Kết thúc cuộc điều tra cấp giáo phận
để xin phong chân phước cho mười hai vị tử đạo
của Giáo hội Công giáo Campuchia thời Pol Pot
Kết thúc cuộc điều tra cấp giáo phận để xin phong chân phước cho mười hai vị tử đạo của Giáo hội Công giáo Campuchia thời Pol Pot.
G. Trần Ðức Anh, O.P.
Phnom Penh (RVA News 20-03-2026) - Giáo hội Công giáo tại Campuchia đã kết thúc các cuộc điều tra, thu thập chứng từ để làm hồ sơ xin phong chân phước cho mười hai vị tử đạo bị sát hại trong cuộc diệt chủng của Khmer Ðỏ, gồm Ðức giám mục Joseph Chhmar Salas và mười một tín hữu, bị sát hại trong cuộc diệt chủng của Khmer Ðỏ.
Hôm 18 tháng Ba năm 2026, tại Tòa Giám mục Phnom Penh, giai đoạn cấp giáo phận của tiến trình phong chân phước cho Ðức giám mục Joseph Chhmar Salas và mười một bạn hữu của ngài đã chính thức khép lại. Ðây là tiến trình đầu tiên, theo giáo luật, nhằm xác nhận việc tử đạo được Giáo hội Campuchia khởi xướng, một Giáo hội còn rất non trẻ này, vốn được tái sinh vào những năm 1990, sau cuộc diệt chủng do Khmer Ðỏ gây ra.
Mười hai chứng nhân đức tin này - sau một cuộc khảo sát kỹ lưỡng kéo dài mười năm - nay có toàn bộ hồ sơ được gửi về Bộ Phong thánh ở Rôma để xác nhận việc tử đạo. Tất cả đều là những người bị chế độ Pol Pot sát hại, trong khoảng từ năm 1970 đến 1977.
Ðứng đầu trong danh sách là Ðức cha Joseph Chhmar Salas, người Campuchia đầu tiên được bổ nhiệm làm Giám mục Ðại diện Tông tòa Phnom Penh năm 1975, ngay trước khi Khmer Ðỏ tiến vào thủ đô.
Cùng với Ðức giám mục, còn có các linh mục người Campuchia: cha Joseph Chhmar Salem, em trai của ngài, và cha Marcel Trương Sang Samronh; cha Pierre Rapin, thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP); Ðan sĩ Dòng Biển Ðức Charles Badré; linh mục Damien Ðặng Ngọc An thuộc Dòng Thánh Gia Banam của Việt Nam; hai nữ tu Jacquelin Kim Song và Lydie Nou Savan thuộc Dòng Quan Phòng Portieux; cùng bốn giáo dân: Joseph Som Kinsan, Pierre Chhum Somchay, Joseph Thong và Joseph Ros En.
Lắng nghe hàng chục nhân chứng
Chủ sự buổi lễ là Ðức cha Olivier Schmitthaeusler, Ðại diện Tông tòa Phnôm Pênh, thuộc Hội Thừa sai Paris. Ngài so sánh lòng trung thành của Ðức cha Salas đối với dân tộc của mình tương tự như các đan sĩ Xitô ở Ðan viện Tibhirine bên Algeria bị sát hại.
Tham dự buổi lễ cũng có Ðức cha phó của địa phận Phnom Penh, Pierre Suon Hangly, vị giám mục Campuchia thứ hai trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại nước này. Ngài đang kế thừa di sản của vị giám mục đã qua đời năm 1977. Ngoài ra cũng có sự hiện diện của khoảng 50 linh mục từ ba địa phận ở Campuchia là Phnom Penh, Kampong Cham và Battambang, cùng khoảng 200 tu sĩ, giáo dân. Ðiều này cho thấy tầm quan trọng của sự kiện đối với toàn thể cộng đồng Công giáo địa phương.
Phát biểu trong buổi lễ, Ðức cha Schmitthaeusler nhắc lại rằng án phong chân phước đã được mở vào tháng Năm năm 2015. Trong suốt mười năm qua, hàng chục nhân chứng, từng sống dưới thời Pol Pot và biết rõ các vị này, đã được phỏng vấn. Ban đầu có 35 trường hợp được cứu xét, nhưng sau đó tập trung vào 12 vị.
Ðức cha nói: "2,500 trang tài liệu này là chứng tá cho các thế hệ tín hữu ngày nay. Những con người này thuộc về dân Thiên Chúa, đại diện cho tất cả những ai đã đau khổ và chết đi trong khi cầu xin Chúa đón nhận họ vào Nước Ngài. Những hồ sơ này sẽ được gửi về Rôma: chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện để các vị tử đạo giả định này được đề ra cho Giáo hội hoàn vũ như một hồng ân và chứng tá đức tin vô giá của Giáo hội Campuchia trước thế giới".
Ðức cha Salas và cha Rapin: Những cuộc đời hiến dâng vì tình yêu
Hồ sơ của mười hai Kitô hữu được gửi đến Bộ Phong thánh để cứu xét việc tử đạo phản ánh sự tàn bạo của cuộc diệt chủng Pol Pot - theo ước tính của các sử gia, từ năm 1975 đến 1979 đã có từ 1.5 đến 2 triệu người bị sát hại, tức khoảng một phần tư dân số Campuchia.
Tuy nhiên, những câu chuyện này cũng cho thấy ánh sáng của một đức tin sâu xa, qua đó cộng đoàn Công giáo nhỏ bé tại Campuchia - được hình thành từ năm thế kỷ trước do các nhà truyền giáo Bồ Ðào Nha - đã đối diện với thử thách dưới chế độ cộng sản muốn xóa bỏ họ cùng mọi thứ đi ngược lại ý thức hệ của mình.
Cha Joseph Chhmar Salas, khi đó 37 tuổi, đang học tập tại Pháp thì mùa xuân năm 1975 nhận được thư của Ðức cha Yves Ramousse, Ðại diện Tông tòa Phnom Penh, yêu cầu trở về gấp, vì khi Khmer Ðỏ vào thủ đô, người nước ngoài sẽ bị trục xuất, và Giáo hội cần ngay một giám mục người bản địa.
Cha Salas được tấn phong giám mục chỉ ba ngày trước khi Phnôm Pênh thất thủ và được gửi đến làng Tangkok (tỉnh Kampong Cham) để bảo vệ cộng đoàn. Ngài sống tại đó một thời gian với một số Kitô hữu và gia đình, trong đó có người chị Pracot - người sống sót và là nhân chứng quan trọng - cùng em trai Salem (cũng là linh mục) và cha Chamroeun.
Sau đó, Ðức cha Salas tự nguyện đi lao động cưỡng bức với hy vọng có thể gặp lại các tín hữu tản mác. Kiệt sức, ngài qua đời năm 1977 vì đói khổ và bệnh tật trong một ngôi chùa được dùng làm bệnh viện.
Người chị kể lại rằng các thánh lễ được cử hành bí mật trong túp lều tranh, dùng giường làm bàn thờ, trong khi bên ngoài các Kitô hữu giả vờ làm ruộng để cảnh báo khi Khmer Ðỏ đến gần. Thánh giá đeo ngực của Ðức cha Salas, được mẹ cất giữ trong chuồng gà, sau đó được trao lại năm 2001 cho Ðức cha Emile Detombes và trở thành dấu tích quý giá của Giáo hội Campuchia.
Ba năm trước khi Phnôm Pênh sụp đổ, năm 1972, cha Pierre Rapin - nhà truyền giáo người Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris - đã bị sát hại tại làng Kdol Leu. Từ năm 1970, khu vực của ngài đã nằm dưới sự kiểm soát của Khmer Ðỏ. Dù biết nguy hiểm, ngài vẫn ở lại và viết: "Các Kitô hữu xin tôi ở lại, xin vâng theo ý Chúa".
Ðêm 23 rạng 24 tháng Hai năm 1972, ngài bị thương do chất nổ gài vào nhà. Dù không nguy kịch, Khmer Ðỏ vẫn ép đưa ngài đi và hôm sau trả lại thi thể. Trước đó, khi bị thương, cha nói: "Nếu những người muốn giết tôi bị bắt, hãy tha thứ cho họ, đừng làm hại họ. Trả thù không ích gì. Hãy tin vào Thiên Chúa".
Tiểu sử bốn giáo dân
Tiểu sử của bốn giáo dân tuy khó tái dựng hơn nhưng không kém phần ý nghĩa. Cha Vincent Chrétienne, nhà truyền giáo MEP và là Chủ tịch Ủy ban lịch sử của án phong chân phước, kể lại:
- "Joseph Ros En là giảng viên đại học tại Phnôm Pênh. Ông bị giết vì bị tố cáo vừa là trí thức vừa là Kitô hữu. Khi bị thẩm vấn, ông xác nhận: "Ðúng, tôi là Kitô hữu". Vì thế, chúng tôi gần như chắc chắn ông bị giết vì đức tin".
- "Joseph Thong là một giáo lý viên; Joseph Som Kinsan là một quân nhân bị bắt ngay sau ngày 17 tháng Tư năm 1975 - ngày Khmer Ðỏ chiếm Phnom Penh. Ðặc biệt là Pierre Chhum Somchay: ông có mười hai người con, tất cả đều bị giết trong các cuộc thảm sát. Tuy vậy, ông vẫn giữ một cuốn sổ nhỏ ghi lời cầu nguyện cho từng người con. Cuối cùng, năm 1977, ông cũng bị giết, khi Khmer Ðỏ phát hiện ông là Kitô hữu".
(Asia News 18-3-2026)