nên dễ dàng nảy sinh ý tưởng về một loại "dòng chảy" ân sủng từ Ðức Maria, một ý tưởng chỉ có thể mang một ý nghĩa thích hợp nếu nó không mâu thuẫn với những gì đã được nói đến. Cách giải thích như vậy không gây khó khăn gì nếu chúng ta đặc biệt đề cập đến các hình thức cộng tác đã được thảo luận (lời chuyển cầu của Ðức Maria và sự gần gũi mẫu tử của Mẹ mời gọi chúng ta mở lòng đón nhận ơn thánh hóa của Thiên Chúa), và được Công đồng Vaticanô II trình bày như một sự cộng tác đa dạng từ phía thụ tạo "được thông phần vào nguồn mạch duy nhất này."[144]
57. Vai trò chuẩn bị cơ bản mà các tín hữu, đặc biệt là Ðức Maria, đảm nhận khi họ cộng tác với Thiên Chúa trong việc Người thông ban ân sủng, được diễn tả qua cách giải thích truyền thống về "những dòng nước hằng sống" tuôn chảy từ trái tim các tín hữu (x. Ga 7,37-39). Mặc dù hình ảnh mạnh mẽ này có thể được hiểu như thể các tín hữu là những kênh dẫn truyền ân sủng thánh hóa một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, các Giáo phụ của Giáo hội đã nói về sự tuôn đổ này của những dòng sông từ Chúa Thánh Thần trong bối cảnh các hành động chuẩn bị cho chúng ta đón nhận ân sủng thánh hóa của Thiên Chúa, chẳng hạn như việc rao giảng, giảng dạy và các cách thức khác để truyền đạt ân huệ Lời được mặc khải.
58. Origen áp dụng hình ảnh "những dòng nước hằng sống" vào việc nghiên cứu Kinh thánh hoặc nhận thức các ý nghĩa thiêng liêng của nó.[145] Ðối với Thánh Cirillô thành Alexandria, dòng nước trào tràn này biểu thị việc giảng dạy các mầu nhiệm đức tin,[146] "việc nhiệm huấn thuần túy" theo nghĩa sâu xa nhất của nó, không chỉ là trí tuệ mà còn liên quan đến toàn bộ khuynh hướng hoặc sự chuẩn bị của con người cho ân sủng của Thiên Chúa.[147] Thánh Cirillô thành Giêrusalem cho rằng hình ảnh này biểu thị giáo huấn của Kinh thánh khi mọi sự được đưa ra ánh sáng.[148] Thánh Gioan Kim Khẩu liên kết nó với sự khôn ngoan của Têphanô hoặc thẩm quyền của lời nói của Phêrô.[149] Thánh Ambrôsiô khẳng định: "Ðây là những dòng sông nghe Lời Chúa bằng tai của họ, và họ nói, để họ có thể đổ lời vào trái tim của mỗi người;"[150] và ngài áp dụng điều đó như sau: "Xin cho nước giáo lý trên trời tuôn trào... xin cho những giọt sương của Lời Chúa được đổ"[151] vào trái tim của mỗi người.[152] Ðối với Thánh Giêrônimô cũng vậy, nước là giáo huấn của Ðấng Cứu Rỗi,[153] cũng như đối với Thánh Grêgôriô Cả, người còn dạy rằng nước biểu thị "một ý muốn đạo đức đối với người lân cận của mình."[154] Những cách giải thích này về "những dòng nước sống," mà các tín đồ đổ ra, tập trung vào sự hiểu biết Kinh thánh và các mầu nhiệm của nó. Chúng thường không chỉ đề cập đến hiểu biết thuộc lý trí mà còn đến sự hiểu biết "khôn ngoan" và sự soi sáng của trái tim, để trái tim có thể mở ra với thực tại của các mầu nhiệm.
59. Trong số các Giáo phụ và Tiến sĩ Hội thánh, chúng ta cũng tìm thấy một lời giải thích rộng hơn, bao gồm - ngoài việc rao giảng và dạy giáo lý - các công việc giúp đỡ người khác theo những nhu cầu của họ hoặc những việc phục vụ như một chứng tá về tình yêu. Theo cách này, Thánh Hilariô thành Poitiers hiểu những dòng nước hằng sống biểu thị các công trình của Chúa Thánh Thần thông qua các nhân đức hoạt động vì lợi ích của người lân cận.[155] Thánh Augustinô áp dụng hình ảnh này cho "thiện chí mà [một người] muốn chăm sóc lợi ích của người lân cận."[156] Vào thời Trung cổ, quan điểm này tiếp tục cho đến Thánh Tôma Aquinô, đối với ngài, "những dòng nước hằng sống" được thể hiện khi một người "hành động nhanh chóng để giúp đỡ người khác và chia sẻ với họ những ân sủng khác nhau mà họ đã nhận được từ Thiên Chúa," vì một người như vậy "sẽ có nước hằng sống chảy ra từ trái tim mình."[157]
60. Khi Thánh Tôma nói về "những ân huệ khác nhau" để phục vụ tha nhân, ngài đang ám chỉ đến các ân huệ đặc sủng khác nhau bởi vì, ngài lưu ý, "như đã nói (1 Cr 12,10), người thì được ơn nói tiếng lạ, người thì được ơn chữa lành, v.v#"[158] Khía cạnh này cũng hiện diện trong tư tưởng của Thánh Cirillô thành Giêrusalem, người chỉ ra rằng các dòng nước của Chúa Thánh Thần - được truyền qua các tín hữu - được biểu lộ khi "Chúa Thánh Thần làm cho một người trở thành thầy dạy chân lý thần linh, soi sáng cho người khác nói tiên tri, ban cho người khác quyền trừ quỷ# chỉ cho người khác cách giúp đỡ người nghèo, dạy người khác ăn chay và sống đời khổ hạnh."[159]
61. Có thể nói cách tương tự cách giải thích Gioan 14,12, về việc các tín hữu làm được "những việc lớn hơn" (meizona) so với những việc Chúa Kitô đã làm khi Người còn sống trên đất. Các tín hữu tham gia vào công việc của Chúa Kitô theo nghĩa họ cũng khơi dậy đức tin của người khác bằng cách công bố Lời Chúa, như Gioan 17,20 đã nói rõ: "Những ai nhờ lời họ mà tin vào Con." Ý tưởng tương tự cũng được ngụ ý trong Gioan 14,6-11, nơi những việc làm của Chúa Kitô mặc khải Chúa Cha (câu 8) và những việc làm của các tín hữu, tập trung vào việc công bố Tin mừng bằng lời nói của họ, được đặt bên cạnh những việc làm của Người. Thật vậy, Chúa Giêsu tuyên bố: "Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em" (Ga 15,20c), và cũng như bất cứ ai nghe Lời Chúa Kitô đều có sự sống đời đời (x. Ga 5,24), Chúa Giêsu cũng tuyên bố rằng những người khác sẽ tin qua lời của các tín hữu của Người (x. Ga 17,20). Tuy nhiên, điều này không chỉ liên quan đến lời nói mà còn đến chứng tá hùng hồn của họ. Chính vì vậy, Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha cho các tín hữu của Người được hiệp nhất: để "thế gian tin" (Ga 17,21).
Tình Yêu Tự Hiến Trong Thế Gian
62. Tin mừng Gioan liên kết chặt chẽ tình bác ái huynh đệ với việc chia sẻ điều tốt đẹp này. Thật vậy, lời khẳng định: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Ga 14,15) song hành với lời khẳng định: "Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm" (Ga 14,12). Khi nói về hoa trái mà Người mong đợi nơi các môn đệ, cuối cùng Người đồng nhất hóa hoa trái đó với tình yêu huynh đệ (x. Ga 15,16-17). Tương tự như vậy, sau khi thảo luận về những việc phi thường khác nhau mà các tín hữu có thể thực hiện (x. 1 Cr 12), Thánh Phaolô đề xuất một con đường tuyệt hảo hơn khi nói: "Anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất [ta meizona]. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả [kath'hyperbol#n]": đó là đức mến (1 Cr 12,31, x. 13,1). Những việc làm yêu thương đối với người lân cận, thậm chí là công việc hằng ngày hoặc nỗ lực thay đổi thế giới này, quả thật có thể trở thành kênh cộng tác với công cuộc cứu rỗi của Chúa Kitô.
63. Các vị Giáo hoàng gần đây cũng đã bày tỏ những ý tưởng tương tự. Thánh Gioan XXIII đã dạy rằng "vì họ hợp nhất trong tâm trí và tinh thần với Ðấng Cứu Chuộc thần linh ngay cả khi họ tham gia vào các công việc của thế giới, nên công việc của họ trở thành sự tiếp nối công việc của Người, thấm nhuần quyền năng cứu chuộc# để mở rộng cho người khác những hoa trái của ơn cứu chuộc."[160] Thánh Gioan Phaolô II hiểu sự cộng tác này như một sự tái thiết, cùng với Chúa Kitô, những điều tốt đẹp đã bị tổn hại trên thế giới vì tội lỗi, vì "Trái Tim Chúa Kitô muốn sự cộng tác của chúng ta để tái thiết lòng tốt và vẻ đẹp;" thật vậy, ngài nói tiếp, "đây là sự đền bù đích thực mà Trái Tim Ðấng Cứu Thế yêu cầu."[161] Ðức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định rằng "với tư cách là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa, người nam người nữ trở thành chủ thể của đức mến; họ được kêu gọi biến mình thành khí cụ của ân sủng để tuôn đổ đức mến của Thiên Chúa và dệt nên những mạng lưới đức mến. Ðộng lực bác ái được đón nhận và trao ban này chính là điều làm nảy sinh giáo huấn xã hội của Giáo hội."[162] Ðức Giáo hoàng Phanxicô đã dạy rằng, đối với Thánh Têrêsa thành Lisieux, "không chỉ là để cho trái tim Chúa Kitô lấp đầy trái tim mình, qua niềm tin trọn vẹn của mình, bằng vẻ đẹp của tình yêu Người, mà còn là để cho tình yêu ấy, qua cuộc đời mình, lan tỏa đến những người khác và do đó biến đổi thế giới" theo cách "được diễn tả trong các hành động yêu thương huynh đệ, qua đó chúng ta chữa lành các vết thương của Giáo hội và của thế giới. Bằng cách này, chúng ta trao ban sức mạnh chữa lành của trái tim Chúa Kitô."[163]
64. Sự cộng tác này của Ðức Maria, được thực hiện nhờ Chúa Kitô và được khơi dậy bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần, thì phân biệt với sự cộng tác của bất kỳ con người nào khác do đặc tính làm mẹ mà chính Chúa Kitô đã ban cho Mẹ khi Mẹ ở trên thập giá.
Tiêu Chí
65. Bất kỳ cách hiểu nào khác về sự cộng tác của Ðức Maria trong trật tự ân sủng phải đặc biệt chú ý đến một số tiêu chí đã được nói trong Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, đặc biệt nếu người ta có ý định gán cho Mẹ một hình thức can thiệp hoàn hảo, công cụ hoàn hảo, hoặc nguyên nhân thứ cấp trong việc thông truyền ân sủng thánh hóa:[164]
a) Chúng ta phải suy ngẫm về cách Ðức Maria nuôi dưỡng "sự kết hợp trực tiếp"[165] của chúng ta với Chúa, mà chính Chúa tạo ra bằng cách ban ân sủng và chúng ta chỉ có thể đón nhận từ Thiên Chúa,[166] và không nên nghĩ rằng sự kết hợp của chúng ta với Ðức Maria là trực tiếp hơn sự kết hợp của chúng ta với Chúa Kitô. Nguy cơ này hiện diện, trên hết, trong quan niệm rằng Chúa Kitô ban cho chúng ta Ðức Maria như một công cụ hoặc như một nguyên nhân thứ cấp và hoàn thiện trong việc thông truyền ân sủng của Người.
b) Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng "Sự can thiệp mang năng lực cứu độ của Ðức Trinh Nữ Maria trên nhân loại không mang tính thiết yếu nội tại, nhưng được khởi phát từ ý định nhân lành của Thiên Chúa."[167] Ảnh hưởng này chỉ có thể được suy nghĩ dưới ánh sáng của quyết định tự do của Thiên Chúa, Ðấng, mặc dù hành động của chính Người tràn đầy và dư dật, cách tự do và nhưng không đã muốn kết hợp Ðức Maria với công trình của Người. Do đó, không thể chấp nhận việc trình bày hành động của Ðức Maria như thể Thiên Chúa cần đến Người để hoàn thành ơn cứu độ.
c) Chúng ta phải hiểu sự trung gian của Ðức Maria không phải là một sự trợ giúp bổ sung giúp Thiên Chúa hoạt động trọn vẹn, phong phú hơn và đẹp đẽ hơn; thay vào đó, sự trung gian của Mẹ phải được hiểu theo cách "nó không lấy đi bất cứ điều gì khỏi, cũng không thêm bất cứ điều gì vào phẩm giá và hiệu năng của Chúa Kitô, Ðấng Trung Gian duy nhất."[168] Khi giải thích sự trung gian của Ðức Maria, cần nhấn mạnh rằng chỉ có Thiên Chúa mới là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta và chỉ có Thiên Chúa mới áp dụng công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, công nghiệp duy nhất cần thiết và hoàn toàn đủ cho sự công chính hóa của chúng ta.
Ðức Maria không thay thế Chúa trong bất kỳ hành động nào mà Người chưa làm (tức là, Mẹ không lấy đi bất cứ điều gì từ Người) cũng không bổ sung cho Người (tức là, Mẹ không thêm vào Người). Vì Mẹ không thêm bất cứ điều gì vào sự trung gian cứu độ của Chúa Kitô trong việc thông truyền ân sủng, nên Mẹ không nên được coi là tác nhân công cụ của sự tuôn ban tự do đó.[169] Nếu Mẹ đồng hành với một hành động của Chúa Kitô - nhờ công trình của chính Người - thì Mẹ không bao giờ được coi là song song với Người. Ðúng hơn, vì được liên kết với Chúa Kitô, Ðức Maria là người nhận được một ân huệ từ Con của Mẹ, ân huệ ấy đặt Mẹ vượt lên trên chính mình, một ân huệ cho phép Mẹ đồng hành với công trình của Chúa với đặc trưng làm mẹ của mình. Vậy, chúng ta trở lại điểm an toàn nhất, đó là sự đóng góp của Ðức Maria trong việc chuẩn bị cho chúng ta đón nhận ân sủng thánh hóa của Thiên Chúa; trong bối cảnh đó, người ta thực sự có thể nghĩ về Mẹ như đang hành động để đóng góp một điều gì đó của riêng Mẹ trong mức độ Mẹ "có thể tạo nên một số sự sắp đặt"[170] cho người khác. Vì "quyền lực cao nhất có nhiệm vụ đạt đến mục đích cuối cùng, trong khi các quyền lực thấp hơn góp phần đạt được mục đích cuối cùng đó bằng cách chuẩn bị cho người khác thực hiện mục đích đó."[171]
66. Tất cả những điều đã nói ở trên không hề xúc phạm hay hạ thấp Ðức Maria, bởi vì toàn thể con người Mẹ hướng về Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa" (Lc 1,46). Ðối với Ðức Maria, không có vinh quang nào khác ngoài vinh quang của Thiên Chúa. Là Mẹ, Ðức Maria càng vui mừng hơn khi thấy Chúa Kitô biểu lộ vẻ đẹp vô tận, vô biên của vinh quang thần linh của Người bằng cách chữa lành, biến đổi và lấp đầy tâm hồn những người con mà Mẹ đã đồng hành trên đường đến với Chúa. Vì vậy, bất kỳ ánh mắt nào hướng về Mẹ mà làm chúng ta xao lãng Chúa Kitô hoặc đặt Mẹ ngang hàng với Con Thiên Chúa đều nằm ngoài năng động đặc trưng của một đức tin đích thực về Ðức Maria.
Ân Sủng
67. Một số tước hiệu, chẳng hạn như "Ðấng Trung Gian Của Mọi Ân sủng," có những giới hạn không ủng hộ việc hiểu đúng đắn về vị trí độc nhất của Ðức Maria. Thực tế, Mẹ là người đầu tiên được cứu chuộc, Mẹ không thể là Ðấng Trung Gian của ân sủng mà chính Mẹ đã nhận được. Ðây không phải là một điểm nhỏ nhặt, vì nó cho thấy một điều cốt lõi: ngay cả trong trường hợp của Ðức Maria, ân sủng đã đến trước và đến từ sáng kiến hoàn toàn tự do của Ba Ngôi, xét theo công nghiệp của Chúa Kitô. Giống như tất cả chúng ta, Ðức Maria không xứng đáng được công chính hóa bởi một hành động trước đó của chính mình,[172] và cũng không xứng đáng được công chính hóa bởi bất kỳ hành động nào sau đó.[173] Ngay cả trong trường hợp của Ðức Maria, tình bạn của Mẹ với Thiên Chúa nhờ ân sủng luôn được ban tặng cách nhưng không. Hình ảnh đáng trân trọng của Mẹ là minh chứng tối cao cho sự đón nhận đầy tin tưởng của một người, hơn bất kỳ ai khác, đã mở lòng mình với sự ngoan ngoãn và hoàn toàn tin tưởng vào công trình của Chúa Kitô, và đồng thời, Mẹ là dấu chỉ vĩ đại nhất cho sức mạnh biến đổi của ân sủng đó.
68. Mặt khác, tước hiệu "Ðấng Trung Gian Của Mọi Ân sủng" có nguy cơ mô tả Ðức Maria như người phân phát của cải hoặc sức mạnh thiêng liêng ngoài mối quan hệ cá nhân của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, thuật ngữ "ân sủng," khi được dùng để chỉ sự trợ giúp từ mẫu của Ðức Maria vào những thời điểm khác nhau trong cuộc sống của chúng ta, có thể mang một ý nghĩa chấp nhận được. Hình thức số nhiều diễn tả tất cả những sự trợ giúp, kể cả vật chất, mà Chúa có thể ban cho chúng ta khi Người lắng nghe lời chuyển cầu của Mẹ Người. Những sự trợ giúp này chuẩn bị tâm hồn chúng ta mở ra với tình yêu của Thiên Chúa. Bằng cách này, với tư cách là Mẹ, Ðức Maria hiện diện gần gũi trong đời sống thường nhật của các tín hữu hơn nhiều so với bất kỳ vị thánh nào khác có thể gần gũi với họ.
69. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, Ðức Maria có thể cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những thúc đẩy nội tâm của Chúa Thánh Thần, được gọi là "hiện sủng." Ðây là những trợ giúp của Chúa Thánh Thần, hoạt động ngay cả trong các tội nhân để chuẩn bị họ được nên công chính,[174] và khuyến khích những người công chính nhờ ân sủng thánh hóa tiếp tục lớn lên. Chính theo nghĩa cụ thể này mà tước hiệu "Mẹ của Ân Sủng" phải được hiểu. Mẹ khiêm nhường cộng tác để chúng ta mở lòng ra với Chúa, Ðấng duy nhất có thể làm cho chúng ta nên công chính nhờ hành động của ân sủng thánh hóa: nghĩa là, khi Thiên Chúa đổ tràn sự sống Ba Ngôi của Người vào chúng ta, ngự trong chúng ta như một Người Bạn, và cho chúng ta được thông phần vào sự sống thần linh của Người. Ðây là công trình độc quyền của Chúa. Ðồng thời, điều đó không loại trừ khả năng rằng những lời nói, hình ảnh hoặc những lời nhắc nhở khác nhau mà chúng ta nhận được qua lời chuyển cầu từ mẫu của Ðức Maria có thể giúp chúng ta kiên trì trong cuộc sống, chuẩn bị tâm hồn đón nhận ân sủng mà Chúa ban, hoặc lớn lên trong đời sống ân sủng mà chúng ta đã lãnh nhận một cách nhưng không.
70. Những trợ giúp này đến từ Chúa được ban tặng cho chúng ta với một khía cạnh từ mẫu, tràn đầy sự dịu dàng và gần gũi của Người Mẹ mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta (x. Ga 19,25-28). Bằng cách này, Ðức Maria thực hiện một hoạt động độc đáo để giúp chúng ta mở lòng mình ra với Chúa Kitô và với ơn thánh hóa của Người, là ơn nâng đỡ và chữa lành chúng ta. Bất cứ khi nào Mẹ mang đến cho chúng ta những "nghĩa cử" khác nhau, thì những điều này luôn phải được hiểu là những thúc đẩy để mở lòng mình ra với Ðấng duy nhất đang hoạt động trong nơi sâu thẳm nhất của chúng ta.
Sự Kết Hợp Của Chúng Ta Với Ðức Maria
71. Công đồng Vaticanô II thích gọi Ðức Maria là "Mẹ trong trật tự ân sủng,"[175] điều này diễn tả rõ nét tính phổ quát của sự cộng tác từ mẫu của Ðức Maria. Tước hiệu này không thể phủ nhận theo đúng nghĩa, vì Mẹ là Mẹ của Chúa Kitô, Ðấng là Ân sủng tuyệt hảo và là Tác giả của mọi ân sủng.
72. Chức làm mẹ của Ðức Maria trong trật tự ân sủng, bắt nguồn từ mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô, cũng hàm ý rằng mỗi môn đệ thiết lập với Ðức Maria "một mối tương quan độc nhất và không thể thay thế." Thánh Gioan Phaolô II đã đề cập đến "chiều kích Ðức Maria trong đời sống của một môn đệ Chúa Kitô," được diễn tả như một "lời đáp trả tình yêu của một người, và đặc biệt, tình yêu của một người mẹ."[176] Thật vậy, đời sống ân sủng bao gồm mối tương quan của chúng ta với Mẹ Chúa Kitô, vì sự kết hợp của chúng ta với Chúa Kitô nhờ ân sủng cũng bao hàm sự kết hợp với Ðức Maria trong một mối tương quan tin tưởng, dịu dàng và hết lòng yêu thương.
Người Môn Ðệ Ðầu Tiên
73. Mẹ là "người môn đệ đầu tiên, người học được nhiều nhất về đường lối của Chúa Giêsu."[177] Ðức Maria là người đầu tiên trong số những người "nghe Lời Chúa và tuân giữ" (Lc 11,28). Mẹ là người đầu tiên đặt mình vào giữa những người thấp hèn và nghèo khó của Chúa, để dạy chúng ta tin tưởng chờ đợi và đón nhận ơn cứu độ chỉ đến từ Thiên Chúa. Vì thế, Ðức Maria "với tư cách là Mẹ đã trở thành 'môn đồ' đầu tiên của Con mình; là người đầu tiên mà Chúa dường như đã nói: 'Hãy theo Ta', trước khi Người kêu gọi các Tông đồ hay bất kỳ ai khác (x. Ga 1,43)."[178]
Mẹ là mẫu gương đức tin và đức ái cho Giáo hội qua việc vâng phục thánh ý Chúa Cha, cộng tác vào công trình cứu chuộc của Chúa Con và mở lòng đón nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần.[179] Vì lý do này, Thánh Augustinô đã nói rằng "đối với Ðức Maria, làm môn đệ của Chúa Kitô có ý nghĩa hơn là làm mẹ của Chúa Kitô."[180] Ðức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng "Mẹ là môn đệ hơn là Mẹ."[181] Cuối cùng, Ðức Maria là "người đầu tiên và hoàn hảo nhất trong các môn đệ của Chúa Kitô."[182]
74. Ðối với mọi Kitô hữu, Ðức Maria là "người đầu tiên tin, và chính xác với đức tin của mình như là Hiền thê và Mẹ, Mẹ muốn hành động trên tất cả những ai phó thác cho Mẹ như là con cái của Mẹ."[183] Mẹ làm như vậy với một tình cảm tràn đầy những dấu chỉ gần gũi giúp họ trưởng thành trong đời sống thiêng liêng, dạy họ để cho ân sủng của Chúa Kitô hoạt động ngày càng nhiều hơn. Trong mối tương quan yêu thương và tin tưởng này, Mẹ là Ðấng "đầy ân sủng," dạy mỗi Kitô hữu đón nhận ân sủng, gìn giữ ân sủng đã nhận được và suy niệm về công trình Thiên Chúa đang thực hiện trong cuộc sống của họ (x. Lc 2,19).
75. Nếu những cách diễn đạt hoặc danh xưng như đã đề cập ở trên xuất hiện trong các trường hợp được cho là hiện tượng siêu nhiên đã nhận được phán quyết tích cực từ Giáo hội, thì cần lưu ý rằng "bất cứ khi nào Bộ ban hành một Nihil obstat# những hiện tượng như vậy không trở thành đối tượng của đức tin, nghĩa là các tín hữu không bắt buộc phải tin nhận đối với chúng."[184]
Mẹ Của Dân Chúa Trung Tín
76. "Ðức Maria, người môn đệ đầu tiên, là Mẹ."[185] Trên thập giá, Chúa Kitô trao phó chúng ta cho Ðức Maria, và vì vậy "Người đã đưa chúng ta đến với Mẹ vì Người không muốn chúng ta hành trình mà không có mẹ."[186] Mẹ là Người Mẹ tin tưởng đã trở thành "Mẹ của tất cả những người tin;"[187] đồng thời, Mẹ là "Mẹ của Giáo hội loan báo Tin mừng,"[188] là người đón nhận chúng ta như Thiên Chúa muốn gọi chúng ta, nghĩa là, không chỉ là những cá nhân biệt lập mà là một dân tộc đang trên hành trình[189]: "Mẹ Maria của chúng ta luôn muốn đồng hành bên cạnh chúng ta, luôn gần gũi chúng ta, nâng đỡ chúng ta bằng lời chuyển cầu và tình yêu của Mẹ."[190] Mẹ là Mẹ của Dân Chúa trung tín, Ðấng "tiến bước giữa dân mình bằng sự chăm sóc dịu dàng và yêu thương; Mẹ coi những lo lắng và phiền muộn của họ là của mình."[191]
Tình Yêu Dừng Lại, Chiêm Ngắm Và Tận Hưởng Mầu Nhiệm Trong Thinh Lặng
77. Dân Chúa trung thành không xa rời Chúa Kitô hay Tin mừng khi đến gần Ðức Maria; đúng hơn, họ có thể nhìn thấy "trong hình ảnh người mẹ này tất cả các mầu nhiệm của Tin mừng."[192] Nơi khuôn mặt hiền mẫu của Mẹ, họ thấy phản chiếu hình ảnh Chúa, Ðấng tìm kiếm chúng ta (x. Lc 15,4-8), Ðấng đến gặp gỡ chúng ta với vòng tay rộng mở (x. Lc 15,20), Ðấng dừng lại trước mặt chúng ta (x. Lc 18,40), Ðấng cúi xuống và nâng chúng ta lên sát má Người (x. Hs 11,4), Ðấng nhìn chúng ta với tình yêu (x. Mc 10,21), và Ðấng không lên án chúng ta (x. Ga 8,11; Hs 11,9). Nơi khuôn mặt hiền mẫu của Mẹ, nhiều người nghèo nhận ra Chúa, Ðấng "đã hạ bệ những kẻ quyền thế và nâng cao mọi kẻ khiêm nhường" (Lc 1,52). Khuôn mặt Mẹ hát lên mầu nhiệm Nhập thể. Trên khuôn mặt của Mẹ, Ðấng đã bị lưỡi gươm đâm thâu (x. Lc 2,35), Dân Thiên Chúa nhận ra mầu nhiệm thập giá, và cũng trên khuôn mặt ấy, được bao phủ trong ánh sáng Phục Sinh, họ nhận ra Chúa Kitô đang sống. Và chính Mẹ, người đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần cách sung mãn, đã nâng đỡ các Tông đồ trong lời cầu nguyện tại Nhà Tiệc Ly (x. Cv 1,14).
Do đó, chúng ta có thể nói rằng "đức tin của Ðức Maria, theo chứng tá tông đồ của Giáo hội, bằng cách nào đó vẫn tiếp tục trở thành đức tin của Dân Thiên Chúa đang lữ hành."[193]
78. Như các giám mục Mỹ Latinh đã khẳng định, người nghèo "tìm thấy tình thương và lòng trìu mến của Thiên Chúa trên khuôn mặt của Ðức Maria. Trong đó, họ thấy phản ánh sứ điệp cốt lõi của Tin mừng."[194] Trong sự giản dị và nghèo khó, dân chúng không tách biệt Ðức Mẹ vinh quang khỏi Ðức Maria thành Nadarét mà chúng ta tìm thấy trong các sách Tin mừng. Trái lại, họ nhận ra sự giản dị đằng sau vinh quang và biết rằng Ðức Maria không ngừng là một trong số họ. Giống như bất kỳ người mẹ nào, Mẹ là người đã mang thai con mình trong lòng, cho con bú và yêu thương nuôi dạy con với sự giúp đỡ của Thánh Giuse, nhưng Mẹ cũng đã trải qua những bất an và bất ổn của thiên chức làm mẹ (x. Lc 2,48-50). Mẹ là người ca ngợi Thiên Chúa: "Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng" (Lc 1,53); Mẹ đau khổ cùng với đôi tân hôn hết rượu cho tiệc cưới (x. Ga 2,3); Mẹ biết vội vã ra đi để giúp đỡ người chị em họ đang túng thiếu (x. Lc 1,39-40); Mẹ để mình bị thương tích, như thể bị đâm thâu bởi một lưỡi gươm, vì lịch sử của dân tộc mình, nơi Con của Mẹ là "dấu chỉ của sự mâu thuẫn" (Lc 2,34); Mẹ hiểu được ý nghĩa của việc di cư hay lưu đày (x. Mt 2,13-15); trong cảnh nghèo khó, Mẹ chỉ có thể dâng hiến hai con chim bồ câu non (x. Lc 2,24); và Mẹ hiểu được ý nghĩa của việc bị coi thường vì xuất thân từ một gia đình thợ mộc nghèo (x. Mc 6,3-4). Dân chúng đau khổ nhận ra Ðức Maria đang đồng hành cùng họ, nên họ tìm đến Mẹ để cầu xin sự giúp đỡ của Mẹ.[195]
79. Sự gần gũi của Mẹ khơi dậy lòng sùng kính "đại chúng" Ðức Mẹ mang nhiều hình thức khác nhau ở các dân tộc khác nhau. Những khuôn mặt khác nhau của Ðức Maria, Hàn Quốc, Mexicô, Congo, Ý và rất nhiều dân tộc khác, là những cách thức Tin mừng được hội nhập văn hóa, phản ánh, ở mọi nơi trên trái đất, "sự dịu dàng phụ tử của Thiên Chúa,"[196] chạm đến tận cốt lõi của các dân tộc chúng ta.
80. Chúng ta hãy chiêm ngắm đức tin của Dân Chúa, nơi vô số anh chị em đồng đạo tự nhiên nhận ra Ðức Maria là Mẹ, như chính Chúa Kitô trên thập giá đã khuyến khích chúng ta làm. Dân Chúa thích hành hương đến các đền thánh Ðức Mẹ khác nhau, tìm thấy ở đó niềm an ủi và sức mạnh để kiên trì, như những người nhận được sự âu yếm của Mẹ giữa những mệt mỏi và đau đớn. Hội nghị Aparecida đã có thể diễn tả một cách rõ ràng và đẹp đẽ giá trị thần học sâu sắc của trải nghiệm này. Không gì kết thúc bản Ghi chú này tốt hơn bằng những lời sau:
"Chúng tôi nhấn mạnh đến những cuộc hành hương, nơi Dân Chúa có thể được nhận ra trong hành trình của họ. Ở đó, người tín hữu hân hoan với niềm vui cảm thấy được bao quanh bởi rất nhiều anh chị em, cùng nhau tiến về Thiên Chúa, Ðấng đang chờ đợi họ. Chính Chúa Kitô đã trở thành một người hành hương, và bước đi giữa những người nghèo. Quyết định lên đường đến đền thánh đã là một lời tuyên xưng đức tin; bước đi là một bài ca hy vọng đích thực; và việc đến đích là cuộc gặp gỡ của tình yêu. Ánh mắt của người hành hương hướng về một hình ảnh tượng trưng cho tình yêu thương và sự gần gũi của Thiên Chúa. Tình yêu dừng lại, chiêm ngắm mầu nhiệm và tận hưởng trong thinh lặng. Tình yêu cũng rung động, trút bỏ gánh nặng đau thương và những giấc mơ. Lời cầu nguyện tin tưởng, tuôn trào chân thành, là biểu hiện tốt nhất của một trái tim đã từ bỏ sự tự mãn, khi nhận ra rằng một mình mình không thể làm được gì. Một trải nghiệm tâm linh sống động được cô đọng lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi."[197]
Lạy Mẹ của Dân Chúa, xin cầu cho chúng con.
Trong buổi tiếp kiến dành cho vị Tổng trưởng ký tên dưới đây cùng với Thư ký Phân ban Giáo lý của Bộ Giáo lý Ðức tin, vào ngày 7 tháng 10, Lễ Ðức Mẹ Mân Côi, Ðức Giáo hoàng Lêô XIV đã phê chuẩn bản Ghi chú này, được quyết định trong Phiên họp Thường kỳ của Bộ này vào ngày 26 tháng 3 năm 2025, và ngài đã ra lệnh công bố.
Ban hành tại Rôma, tại trụ sở Bộ Giáo lý Ðức tin, ngày 4 tháng 11 năm 2025, lễ nhớ Thánh Carlô Borromeo.
Víctor Manuel Hồng y Fernández
Tổng trưởng
Ðức ông Armando Matteo
Thư ký Bộ Giáo lý
Ðức Giáo hoàng Lêô XIV
(đã ký)
Ngày 7 tháng 10 năm 2025
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Chuyển ngữ từ: vatican.va
- - - - - - - - - - - - - - - - - - -
[1] Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe, Ðại hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe lần thứ V, Văn kiện chung kết (Aparecida, 13-31/5/2007), đoạn 265. Trích dẫn tại đoạn 78 của Chú thích này.
[2] Cf. Augustinô, De sancta virginitate, 6: PL 40, 399.
[3] Bộ Giáo lý Ðức tin, Quy tắc tiến hành phân định các hiện tượng siêu nhiên được cho là có thật (17/5/2024): AAS 116 (2024), 771-794.
[4] Trong một số hiện tượng, hay sự hiện ra này, Ðức Trinh Nữ Maria được gọi bằng các tước hiệu như "Ðấng Ðồng Cứu Chuộc," "Ðấng Cứu Chuộc," "Tư tế," "Ðấng Trung Gian," "Ðấng Trung Gian của Mọi Ân Sủng," "Mẹ của Ân Sủng," "Mẹ Thiêng Liêng," v.v.
[5] Cf. Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus (2/2/1974), 26: AAS 66 (1974), 136-139.
[6] Cf. ibid., 28: AAS 66 (1974), 139-141.
[7] Cf. ibid., 37: AAS 66 (1974), 148-149.
[8] Gioan Phaolô II, Yết kiến chung (9/4/1997), par. 3: L'Osservatore Romano, 10 /4/1997, 4.
[9] Phanxicô, Bài giảng cho Năm Thánh ngoại thường về Lòng thương xót: Thánh lễ và mở Cửa Năm Thánh (8/12/ 2015): AAS 108 (2016), 8.
[10] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 26: AAS 79 (1987), 396.
[11] Mối quan hệ giữa Ađam và Chúa Kitô được tìm thấy trong các bản văn của Thánh Phaolô (xem Rm 5,18-19 và 1 Cr 15,22) đã cho phép các Giáo phụ thiết lập mối quan hệ song song giữa Evà và Ðức Maria. Ví dụ: Giustinô Tử đạo, Dialogus cum Tryphone, 100, 5-6: PG 6, 710CD-711A; Irênê thành Lyons, Adversus haereses, III, 22, 4: PG 7/1, 959C-960A; Tertullianô, De carne Christi, 17, 5: PL 1, 782B. Mối quan hệ song song đối lập giữa Evà và Ðức Maria là cách tiếp cận đầu tiên mà các Giáo phụ đã sử dụng đối với chủ đề về sự cộng tác của Ðức Trinh Nữ trong công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô: nếu Evà mang đến sự hư mất, thì đức tin của Ðức Maria mang đến cho chúng ta sự cứu rỗi. Sự phong phú của các chứng ngôn giáo phụ mô tả Ðức Trinh Nữ là Evà mới mang đến một số yếu tố thần học thú vị: (a) Ðức Mẹ và "người phụ nữ," bởi vì trong Ðức Mẹ, người phụ nữ lấy lại được vẻ huy hoàng nguyên thủy và tìm thấy sự viên mãn cuối cùng của mình; (b) Ðức Mẹ và Chúa Kitô như là "vợ-chồng," người cùng với Con mình tạo thành cặp đôi gương mẫu và cứu độ của sự tóm tắt hoặc phục hồi Ðấng Mêsia; (c) Ðức Mẹ và Giáo hội, qua đó thiết lập mối quan hệ kép giữa Ðức Mẹ và Giáo hội: đó là vai trò gương mẫu (nguyên mẫu) và vai trò là Mẹ của Giáo hội.
[12] Augustinô, De sancta virginitate, 6: PL 40, 399.
[13] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 402-403.
[14] xem Ephrem, Hymni de Nativitate: SC 459; Gioan Ðamascô, In dormitione Deiparae I, 8: SC 80, 100-104.
[15] Ví dụ, xem Octo#chus magnus, Rome 1885, 152: "Chúng con đã được dự phần vào bản tính thần linh nhờ Mẹ, hỡi Ðức Mẹ Ðồng Trinh trọn đời; vì Mẹ đã sinh ra Thiên Chúa làm người vì chúng con. Vì vậy, như lẽ phải, tất cả chúng con thành kính tôn vinh Mẹ" (dịch từ bản gốc tiếng Hy Lạp của Theotokion của nhà thơ Kathisma). Một ví dụ quan trọng hơn về biểu hiện lòng sùng kính Ðức Mẹ là bài thánh ca nổi tiếng gồm hai mươi bốn khổ thơ Hymnus Akathistos (thế kỷ V); tiêu đề đơn giản có nghĩa là bài thánh ca này phải được nghe khi đứng, chứ không phải khi ngồi (như khi nghe Phúc Âm lúc đứng) như một dấu hiệu của sự tôn kính đặc biệt đối với Ðức Mẹ Ðồng Trinh Maria. Trong bài thánh ca đó, nhà thơ đã tô điểm cho Ðức Maria bằng những tính từ và ẩn dụ tượng trưng tuyệt đẹp nhất, cầu xin Mẹ chấp nhận món quà thơ ca của ông và cầu bầu cho sự cứu rỗi của nhân loại khỏi tội lỗi trần gian (xem E.M. Toniolo, OSM, Akathistos Inno alla Madre di Dio, Rome 2017).
[16] Bằng chứng cổ nhất về tước hiệu này có niên đại từ thế kỷ III ở Ai Cập. Xem thêm Giấy cói 470 của Thư viện John Rylands (Manchester, Anh), trong đó có phần lớn lời cầu khẩn Ðức Mẹ bằng tiếng Hy Lạp. Phiên bản tiếng Latinh của lời cầu nguyện này như sau: "Sub tuum praesidium confugimus, Sancta Dei Genetrix. Nostras deprecationes ne despicias in necessitatibus, sed a periculis cunctis libera nos semper, Virgo gloriosa et benedicta" ("Chúng con hướng về Mẹ để được che chở, Mẹ Thiên Chúa thánh thiện. Xin lắng nghe lời cầu nguyện của chúng con và giúp đỡ chúng con trong những lúc khó khăn. Xin cứu chúng con khỏi mọi nguy hiểm, Ðức Trinh Nữ vinh hiển và diễm phúc;" bản dịch tiếng Anh, Kinh nguyện nhỏ kính Ðức Trinh Nữ Maria, Nhà xuất bản Sách Công giáo, New Jersey 1988, 186).
[17] Các ảnh tượng truyền thống về Ðức Trinh Nữ Maria tuân theo một loạt các mô hình đã được thiết lập vững chắc, đặc biệt là: Odeghetria ("người chỉ đường"), trong đó bà chỉ tay về phía con trai mình, Chúa Giêsu, người đang ngồi trong lòng bà; Eleousa ("Sự dịu dàng"), thể hiện mối liên kết mật thiết giữa Mẹ và Con, với Hài Nhi tựa má vào má Ðức Mẹ; Platytera ("Rộng lớn hơn cả trời"), bởi vì bà mang Chúa Kitô trong mình, được miêu tả là Hài Nhi trên ngực bà. Từ ba mô hình này mà hầu hết các mô hình khác được hình thành, chẳng hạn như Galaktotrophousa, người nuôi dưỡng Hài Nhi bằng sữa của mình; Kyriotissa hay "Ðức Mẹ," người bế Hài Nhi trên đầu gối như trên ngai vàng; Panagia ("Thánh thiện nhất"), mặc áo choàng đỏ thể hiện sự trọn vẹn của sự thánh thiện; và Deesis, nơi Ðức Mẹ xuất hiện bên phải Con Trai mình đang ngự trên ngai vàng uy nghi (Pantokrator) cầu bầu cho chúng ta, thường cùng với Gioan Tẩy giả ở bên trái bà. Trong các bức tranh thánh khác, Ðức Mẹ xuất hiện cầu bầu cùng với các vị thánh khác - thường bao gồm cả Gioan Tẩy Giả, với tư cách là những người đại diện cuối cùng của Giao ước Cũ và đồng thời là những thành viên đầu tiên của dân tộc mới.
[18] Cf. Bênêđictô XVI, Yết kiến chung (27/5/2009): L'Osservatore Romano, 28 May 2009, 1; Gregory of Narek, Prex 26 and 80: Ad Deiparam; SC 78, 160-164, 428-432.
[19] Các tác giả Phương Ðông như Thánh Giacóp xứ Serugh (X521), Thánh Romanos người viết nhạc (X555-562), Thánh Gioan Ðamascô (X749) và Gioan Geometres (X1000) đã đề cập đến chủ đề về sự cộng tác của Ðức Maria với hy sinh cứu chuộc của Chúa Kitô trên thập giá.
[20] Cf. Bênarđô thành Clairvaux, In Purificationem Deiparae, III, 2: PL 183, 370C.
[21] Cf. Arnold of Bonneval, De Laudibus B. M. Virginis, I, 3c. 12,4: PL 189, 1727A.
[22] Trong Huấn quyền trước Công đồng Vaticanô II, nổi bật như sau: Piô IX, Tông hiến Ineffabilis Deus (8 tháng 12 năm 1854): Pontificis Maximi Acta. Pars prima, Rome 1854, 597-619; Leo XIII, Thông điệp Iucunda Semper Expectatione (8 tháng 9 năm 1894): ASS 27 (1894-1851), 177-184; Thông điệp Adiutricem Populi (5/9/1895): ASS 28 (1895-1896), 129-136; Ðức Piô X, Thông điệp Ad Diem Illum Laetissimum (2/2/1904): ASS 36 (1903-1904), 453; Bênêđictô XV, Tông thư Inter Sodalicia a la Cofradía de Ntra. Sra de la Buena Muerte (22 tháng 3 năm 1918): AAS 10 (1918), 182; Ðức Piô XI, Thông điệp Miserentissimus Redemptor (8 tháng 5 năm 1928): AAS 20 (1928), 165-178; Ðức Piô XII, Thông điệp Mystici Corporis Christi (29/6/1943): AAS 35 (1943), 193-248; Thông điệp Ad Caeli Reginam (11/10/1954): AAS 46 (1954), 634-635.
[23] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium (21/11/1964), 56: AAS 57 (1965), 60.
[24] Cf. Piô IX, Hiến chế Tông đồ Ineffabilis Deus (8/12/1854): Pontificis Maximi Acta. Pars prima, Rome 1854, 616 (DH 2803): "[Ðức Maria], ngay từ giây phút đầu tiên thụ thai, nhờ ân sủng và đặc ân đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng và xét đến công đức của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Thế của nhân loại, đã được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ;" Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 53: AAS 57 (1965), 58: "Ðược cứu chuộc, theo cách cao cả hơn, nhờ công đức của Con mình."
[25] Cf. Ambrosiô, Exp. Evangelii secundum Lucam, II, 7: PL 15, 1555.
[26] Cf. Phanxicô, Angelus (15/8/2013): L'Osservatore Romano, 17-18/8/2013, 8.
[27] Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus (2/2/1974), 25: AAS 66 (1974), 135.
[28] Mẹ không chỉ đơn thuần là "mẹ nuôi." Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 20: AAS 79 (1987), 361-433, 384-387.
[29] Bênêđictô XVI, Bài giảng trong Lễ trọng Truyền Tin (25/3/2006): AAS 98 (2006), 330; đối chiếu với Ðức Phaolô VI, Tông huấn Signum Magnum (13/5/1967), 5: AAS 59 (1967), 469: "Ðức Maria, ngay khi được Thiên thần Gabrien trấn an rằng Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ thanh khiết của Con Một của Ngài, đã không ngần ngại chấp thuận một công việc đòi hỏi tất cả sức lực của bản chất yếu đuối của Mẹ và Mẹ tuyên xưng: 'Này, tôi là nữ tỳ của Chúa; xin hãy thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói' (Lc 1,38)."
[30] H.U. von Balthasar, Theo-Drama: Dramatis Personae, tập 3, bản dịch của G. Harrison, San Francisco 1992, 295. So sánh với Cyrillô thành Alexandria, Thư thứ hai gửi Nestorius: "Vì lý do này [các Thánh Giáo phụ] đã không ngần ngại nói về Ðức Trinh Nữ thánh thiện như là Mẹ Thiên Chúa": DH 251; và Công đồng Ephesus, điều 1: DH 252.
[31] Theo như được biết đến ngày nay, điều này đã xảy ra vào thế kỷ XV khi một nhà soạn thánh ca dòng Benedictine để lại cho hậu thế lời cầu nguyện viết tay sau đây, hiện được lưu giữ tại Tu viện Thánh Phêrô ở Salzburg: "Pia, dulcis et benigna / nullo prorsus luctu digna / si fletum hinc eligeres / ut compassa Redemptori / captivato transgressori / tu corredemptrix fieres" ("Yêu thương, dịu dàng và nhân hậu / hoàn toàn không đáng phải chịu bất kỳ nỗi buồn nào / nếu từ nay Mẹ chọn khóc lóc/ như một người cùng đau khổ với Ðấng Cứu Chuộc / cho tội nhân bị giam cầm / Mẹ là người đồng cứu chuộc"): De compassione BMV, 20: G.M. Dreves (ed.), Analecta Hymnica Medii Aevi, XLVI, Leipzig 1905, n. 79, 127.
[32] Các nhà thần học hiểu tước hiệu "Ðồng Cứu Chuộc" theo nhiều cách khác nhau: (a) Sự cộng tác trực tiếp, mang tính biểu tượng của Chúa Kitô, hoặc tối đa hóa, đặt sự cộng tác của Ðức Mẹ gần gũi, trực tiếp và tức thì với sự Cứu Chuộc của Chúa Kitô (sự cứu chuộc khách quan). Theo cách hiểu này, công đức của Ðức Mẹ, mặc dù phụ thuộc vào công đức của Chúa Kitô, vẫn có giá trị cứu chuộc cho ơn cứu độ; (b) Sự cộng tác gián tiếp hoặc tối thiểu, giới hạn ở lời thưa "Vâng" của Mẹ tại Lễ Truyền tin. Ðây là sự cộng tác gián tiếp giúp cho sự Nhập Thể trở nên khả thi như một bước chuẩn bị cho sự Cứu Chuộc của Chúa Kitô; (c) Sự cộng tác trực tiếp nhưng mang tính tiếp nhận hoặc mang tính biểu tượng của Giáo hội, cộng tác trong sự cứu chuộc khách quan ở chỗ Mẹ đã chấp nhận hoa trái của hy sinh cứu chuộc của Ðấng Cứu Thế, đại diện cho Giáo hội. Ðây là sự cộng tác trực tiếp nhưng cũng mang tính tiếp nhận, vì Ðức Mẹ chỉ đơn giản chấp nhận sự Cứu Chuộc của Chúa Kitô, do đó Mẹ trở thành "Giáo hội đầu tiên."
[33] Dưới triều đại của Thánh Giáo hoàng Piô X, tước hiệu "Ðồng Cứu Chuộc" xuất hiện trong một văn kiện của Thánh bộ Phụng tự và hai văn kiện của Thánh bộ. Xem thêm: Thánh bộ Phụng tự, Dolores Virginis Deiparae (13 tháng 5 năm 1908): ASS 41 (1908), 409; Thánh Bộ, Sắc lệnh Sunt quos amor (26 tháng 6 năm 1913): AAS 5 (1913), 364, ca ngợi tục lệ thêm vào tên Chúa Giêsu tên "của Mẹ Người, Ðồng Cứu Chuộc của chúng ta, Ðức Maria;" Oración indulgenciada (22/1/1914): AAS 6 (1914), 108, trong đó Ðức Mẹ được gọi là "Ðồng Cứu Chuộc của nhân loại." Ðức Giáo hoàng đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Ðồng Cứu Chuộc" là Ðức Giáo hoàng Piô XI trong một Sắc lệnh ngày 20 tháng 7 năm 1925 về Ðức Mẹ Mân Côi, Nữ Vương của Pompeii: Piô XI, Ad B.V.M. a Sacratissimo Rosario in Valle Pompeiana, in Sacra Paenitentiaria Apostolica, Enchiridion indulgentiarum, Rome 1952, n. 628: "Hãy nhớ rằng tại đồi Calvariô, Mẹ đã trở thành Ðồng Cứu Chuộc, cộng tác với sự đóng đinh trái tim của Mẹ để cứu rỗi thế giới, cùng với Con trai bị đóng đinh của Mẹ;" Cf. Bài diễn văn "Ecco di Nuovo" cho các tín hữu hành hương từ Giáo phận Vicenza (30 tháng 11 năm 1933): L'Osservatore Romano, 1 tháng 12 năm 1933, 1.
[34] Cf. Piô XI, Sứ điệp phát thanh nhân dịp bế mạc Năm Thánh Cứu Chuộc tại Lộ Ðức (28/04/1935): L'Osservatore Romano Indulgentiarum 28/29/04/1935, 1.
[35] Cf. Piô XI, Ad B.V.M. a Sacratissimo Rosario ở Valle Pompeiana, ở Sacra Paenitentiaria Apostolica, Enchiridion, Rome 1952, n. 628. Pius XI, Ad B.V.M. a Sacratissimo Rosario in Valle Pompeiana, in Sacra Paenitentiaria Apostolica, Enchiridion indulgentiarum, Rome 1952, n. 628.
[36] Cf. Gioan Phaolô II, Tiếp kiến chung (10/12/1980): Insegnamenti III/2 (1980), 1646; Tiếp kiến chung (8 tháng 9 năm 1982): Insegnamenti V/3 (1982), 404; Truyền Tin (4/11/1984): Insegnamenti VII/2 (1984), 1151; Bài giảng tại Ðền thờ Ðức Mẹ Bình minh ở Guayaquil (Ecuador) (31/01/1985): Insegnamenti VIII/1 (1985), 319; Truyền Tin (31/03/1985): Insegnamenti VIII/1 (1985), 890; Diễn văn với những người hành hương của "Opera Federativa Trasporto Ammalati a Lourdes" (24 tháng 3 năm 1990): Insegnamenti XIII/1 (1990), 743; Angelus (6 tháng 10 năm 1991): Insegnamenti XIV/2 (1991), 756. Tuy nhiên, sau Hội nghị Feria IV ngày 21 tháng 2 năm 1996 của Bộ Giáo lý Ðức tin, Thánh Gioan Phaolô II đã ngừng sử dụng tước hiệu "Ðồng Cứu Chuộc." Ðiều quan trọng cần lưu ý là tước hiệu này không xuất hiện trong Thông điệp Redemptoris Mater ngày 25 tháng 3 năm 1987 của ngài - văn kiện tiêu biểu nhất trong đó Thánh Gioan Phaolô II giải thích vai trò của Ðức Mẹ trong công cuộc Cứu Chuộc.
[37] J. Ratzinger, Biên bản Hội nghị Feria IV ngày 21 tháng 2 năm 1996, trong Kho lưu trữ của Bộ Giáo lý Ðức tin.
[38] J. Ratzinger - P. Seewald, God and the World: Believing and Living in Our Time: A Conversation with Peter Seewald, trans. H. Taylor, San Francisco 2002, 306.
[39] Phanxicô, Bài giảng về lễ Ðức Bà Guadalupe (12/12/2019): AAS 112 (2020), 9.
[40] Phanxicô, Những suy niệm hằng ngày về Ðức Mẹ đau khổ: Môn đệ và Mẹ," (3/4/2020): L'Osservatore Romano, 4/4/2020, 8.
[41] Phanxicô, Yết kiến chung (24/3/2021): L'Osservatore Romano, 24/3/2021, 8.
[42] Piô XII, Thông điệp Haurietis Aquas (15/5/1956), 10: AAS 48 (1956), 321.
[43] Cf. Andrew of Crete, In Nativitatem Mariae, IV: PG 97, 865A.
[44] Cf. German of Constantinople, In Annuntiationem s. Deiparae: PG 98, 322BC.
[45] Cf. Gioan Ðamascô, In dormitionem Deiparae, I: PG 96, 712B-713A.
[46] Vào ngày 12 tháng 1 năm 1921, Ðức Giáo hoàng Bênêđictô XV - theo yêu cầu của Hồng y Désiré-Joseph Mercier - đã ban cho toàn thể nước Bỉ Kinh nguyện và Thánh lễ kính Ðức Trinh Nữ Maria "Ðấng Trung Gian của Mọi Ân Sủng," được cử hành hàng năm vào ngày 31 tháng 5. Sau đó, Tòa thánh đã ban cho nhiều giáo phận và dòng tu khác cùng Kinh nguyện và Thánh lễ này theo yêu cầu: cf. AAS 13 (1921), 345.
[47] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965), 63; Học viện Giáo hoàng Quốc tế Ðức Maria, "Một tín lý mới về Ðức Mẹ? Bình luận về Tuyên bố của Học viện Ðức Mẹ," L'Osservatore Romano (Ấn bản hàng tuần tiếng Anh), ngày 25 tháng 6 năm 1997, trang 10: "Hiến chế Lumen Gentium, được soạn thảo một cách có chủ ý không chứa định nghĩa tín lý về sự trung gian, đã được thông qua với 2.151 phiếu thuận trên tổng số 2.156 phiếu chống... Chỉ sau gần 33 năm kể từ khi Lumen Gentium được ban hành... bối cảnh Giáo hội học, thần học và chú giải... về cơ bản vẫn không thay đổi." Sự khẳng định này của Học viện Giáo hoàng Quốc tế Ðức Maria đã được thêm vào Tuyên bố của Ủy ban Thần học được thành lập trong khuôn khổ Ðại hội Thần học Ðức Maria Quốc tế lần thứ 12 (Czestochowa, 12-24 tháng 8 năm 1996), trong đó cho rằng việc tiến hành định tín tín điều về Ðức Mẹ là "Ðấng Trung Gian," "Ðấng Ðồng Cứu Chuộc" và "Ðấng Biện Hộ" là không phù hợp. Xem thêm: Ủy ban Thần học của Ðại hội Czestochowa, "Yêu cầu định tín tín điều về Ðức Mẹ là Ðấng Trung Gian, Ðấng Ðồng Cứu Chuộc và Ðấng Biện Hộ": L'Osservatore Romano (Ấn bản hàng tuần tiếng Anh), 25 tháng 6 năm 1997, 10.
[48] Phaolô VI, Bài phát biểu bế mạc Phiên họp thứ ba của Công đồng Vaticanô II (21/11/1964): AAS 56 (1964), 1014.
[49] Cf. Bênarđô thành Clairvaux, Hom. in laudibus Virginis Matris, IV, 8: PL 183, 83CD-84AB.
[50] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 55-62: AAS 57 (1965), 59-63.
[51] Cf. ibid., 53, 56, 61, 63: AAS 57 (1965), 59; 60; 63; 64.
[52] Cf. ibid., 60, 62, 63, 65: AAS 57 (1965), 62; 63; 64; 65.
[53] Ibid., 62: AAS 57 (1965), 63.
[54] Cf. Phanxicô, Yết kiến chung (24/3/2021): L'Osservatore Romano, 24/3/2021, 8.
[55] Bộ Giáo lý Ðức tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (6/8/ 2000), par. 13: AAS 92 (2000), 754-755.
[56] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965), 63.
[57] Bộ Giáo lý Ðức tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (6/8/ 2000), par. 14.
[58] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 1: AAS 57 (1965), 5; Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/9/2013), 112: AAS 105 (2013), 1066.
[59] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 65: AAS 57 (1965), 64-65; Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/9/2013), 288: AAS 105 (2013), 1136.
[60] Origen, In Numeros homiliae, XII, 1: PG 12, 657.
[61] Ambrosiô, Epist. 29, 24: PL 16, 1106D.
[62] Tôma Aquinô, Commentaria super Ioannem, ch. 7, lect. 5.
[63] Cf. Piô IX, Tông hiến Ineffabilis Deus (8/12/1854): Pontificis Maximi Acta. Pars prima, Rome 1854, 616 (DH 2803): "nhờ ân sủng và đặc ân đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng và xét về công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ nhân loại."
[64] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 38: AAS 79 (1987), 411.
[65] Cf. ibid., 21: AAS 79 (1987), 387-389.
[66] Cf. ibid., 23: AAS 79 (1987), 390-391.
[67] Phanxicô, Những suy niệm hằng ngày "Mẹ đau khổ: Môn đệ và Mẹ" (3/4/2020).
[68] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 55-62: AAS 57 (1965), 59-63.
[69] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 4: AAS 79 (1987), 421.
[70] Cf. Phaolô VI, Bài phát biểu bế mạc Phiên họp thứ ba của Công đồng Vaticanô II (21 tháng 11 năm 1964): AAS 56 (1964), 1015: "Vậy thì, với tư cách là Mẹ của Chúa Kitô, Ðức Maria cũng phải được coi là Mẹ của các tín hữu và của tất cả các mục tử; nghĩa là, của Giáo hội;" Giáo lý của Giáo hội Công giáo, số 963.
[71] Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus (2/2/1974), 22: AAS 66 (1974), 133.
[72] H.U. von Balthasar, Theo-Drama: Theological Dramatic Theory: Dramatis Personae: Persons in Christ, vol. 3, trans. G. Harrison, San Francisco 1992, 333.
[73] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 56: AAS 57 (1965), 60: "[Bà] đã hiến dâng trọn vẹn bản thân, như một tôi tớ của Chúa, cho con người và công việc của Con mình, dưới sự hướng dẫn và cùng với Người, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc, nhờ ân sủng của Thiên Chúa Toàn năng."
[74] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 23: AAS 79 (1987), 391.
[75] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 69: AAS 57 (1965), 66: "Mẹ Thiên Chúa và Mẹ nhân loại."
[76] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 38: AAS 79 (1987), 411; cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý, Lumen Gentium, 61: AAS 57 (1965), 63. Nội dung về thiên chức làm mẹ thiêng liêng của Ðức Maria hiện diện trong các văn bản giáo phụ sớm nhất và có nền tảng Kinh thánh chủ yếu trong Phúc âm Gioan - cụ thể là trong tường thuật về Thập giá.
[77] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25 tháng 3 năm 1987), 21: AAS 79 (1987), 388: "[Mô tả về sự kiện Cana phác họa những gì thực sự được biểu hiện như một loại mẫu tính mới theo tinh thần chứ không chỉ theo xác thịt, nghĩa là lòng quan tâm của Ðức Mẹ đối với con người, sự đến với họ trong nhiều nhu cầu và mong muốn khác nhau của họ."
[78] Cf. Phanxicô, Bài giảng về Lễ trọng Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa (1/1/2020): AAS 112 (2020), 19.
[79] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 38: AAS 79 (1987), 411-412; cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965), 63.
[80] Cf. Gioan Phaolô II, Tiếp kiến chung (9/4/1997), 2: L'Osservatore Romano, 10/4/1997, 4: "Ðức Mẹ... đã cộng tác trong chính sự kiện đó và trong vai trò người mẹ; do đó, sự cộng tác của Mẹ bao trùm toàn bộ công trình cứu độ của Chúa Kitô."
[81] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 60: AAS 57 (1965), 62; Giáo lý của Giáo hội Công giáo, số 970.
[82] Cf. Phanxicô, Tiếp kiến chung (24/3/2021): L'Osservatore Romano, 24 /3/2021, 8: "[Ðức Mẹ] biểu thị Ðấng Trung Gian: Mẹ là Odigitria. Sự hiện diện của Mẹ ở khắp mọi nơi trong nghệ thuật Kitô giáo, đôi khi rất nổi bật, nhưng luôn luôn liên quan đến Con của Mẹ và kết nối với Người. Bàn tay, ánh mắt, hành vi của Mẹ là một 'giáo lý' sống động, luôn luôn chỉ ra viên đá góc, trung tâm: Chúa Giêsu. Ðức Mẹ hoàn toàn hướng về Người (xem CCC, 2674)."
[83] Gioan Phaolô II, Tông thư Rosarium Virginis Mariae (16 October 2002), 4, khi trích Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 66: AAS 57 (1965), 65.
[84] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965), 63: "Ðây là vai trò tuỳ phụ của Ðức Maria."
[85] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 40: AAS 79 (1987), 414-415.
[86] Ibid., 43: AAS 79 (1987), 420.
[87] Cf. Phanxicô, Diễn văn nhân dịp cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi tại nhà thờ Ðức Bà Cả, (4/4/2013): L'Osservatore Romano, 6-7/5/2013, 7.
[88] Lêô XIV, Bài giảng trong Thánh lễ Năm Thánh của Toà Thánh (9/6/2025): L'Osservatore Romano, 10/6/2025, 2.
[89] Cf. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/9/2013), 285: AAS 105 (2013), 1135.
[90] Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024), 176: L'Osservatore Romano, 24/10/2024, 10.
[91] Cf. Phanxicô, Yết kiến chung (18/11/2020): L'Osservatore Romano, 18/11/2020, 11.
[92] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 21: AAS 79 (1987), 388-389.
[93] Cf. Phanxicô, Bài giảng trong lễ Trọng Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa (1/1/2024): L'Osservatore Romano, 2/1/2024, 2.
[94] J.L. Guerrero Rosado, Nican Mopohua: Aquí se cuenta... el gran acontecimiento, Cuautitlán 2003, nn. 23, 119.
[95] Gioan Phaolô II, Yết kiến chung (13/8/1997), 4: L'Osservatore Romano, 14/8/1997, 4.
[96] Phanxicô, Bài giảng về Lễ Ðức Mẹ Guadalupe (12/12/2022): L'Osservatore Romano, 13 /12/2022, 8; cf. Bài giảng về Lễ Ðức Mẹ Guadalupe (12/12/2023): L'Osservatore Romano, 13/12/2023, 11.
[97] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 8: AAS 57 (1965), 11; Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024), 96: AAS 116 (2024), 1398.
[98] Cf. J. Ratzinger, Minutes of the Feria IV of 21 February 1996, in the Archives of the Dicastery for the Doctrine of the Faith.
[99] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 21: AAS 79 (1987), 389. Ðặc tính chuyển cầu của sự trung gian từ mẫu của Ðức Maria là giáo huấn thường xuyên của các Giáo hoàng gần đây. Cf. Piô IX, Tông huấn Ineffabilis Deus (8/12/1854): Pontificis Maximi Acta. Pars prima, Rome 1854, 597-619; Leô XIII, Thông điệp Adiutricem Populi (5 /9/1895): ASS 28 (1895-1896), 129-136; Ðức Piô X, Thông điệp Ad Diem Illum (02/02/1904): AAS 36 (1903-1904), 455; Ðức Piô XII, Thông điệp Ad Caeli Reginam (11/10/1954), 17: AAS 46 (1954), 636.
[100] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965), 63.
[101] Augustinô, De peccatorum meritis et remissione et de baptismo parvulorum, I, 11, 13: CSEL 60, 14.
[102] Augustinô, Sermo 23/A: CCSL 41, 322.
[103] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 114, a. 6, co.
[104] Công đồng Trentô, Session VI. Decree on Justification, ch. 7: DH 1530.
[105] Piô IX, Hiến chế Ineffabilis Deus (8 December 1854): Pontificis Maximi Acta. Pars prima, Rome 1854, 616.
[106] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 113, a. 9, co.
[107] Ibid., q. 114, a. 6, ad 3.
[108] Ibid., q. 114, a. 5, co.
[109] Cf. ibid., q. 114, a. 1, co.
[110] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 21: AAS 79 (1987), 389.
[111] Cf. Phanxicô, Yết kiến chung (8/6/2016): L'Osservatore Romano, 9 June 2016, 8.
[112] Cf. Phanxicô, Yết kiến chung (24/3/2021): L'Osservatore Romano, 24/3/2021, 8; Giáo lý của Giáo hội Công giáo, số 2764.
[113] Cf. Phanxicô, Những lưu ý của Ðức Thánh cha tại buổi cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi (31/5/2013): L'Osservatore Romano, 2/6/2013, 8.
[114] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 61: AAS 57 (1965), 63.
[115] Giáo lý của Giáo hội Công giáo, số 2003.
[116] Ibid., số 1999.
[117] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 114, a.1, co.; Quaestiones disputatae de Veritate, 27, a. 3, ad 10.
[118] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 64, a. 1, co.: "solus Deus illabitur animae."
[119] Cf. Công đồng Trentô, Session VI. Decree on Justification, ch. 7 (DH 1528-1531), and Canon 11 of the Canons on Justification (DH 1561).
[120] Cf. Tôma Aquinô, Quaestiones disputatae de Veritate, q. 28, a. 2, ad 8; Summa contra gentiles, II, cap. 98, n. 18; ibid., III, cap. 88, n. 6.
[121] Cf. Tôma Aquinô, Quaestiones disputatae de Veritate, q. 27, a. 3, s.c. 5.
[122] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 64, a. 1, co.
[123] Ví dụ, xem Gennadius of Massilia, De ecclesiasticis dogmatibus, 83: PL 58, 999B; John Cassian, Collationes, VII, 13: PL 49, 683A; Jerome, Interpretatio libri Didymium de Spiritu Sancto, 60: PL 23, 158C.
[124] Cf. Bonaventure, Collationes in Hexaemeron, XXI, 18: Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, 434.
[125] Cf. Bonaventure, Sententiarum Lib. I, d.14, a. 2, q. 2, ad 2: Opera Omnia, I, Quaracchi 1891, 250.
[126] Cf. ibid., q. 2, fund. 3, 251.
[127] Cf. ibid., q. 2, fund. 4 and 8, 251-252.
[128] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I, q. 33, a. 3; ibid., III, q. 23, a. 4.
[129] Tôma Aquinô, Compendium theologiae, I, no. 215; cf. Summa Theologiae, III, q. 2, a. 10.
[130] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 8, a. 5, co.; cf. ibid., q. 2, a. 12; a. 9; q. 48, a. 1.
[131] Tôma Aquinô, Compendium theologiae, I, no. 214.
[132] Tôma Aquinô, Quaestiones disputatae de Veritate, q. 29, a. 5, co.
[133] Bộ Giáo lý Ðức tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (6/8/2000), 10; cf. Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024), 59-63: AAS 116 (2024), 1386-1387.
[134] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes (7/12/1965), 22: AAS 58 (1966), 1042-1043.
[135] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 112, a. 1, co.
[136] Cf. Tôma Aquinô, In Ioannes Evangelium, cap. 1, v. 16, lectio 10; Summa Theologiae, I-II, q. 112, a. 1, ad 1.
[137] Tôma Aquinô, Compendium theologiae, I, no. 214.
[138] Dante Alighieri, Divine Comedy, Paradiso, XXXIII, 1.
[139] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 60, 62: AAS 57 (1965), 62-63; Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 26.
[140] United States Conference of Catholic Bishops, Preface for the Solemnity of the Immaculate Conception of the Blessed Virgin Mary, The Roman Missal, Catholic Book Publishing, New Jersey 2011, 873.
[141] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 60: AAS 57 (1965), 62.
[142] Cf. Giáo lý của Giáo hội Công giáo số 2002.
[143] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae I, q. 25, a. 3, ad 4. Justification, như sự sáng tạo, "chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa thực hiện một cách ngay lập tức."
[144] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen, 62: AAS 57 (1965), 63.
[145] Cf. Origen, In Genesim homiliae XIII, 3-4: PG 12, 232B-234CD.
[146] Cf. Cyrillô thành Alexandria, In Ioannis Evangelium, II, 4, 13-14: PG 73, 300C.
[147] Cf. Cyrillô thành Alexandria, Commentarius in Isaiam prophetam, V, II, 55, 1-2: PG 70, 1220A.
[148] Cf. Cyrillô thành Giêrusalem, Catechesis mystagogica, XVI, 11: PG 33, 932C.
[149] Cf. Gioan Kim Khẩu, Hom. in Ioannem, 51, 1: PG 59, 283.
[150] Ambrosiô, Explanatio Psalmorum XII, Ps. 48, 4, 2: PL 14, 1157A.
[151] Ambrosiô, De Noe, 19, 70: PL 14, 395A.
[152] Cf. Ambrosiô, Explanatio Psalmorum XII, Ps. 48, 4, 2: PL 14, 1157A.
[153] Cf. Giêrônimô, Comm. in Zachariam, III, 14, 8.9: PL 25, 1528 C.
[154] Gregoriô Cả, Hom. in Ezechielem, I, 10, 6: PL 76, 888B.
[155] Cf. Hilariô, Tractatus in Psalmos, 64, 14: PL 9, 421B.
[156] Augustinô, In Ioannis Evangelium, 32, 4: PL 35, 1643D.
[157] Tôma Aquinô, Super Ioannem, cap. 7, lect. 5.
[158] Ibid.; cf. Summa Theologiae, II-II, q. 178, a. 1, s.c.
[159] Cyrillô thành Giêrusalem, Catechesis mystagogica XVI, 12: PG 33, 933B.
[160] Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra (15/5/1961): AAS 53 (1961), 462.
[161] Gioan Phaolô II, Thư gửi Tổng Bề trên Dòng Tên, Paray-le-Monial (5 October 1986): L'Osservatore Romano, 6/10/1986, 7, được trích bởi Ðức Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024), 182: AAS 116 (2024), 1427.
[162] Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009), 5: AAS 101 (2009), 643.
[163] Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024), 198, 200: AAS 116 (2024), 1432.
[164] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 5, a. 6, co. and ibid., ad 1; Quaestiones disputatae de Veritate, q. 27, a. 3, s.c. 5. Những lập luận mà Thánh Tôma Aquinô đã sử dụng để giải thích tại sao chỉ có Thiên Chúa, chứ không phải bất kỳ tạo vật nào, mới có thể ban ân sủng, không thể bị coi là lỗi thời, cả trong chính tác phẩm của ngài cả sau này.
[165] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 60: AAS 57 (1965), 62; cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I, q. 25, a. 3, ad 4; Scriptum super Sententiis., II, d. 26, q. 1, a. 2, co.; ibid., IV, d. 5, q. 1, a. 3, qc. 1, ad 1.
[166] Cf. Tôma Aquinô, Quaestiones disputatae de Veritate, q. 27, a. 3, s.c. 5. Một lần nữa, người ta có thể nhắc lại rằng: "Sed mentem, in qua est gratia, nulla creatura illabitur."
[167] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 60: AAS 57 (1965), 62.
[168] Ibid., 62: AAS 57 (1965), 63.
[169] Cf. Tôma Aquinô, Summa contra Gentiles, II, ch. 21, par. 7. Một tác nhân phương tiện đóng góp điều gì đó cho chính điều này: "Omne agens instrumentale exequitur actionem principalis agentis per aliquam actionem propriam et connaturalem sibi."
[170] Ibid., III, ch. 147, par. 6; cf., Summa Theologiae, I, q. 45, a. 5, co.
[171] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 5, a. 6, ad 1.
[172] Cf. Công đồng Trentô, Sessio VI. Decretum de iustificatione, 8: DH 1532.
[173] Cf. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 114, a. 5, co.: "Khi ai đó đầy ân sủng, thì ân sủng đã được sở hữu không phải là do công trạng." Mặc dù người được xưng công chính có thể xứng đáng được lớn lên trong đời sống ân sủng, nhưng việc được xưng công chính, việc trở thành bạn của Thiên Chúa nhờ ân sủng, sẽ luôn luôn hoàn toàn là nhưng không.
[174] Ðiều mà Thánh Tôma Aquinô gọi là "sự sắp đặt cuối cùng," xảy ra đồng thời với sự tuôn đổ ân sủng thánh hóa, chính là công việc trực tiếp của ân sủng. Ðó là "sự sắp đặt cuối cùng mà hình thức tất yếu theo sau": Tôma Aquinô, Sententia Metaphysicae, lib. 5, lect. 2, n. 5; cf. Scriptum super Sententiis, I, d. 17, q. 2, a. 3, co.; Summa contra gentiles, lib. 2, cap. 19, n. 6; Compendium theologiae, I, n. 105.
[175] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 61: AAS 57 (1965), 63.
[176] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 45: AAS 79 (1987), 422-423.
[177] Phanxicô, Yết kiến chung (18/11/2020): L'Osservatore Romano, 18/11/2020, 11.
[178] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 20: AAS 79 (1987), 387.
[179] Cf. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, 53: AAS 57 (1965), 58-59.
[180] Augustinô, Sermo 72/A, 7: CCSL 41Ab, 117.
[181] Phanxicô, Yết kiến chung (24/3/2021): L'Osservatore Romano, 24/3/2021, 8.
[182] Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus (2/2/1974), 35: AAS 66 (1974), 147.
[183] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 46: AAS 79 (1987), 424.
[184] Bộ Giáo lý Ðức tin, Quy tắc tiến hành phân định các hiện tượng siêu nhiên được cho là có thật (17/5/2024), đoạn 12: AAS 116 (2024), 782.
[185] Phanxicô, Yết kiến chung (16/2/2022): L'Osservatore Romano, 16/2/2022, 2.
[186] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 285: AAS 105 (2013), 1134-1135.
[187] Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 42: AAS 98 (2006), 252.
[188] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 284: AAS 105 (2013), 1134.
[189] Cf. ibid., 113: AAS 105 (2013), 1067.
[190] Lêô XIV, Phép lành đầu tiên "Urbi et Orbi" (8/5/2025): L'Osservatore Romano, 9/5/2025, 3.
[191] Phanxicô, Sứ điệp cho giới trẻ lần thứ ba mươi bảy (15/8/2022): AAS 114 (2022), 1255.
[192] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 285: AAS 105 (2013), 1135.
[193] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 28: AAS 79 (1987), 398.
[194] Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe, Ðại hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe lần thứ V (Aparecida, 13-31/5/2007), đoạn 265.
[195] Cf. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Mater (25/3/1987), 35: AAS 79 (1987), 407.
[196] Phanxicô, Bài giảng về Lễ Trọng Mẹ Thiên Chúa (1/1/2024): AAS 116 (2024), 20.
[197] Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe, Ðại hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và Caribe lần thứ V (Aparecida, 13-31/5/2007), đoạn 259.