Các bài suy niệm của Ðức Cha Erik Varden
trong cuộc tĩnh tâm Mùa Chay
của Ðức Lêô XIV và giáo triều
Các bài suy niệm của Ðức Cha Erik Varden trong cuộc tĩnh tâm Mùa Chay của Ðức Lêô XIV và giáo triều.
Vũ Văn An chuyển dịch Việt ngữ
Roma (VietCatholic News 24-02-2026) - Năm 2026, vị giảng thuyết trong cuộc tĩnh tâm Mùa Chay của Ðức Giáo Hoàng Lêô XIV và Giáo triều Roma không do vị giảng thuyết của Phủ Giáo Hoàng đảm trách, mà người được mời đảm nhận là Ðức Cha Erik Varden OCSO. Ngài vốn là một nhà văn, một đan sĩ dòng Trappist và hiện là giám mục của giáo phận Trondheim, Na Uy.
Ðức Cha Varden có nhã ý đăng tải bản tóm tắt các bài giảng của ngài trên trang mạng https://coramfratribus.com/life-illumined của ngài. Chúng tôi xin chuyển ngữ các bài tóm tắt từ đầu cho tới hôm nay:
1. Bước vào Mùa Chay
(22 tháng 2 năm 2026)
Từ bài thuyết giảng đầu tiên của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Mùa Chay đặt chúng ta đối diện với những điều thiết yếu. Nó đưa chúng ta, cả về vật chất lẫn biểu tượng, vào một không gian loại bỏ những thứ dư thừa. Những thứ dễ làm chúng ta xao nhãng, ngay cả những thứ tự chúng lành mạnh, cũng được loại bỏ trong một thời gian. Chúng ta đón nhận sự kiêng khem các giác quan.
Trung thành với gương mẫu và các điều răn của Chúa Kitô là dấu ấn của sự chân thành Kitô giáo. Mức độ bình an mà chúng ta thể hiện - thứ bình an mang tính biểu tượng "mà thế gian không thể ban cho" - cho thấy sự hiện diện thường hằng của Chúa Giêsu trong chúng ta. Chúng ta phải nhấn mạnh điều này ngay bây giờ, khi Tin Mừng đôi khi được sử dụng như một vũ khí trong các cuộc chiến tranh văn hóa.
Việc lạm dụng ngôn ngữ và dấu hiệu Kitô giáo cần phải được thách thức, không chỉ bằng sự phẫn nộ yếu ớt, mà bằng cách dạy các điều khoản của cuộc chiến tranh tâm linh đích thực. Bởi vì bình an Kitô giáo không phải là lời hứa về sự dễ dàng; đó là điều kiện cho một xã hội được biến đổi.
Ðây là thời điểm thích hợp để khẳng định tính triệt để của "hòa bình" Kitô giáo trong khi chúng ta nhắc nhở bản thân và người khác về chân lý trong lời của Thánh Gioan Climacus: "Không có trở ngại nào lớn hơn sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong chúng ta hơn là sự giận dữ."
Giáo Hội thấm nhiễm chương trình Mùa Chay của chúng ta bằng sự bình an. Giáo Hội không hề làm giảm đi lời kêu gọi chiến đấu chống lại các thói xấu và những đam mê có hại - ngôn ngữ của Giáo Hội là "Có, có", "Không, không", chứ không phải "đôi khi thế này", "đôi khi thế kia".
Thay vào đó, khi chúng ta bắt đầu cuộc chiến Mùa Chay, Giáo Hội ban cho chúng ta một giai điệu bình yên như một bản nhạc nền cho mùa này: một bản nhạc tuyệt đẹp mà, trong hơn một nghìn năm, Giáo Hội đã hát vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay, để giới thiệu câu chuyện về sự cám dỗ của Chúa Kitô trong hoang địa.
Bản nhạc này phổ nhạc cho văn bản của Thánh vịnh 90 (91), Qui habitat (Người nào ở trong sự giúp đỡ của Ðấng Tối Cao). Tác phẩm chú giải giai điệu này xứng đáng được chú ý. Nó không chỉ là một di tích của thẩm mỹ cổ đại. Nó mang một thông điệp quan trọng.
Thánh Bernard xứ Clairvaux đã chú ý đến thông điệp này. Trong Mùa Chay năm 1139, ngài đã giảng một chuỗi 17 bài giảng về Qui habitat, suy gẫm về ý nghĩa của việc sống bằng ân sủng khi chúng ta chống lại cái ác, vun đắp điều thiện, giữ vững chân lý và đi theo con đường xuất hành từ mất tự do đến vùng đất hứa, không nghiêng về bên phải cũng không nghiêng về bên trái, giữ vững sự bình an, ý thức rằng bên dưới những gì đôi khi đối với chúng ta có vẻ như là một cuộc đi trên dây thăng bằng 'là vòng tay vĩnh cửu'.
Ngài kêu gọi chúng ta trở thành môn đệ yêu thương và sáng suốt.
2. Bernard người theo chủ nghĩa lý tưởng
(23 tháng 2 năm 2026)
Từ bài giảng thứ hai của Khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Thánh Bernard là người như thế nào? Ngài đến từ đâu? Ngài nổi bật hơn hẳn phong trào Xi-tô thế kỷ thứ mười hai: đó là sức hút và sự cần cù của ngài.
Nhiều người, kể cả một số người đáng lẽ phải hiểu rõ hơn, cho rằng ngài là người khởi xướng dòng tu. Tất nhiên, ngài không phải vậy; mặc dù ngài đã gây được tiếng vang lớn khi xuất hiện vào năm 1113, ở tuổi 23, cùng với một nhóm ba mươi người bạn đồng hành.
Ðan viện mà ngài gia nhập, Xi-tô (Caeteaux), là một dự án vừa mang tính đổi mới vừa mang tính cải cách. Những người sáng lập, những người đã thành lập nó vào năm 1098, gọi đan viện của họ là novum monasterium (Tân đan viện). Họ đang làm điều gì đó mới mẻ, không chủ yếu phản ứng lại bất cứ điều gì, điều này cũng tốt thôi, vì các dự án phản động sớm muộn gì cũng sẽ thất bại.
Nhìn bề ngoài, dự án của dòng Xitô có vẻ bảo thủ. Tuy nhiên, những người tiên phong của nó đã đưa ra những điều mới lạ. Sự đối thoại này đã mang lại kết quả tốt đẹp.
Sự tự tin của Bernard vào phán đoán của chính mình có thể khiến ngài linh hoạt trong việc tuân thủ các thủ tục thông thường mà ngài tuyên bố ủng hộ. Quan điểm của ngài về nhu cầu của Giáo hội đôi khi khiến ngài phải áp dụng những lập trường cứng ngắc, dẫn đến sự bè phái gay gắt.
Nhưng ngài không phải là kẻ đạo đức giả.
Ngài là một người thực sự khiêm nhường, hoàn toàn hiến dâng cho Chúa, có khả năng thể hiện lòng tốt dịu dàng, một người bạn vững chắc - thực sự, có thể kết bạn với những kẻ thù cũ - và là một nhân chứng thuyết phục về tình yêu của Chúa. Ngài đã và vẫn luôn là một người cuốn hút.
Dom James Fox, vị viện phụ đầy tham vọng của tu viện Gethsemani từ năm 1948 đến 1967, từng viết trong sự bực bội về người đồng tu Thomas Merton của mình: "Ðầu óc ông ấy thật quá điện giật!" Merton làm Fox khó chịu với những ý tưởng, trực giác và sự khăng khăng của mình. Tuy nhiên, Fox biết ông là người chân thành. Ngài tôn trọng ông, thích bầu bạn với ông (khi họ không đang ở trong một cuộc tranh cãi nảy lửa), và đã đến gặp Merton để xưng tội trong phần lớn thời gian làm viện phụ của mình.
Thật ngớ ngẩn khi so sánh Thomas Merton với Bernard xứ Clairvaux, tuy nhiên giữa họ có sự tương đồng về tính khí. Mặc dù Bernard chưa bao giờ biết về điện, nhưng bản chất của ngài là một thứ thủy ngân chứa đựng và phải cân bằng những căng thẳng to lớn.
Giáo lý của Bernard về sự hoán cải được sinh ra từ một nền văn hóa Kinh Thánh không gì sánh bằng và từ những quan niệm thần học được suy gẫm kỹ lưỡng. Ðiều đó cũng bắt nguồn, và ngày càng rõ rệt hơn theo thời gian, từ những đấu tranh cá nhân khi ngài học cách không coi con đường mình đang đi luôn là đúng đắn, được dạy dỗ bởi kinh nghiệm, những tổn thương và những sự khiêu khích, khiến ngài phải xem xét lại sự tự cho mình là đúng và kinh ngạc trước công lý đầy lòng thương xót của Chúa.
Bernard là một người bạn đồng hành tốt, khôn ngoan cho bất cứ ai bắt đầu cuộc hành trình Mùa Chay từ bỏ sự ích kỷ và kiêu ngạo, mong muốn theo đuổi sự chân thật với đôi mắt hướng về tình yêu soi sáng tất cả của Chúa.
3. Sự giúp đỡ của Thiên Chúa
(23 tháng 2 năm 2026)
Từ buổi hội thảo thứ ba của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Mary Ward, nhà giáo dục Kitô giáo vĩ đại của thế kỷ 17, thường nói với các nữ tu của mình: 'Hãy làm hết sức mình và Thiên Chúa sẽ giúp đỡ'.
Ý niệm cho rằng Thiên Chúa có thể và sẽ giúp đỡ chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn là một tiên đề trong đức tin Kinh Thánh. Nó phân biệt Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Jacob, Thiên Chúa được thể hiện bằng xương bằng thịt đầy lòng thương xót trong Chúa Giêsu Kitô, với Ðấng Vô Di Ðộng trong triết học.
Thánh vịnh 90 (91) bắt đầu bằng câu: 'Người nào ở trong sự giúp đỡ của Ðấng Tối Cao'. Bernard nói rằng sự giúp đỡ của Thiên Chúa thực sự có thể được gọi là một nơi cư ngụ bởi vì nó tạo thành một thực tại nâng đỡ mà trong đó chúng ta có thể sống, di chuyển và hiện hữu. Sự giúp đỡ của Thiên Chúa không phải là điều thỉnh thoảng mới có; đó không phải là dịch vụ khẩn cấp mà chúng ta gọi đến thỉnh thoảng, khi nhà cửa cháy hoặc ai đó bị xe tông, giống như cách chúng ta gọi 999.
Nhưng còn những lúc những người kính sợ Chúa kêu cầu lên trời nhưng không nhận được phản hồi nào rõ rệt, chỉ nghe thấy tiếng vọng cô đơn của chính giọng nói mình thì sao?
Kiểu người trong Kinh Thánh có hoàn cảnh như vậy là Gióp, cuốn sách hùng vĩ của ông có thể được tiếp cận như một bản giao hưởng ba chương, từ một lời than thở sâu xa, qua sự trình bày về mối đe dọa, đến một trải nghiệm hoàn toàn bất ngờ về ân sủng.
Gióp từ chối chấp nhận những lời biện minh của bạn bè mình. Ông từ chối cho rằng Chúa chỉ đang tính toán các con số trong cuộc đời ông như thể đó là một bảng cân đối kế toán. Không được giúp đỡ, ông quyết tâm tìm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau khổ của mình, anh dũng kêu lên: "Nếu không phải là Người, thì là ai?"
Là những người tin Chúa, ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể coi tôn giáo của mình như một chính sách bảo hiểm. Chắc chắn rằng mình sẽ tồn tại nhờ sự giúp đỡ của Thiên Chúa, chúng ta có thể nghĩ rằng mình đã thoát khỏi nguy hiểm. Một thế giới dường như có thể sụp đổ nếu - khi - tai họa ập đến. Làm sao tôi đối mặt với những thử thách khiến hàng rào bảo vệ được tôi cẩn thận xây dựng và thiết kế riêng sụp đổ? Mối quan hệ của tôi với Thiên Chúa có phải là một sự trao đổi, khiến tôi, khi gặp khó khăn, nghe theo lời khuyên của người vợ cứng đầu của Gióp là "nguyền rủa Chúa và chết đi"? Hay tôi sống ở chiều sâu hơn?
Thiên Chúa có thể cho phép một thế giới mới xuất hiện sau khi Người đã phá bỏ những bức tường mà chúng ta tưởng là thế giới, những bức tường mà thực chất chúng ta đã bị ngột ngạt bên trong.
Sống trong sự giúp đỡ của Thiên Chúa như Thánh Bernard muốn chúng ta làm không phải là bán sự an toàn. Ðó là vượt qua Than Khóc và Mối Ðe Dọa để sống một cách ân cần ở một bình diện sâu sắc hơn.
4. Trở Nên Tự Do
(24 tháng 2 năm 2026)
Từ bài giảng thứ tư của Khóa Tĩnh Tâm Mùa Chay tuần này.
Khái niệm "tự do" đã trở nên gây tranh cãi trong diễn ngôn công cộng. Tự do là một điều tốt đẹp mà tất cả chúng ta đều khao khát; chúng ta nổi dậy chống lại bất cứ điều gì đe dọa đến việc hạn chế hoặc giam hãm tự do của chúng ta. Kết quả là, từ vựng về tự do là một công cụ hùng biện hữu hiệu.
Những lời ám chỉ rằng tự do của một nhóm cụ thể đang bị đe dọa sẽ ngay lập tức gây ra phản ứng phẫn nộ trên internet. Nó thậm chí có thể tập hợp mọi người ra quảng trường.
Nhiều phong trào chính trị ở châu Âu hiện đang sử dụng ngôn từ về tự do. Căng thẳng nảy sinh. Ðiều mà một bộ phận xã hội coi là "giải phóng" lại bị những người khác coi là áp bức. Các mặt trận đối lập được dựng lên, với ngọn cờ "tự do" được giương cao ở tất cả các phía. Xung đột gay gắt nảy sinh từ những chương trình nghị sự không tương thích về sự giải phóng được cho là có thật.
Tình trạng này đặt ra một thách thức cho các Kitô hữu. Ðiều cần thiết là phải làm rõ ý nghĩa của chúng ta khi, trong bối cảnh đức tin, chúng ta nói về việc trở nên tự do. Ðó là điều mà Bernard đã làm khi ngài bình luận về câu thơ: "Vì Người đã giải thoát tôi khỏi bẫy của những kẻ săn đuổi và khỏi lời cay đắng."
Ðối với Bernard, rõ ràng là tự do đích thực không phải là "tự nhiên" đối với con người sa ngã. Ðiều dường như tự nhiên đối với chúng ta là muốn mọi thứ theo ý mình, thỏa mãn dục vọng và thực hiện kế hoạch mà không bị cản trở, phô trương và được ca ngợi vì tài năng xuất chúng của bản thân. Bernard, khi nói chuyện với con người trong trạng thái ảo tưởng này, đã mỉa mai một cách tinh tế: "Ngươi tự cho mình là gì vậy, đồ ngu dốt?! Ngươi đã trở thành con thú mà những kẻ bắt giữ giăng bẫy."
Sự kiện chúng ta dễ dàng vấp ngã, việc chúng ta cứ liên tục rơi vào những cái bẫy cũ rích, dù biết rõ chúng ở đâu, đối với ngài là bằng chứng đủ tốt cho thấy chúng ta không tự do, không thể tự mình tiến bộ vững chắc hướng tới mục tiêu thực sự của cuộc đời, thay vào đó lại bị vướng vào đủ loại trở ngại và xao nhãng.
Dựa trên sự hiểu biết về tự do trong cuốn Lời xin vâng của Con đối với ý muốn của Cha, Bernard đã tạo ra một cuộc cách mạng trong cách chúng ta hiểu về ý nghĩa của sự tự do. Tự do Kitô giáo không phải là chiếm đoạt thế giới bằng vũ lực; đó là về việc yêu thương thế giới bằng một tình yêu chịu đóng đinh, một tình yêu bao la đủ để khiến chúng ta tự nguyện, hiệp nhất với Chúa Kitô, hiến dâng cuộc đời mình cho nó, để nó được giải phóng.
Cần phải thận trọng khi tự do, bị giam cầm bằng vũ lực, bị thao túng như một phương tiện để hợp thức hóa những hành động của các chủ thể vô hình như 'Ðảng', 'Nền kinh tế', hay thậm chí là 'Lịch sử'. Theo cách tư duy Kitô giáo, không một chính sách áp bức nào có thể được cứu chuộc bằng những lời kêu gọi về 'tự do' ý thức hệ. Tự do có ý nghĩa duy nhất là tự do bản thân; và tự do của một người không thể xóa bỏ tự do của người khác.
Ðặt mua ý niệm Kitô giáo về tự do là chấp nhận đau đớn. Khi Chúa Kitô nói với chúng ta: 'Ðừng chống lại điều ác', Người không yêu cầu chúng ta dung túng cho sự bất công. Người cho chúng ta thấy rằng đôi khi, chính nghĩa được phục vụ tốt nhất bằng cách chịu đựng vì nó, từ chối dùng bạo lực để đáp trả bạo lực.
Biểu tượng của tự do vẫn là Con Thiên Chúa, Ðấng đã 'tự hạ mình'.
5. Sự huy hoàng của chân lý
(24 tháng 2 năm 2026)
Từ bài giảng thứ năm của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Bernard tiếp tục nhắc nhở chúng ta. Ngài nói: 'Tôi muốn cảnh báo các bạn: không ai sống trên đất mà không bị cám dỗ; nếu ai đó được giải thoát khỏi một cám dỗ, chắc chắn người đó sẽ phải đối diện với một cám dỗ khác'. Chúng ta phải nuôi dưỡng sự cân bằng đúng đắn giữa niềm tin vào sự giúp đỡ của Thiên Chúa và sự nghi ngờ về sự yếu đuối của chính mình, sợ hãi những cám dỗ trong khi chấp nhận tính tất yếu của chúng, nhớ rằng Thiên Chúa để chúng ta chịu đựng chúng vì chúng hữu ích.
Hữu ích theo nghĩa nào?
Khi chúng ta chống lại những mũi tên do Cha của sự dối trá bắn ra, cam kết của chúng ta đối với chân lý sẽ được củng cố. Chúng ta sẽ đủ sức mạnh, khi đã từ bỏ sự dối trá làm suy yếu, để củng cố anh em mình.
Tham vọng là một hình thức đầu hàng đặc biệt trước sự dối trá. Tham vọng là một hình thức tham lam được thăng hoa một cách không mấy tinh tế. Khi mô tả nó, Bernard, người luôn hùng biện, đã vượt qua chính mình. Ngài nói rằng tham vọng là 'một căn bệnh tinh vi, một loại virus bí mật, một loại sâu bệnh huyền bí, một kẻ chủ mưu lừa dối; nó là mẹ đẻ của sự giả tạo, là cha mẹ của sự đố kỵ, là nguồn gốc của các thói xấu; nó là chất xúc tác cho tội ác, khiến các đức tính bị gỉ sét, sự thánh thiện bị mục nát, trái tim bị mù quáng. Nó biến các phương thuốc thành bệnh tật. Từ y học, nó rút ra sự thờ ơ'. Tham vọng bắt nguồn từ 'sự tha hóa của tâm trí'. Ðó là một sự điên rồ xuất hiện khi sự thật bị lãng quên. Thực tế là tham vọng là một hình thức điên rồ khiến nó trở nên lố bịch trong bất cứ trường hợp nào, nhưng đặc biệt là khi nó xảy ra ở những người tận tâm phục vụ vô tư.
Không phải ngẫu nhiên mà hình tượng vị giáo sĩ đầy tham vọng lại ám ảnh văn học và điện ảnh như một mô típ hài hước, nhưng không mấy vui nhộn - từ những vị linh mục nịnh hót trong tác phẩm của Jane Austen đến vị linh mục triều thần chua ngoa trong bộ phim nổi tiếng Ridicule của Patrice Leconte.
"Chân lý là gì?"
Người ta thời nay đặt câu hỏi này một cách chân thành, thường với thiện chí đáng kể, bất chấp sự bối rối, sợ hãi và vội vã mà họ luôn phải đối diện. Chúng ta không thể để câu hỏi này không được trả lời. Chúng ta không có năng lượng để lãng phí vào những cám dỗ ngớ ngẩn của nỗi sợ hãi, sự kiêu ngạo và tham vọng. Chúng ta cần những nguồn lực tốt nhất của mình để bảo vệ chân lý thiết yếu, quan trọng, giải phóng khỏi những thứ thay thế ít nhiều có vẻ hợp lý, ít nhiều mang tính chất quỷ quyệt.
Trong hoàn cảnh đầy cơ hội của chúng ta, điều bắt buộc là phải nhìn nhận và diễn đạt thế giới dưới ánh sáng của Chúa Kitô. Chúa Kitô, Ðấng là chân lý, không chỉ che chở chúng ta; Người còn đổi mới chúng ta, nóng lòng muốn tỏ bày chính mình qua chúng ta cho một tạo vật ngày càng nhận thức được sự phù phiếm của mình. Thật dễ bị cám dỗ khi nghĩ rằng chúng ta phải chạy theo mốt của thế giới. Tôi cho rằng đó là một việc làm đáng ngờ. Giáo hội, một tổ chức vận động chậm chạp, sẽ luôn có nguy cơ trông và nghe có vẻ lỗi thời. Nhưng nếu Giáo hội nói tốt ngôn ngữ của chính mình, ngôn ngữ của Kinh Thánh và phụng vụ, của các bậc cha, mẹ, nhà thơ và thánh nhân trong quá khứ và hiện tại, thì Giáo hội sẽ trở nên độc đáo và tươi mới, sẵn sàng diễn đạt những chân lý cổ xưa theo những cách thức mới, có cơ hội, như đã từng làm trước đây, định hướng văn hóa.
Công việc này có một chiều kích trí thức quan trọng. Nó cũng có một chiều kích hiện sinh. Như Hồng Y Schuster đã nói trên giường bệnh: "Dường như mọi người không còn để mình bị thuyết phục bởi lời rao giảng của chúng ta nữa, nhưng trước sự hiện diện của sự thánh thiện, họ vẫn tin, họ vẫn quỳ xuống và cầu nguyện."
Chẳng phải lời kêu gọi phổ quát về sự thánh thiện, lời kêu gọi, tức là, thể hiện chân lý, là nốt nhạc mạnh mẽ nhất được Công đồng Vatican II vang lên sao? Nó đã vang vọng rực rỡ như tiếng chiêng trong suốt các cuộc thảo luận của Công đồng. Lời khẳng định về chân lý của Kitô giáo trở nên thuyết phục hơn khi vẻ huy hoàng của nó được thể hiện rõ ràng qua tình yêu hy sinh trong sự thánh thiện, được thanh tẩy khỏi những cám dỗ của sự tạm thời.
6. Sự Sa Ngã Của Hàng Ngàn Người
(25 tháng 2 năm 2026)
Từ bài giảng thứ sáu của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Những lần sa ngã có thể khiến chúng ta khiêm nhường khi ta kiêu ngạo, cho thấy quyền năng cứu rỗi của Thiên Chúa. Chúng có thể trở thành những cột mốc trên hành trình cứu rỗi bản thân, để được nhớ đến với lòng biết ơn.
Tuy nhiên, chúng ta không thể cả tin. Không phải mọi lần sa ngã đều kết thúc trong sự hân hoan. Có những lần sa ngã bốc mùi địa ngục, mang đến sự hủy diệt cho kẻ có tội và để lại sự tàn phá phía sau. Hậu quả đó thường rộng lớn và kéo dài, cuốn theo nhiều người vô tội. Chúng ta sẽ cần sự can đảm để tiếp cận, cùng với Thánh Bernard, câu Thánh vịnh 90 (91) bắt đầu bằng: 'Một ngàn người sẽ ngã bên cạnh ngươi, mười ngàn người ngã bên tay phải ngươi.'
Không có điều gì gây ra cho Giáo Hội nhiều tổn hại bi thảm hơn, và làm tổn hại đến chứng từ của chúng ta hơn, hơn là sự tham nhũng nảy sinh trong chính ngôi nhà của chúng ta. Cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của Giáo Hội không phải do sự phản đối của thế tục gây ra, mà là do sự sai quấy chạy vạy trong giáo hội. Những vết thương gây ra sẽ cần thời gian để lành lại. Chúng kêu gọi công lý và nước mắt.
Khi đối diện với đồi trụy, đặc biệt là khi đối diện với lạm dụng, người ta thường có xu hướng tìm kiếm gốc rễ của vấn nạn. Chúng ta kỳ vọng tìm thấy những dấu hiệu cảnh báo sớm đã bị bỏ qua: một số thất bại trong quá trình sàng lọc, một mô hình lệch lạc ban đầu. Ðôi khi những dấu vết này hiện hữu và chúng ta có quyền tự trách mình vì đã không phát hiện ra chúng kịp thời. Tuy nhiên, chúng ta không phải lúc nào cũng tìm thấy chúng.
Chúng ta có thể nhận ra những điều tốt đẹp và vui vẻ thường được thể hiện trong giai đoạn đầu của các cộng đồng hiện đang gắn liền với tai tiếng. Chúng ta không thể cho rằng ngay từ đầu đã có sự đạo đức giả về mặt cấu trúc, rằng những người sáng lập đã đặt ra mục tiêu như những nấm mồ được quét vôi trắng. Ðôi khi chúng ta tìm thấy những dấu hiệu của sự truyền cảm hứng, thậm chí là dấu vết của sự thánh thiện. Làm thế nào chúng ta có thể đồng thời giải thích những điều này và những diễn biến sai lệch?
Một tư duy thế tục sẽ đơn giản hóa: khi gặp tai họa, nó nêu danh những con quái vật và nạn nhân.
May mắn thay, Giáo hội, khi nhớ sử dụng chúng, sở hữu những công cụ tinh tế và hữu hiệu hơn.
Thánh Bernard nhắc nhở chúng ta rằng ở nơi con người theo đuổi những nỗ lực cao cả, các cuộc tấn công của kẻ thù sẽ rất dữ dội. Ngài nhận xét rằng "những người tâm linh trong Giáo hội bị tấn công khủng khiếp hơn nhiều so với những người xác thịt". Ngài cho rằng đây là điều mà Thánh vịnh Qui habitat muốn truyền tải với ngôn ngữ "trái" và "phải": bên trái tượng trưng cho bản chất xác thịt của chúng ta, bên phải tượng trưng cho bản chất tâm linh. Thương vong nhiều hơn ở bên phải vì đó là nơi, trên chiến trường tâm linh, những vũ khí nguy hiểm nhất được sử dụng.
Mặc dù ngài coi trọng thế giới ma quỷ, điều này không có nghĩa là ngài quy mọi bệnh tật tâm linh cho những kẻ ác có sừng và chĩa ba. Ngài cho rằng nam giới và nữ giới phải chịu trách nhiệm về cách họ sử dụng sự tự do tối cao của mình. Quan điểm của ngài là bản chất con người là một. Nếu chúng ta bắt đầu đi sâu vào bản chất tâm linh của mình, những chiều sâu khác sẽ tất yếu được phơi bày. Chúng ta sẽ phải đối diện với sự đói khát hiện sinh, sự dễ bị tổn thương, một khao khát được an ủi. Những trải nghiệm như vậy có thể phát sinh thông qua sự tấn công.
Sự tiến bộ trong đời sống tâm linh đòi hỏi sự cấu hình lại bản thân về thể chất và tình cảm phù hợp với sự trưởng thành chiêm niệm, nếu không sẽ có nguy cơ là sự phơi bày tâm linh sẽ tìm kiếm sự xả láng (release) về thể chất hoặc tình cảm; và những điển hình xả láng như vậy được hợp lý hóa như thể chúng, bằng cách nào đó, tự bản thân "thuộc về tâm linh", được nâng cao hơn những hành vi sai trái của người phàm trần. Sự chính trực của một bậc thầy tâm linh sẽ được chứng thực qua lời nói của ngài, nhưng không chỉ vậy; nó còn được thể hiện qua thói quen trực tuyến, cách cư xử của ngài trên bàn ăn hay ở quán bar, sự tự do của ngài đối với sự tán dương của người khác.
Ðời sống tâm linh không phải là phần phụ thuộc vào phần còn lại của hiện sinh. Nó chính là linh hồn của nó. Chúng ta phải cảnh giác với mọi tính nhị nguyên, luôn nhớ rằng Ngôi Lời đã trở thành xác thịt để xác thịt chúng ta được thấm nhuần Ngôi Lời. Chúng ta phải luôn để ý cả bên trái lẫn bên phải, đồng thời cẩn thận, như Bernard nhấn mạnh, không được nhầm lẫn bên trái với bên phải hoặc bên phải với bên trái. Chúng ta phải học cách thoải mái như nhau trong bản chất xác thịt và tâm linh của mình để Chúa Kitô, Thầy của chúng ta, có thể cai trị một cách hòa bình trong cả hai.
7. Vinh quang
(25 tháng 2 năm 2026)
Từ bài giảng thứ bảy của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Khi Chúa Giêsu giải thích rõ ý nghĩa của việc ở lại với Người, để bước vào Nước Trời mà Người đang chỉ tới, "nhiều môn đệ của Người đã rút lui và không còn đi theo Người nữa". Họ không chịu đựng được những bài giảng của Người về tính hiện thực của các bí tích, tính bất khả phân ly của hôn nhân, sự cần thiết của Thập giá. Khi Chúa Kitô bị đóng đinh trên đồi Can-vê, nhóm môn đệ đã cùng Người đi sáu ngày trước đó đã không còn nữa. Chỉ còn lại hai người theo Người: Mẹ Người và Gioan, môn đệ được yêu mến. Gioan đã mô tả một cách rõ ràng về sự khiêm nhường của Chúa Giêsu. Nó diễn ra ở hai bình diện: tình yêu thương xót thần linh bị nghiền nát trong cối ép rượu của Thập giá; và sự phản bội lòng trung thành của con người. Tuy nhiên, Gioan khẳng định rằng cảnh tượng bị bỏ rơi này biểu lộ vinh quang của Chúa Kitô.
Theo Thánh Bernard, "Sự tôn vinh xảy ra trước sự hiện diện của dung nhan Thiên Chúa" khi, sau khi kết thúc cuộc hành trình trần gian, cuối cùng chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng điều gì trong cuộc sống này. Cuộc sống mà chúng ta đã vững lòng hy vọng, đặt niềm tin vào danh Chúa Giêsu. 'Spes in nomine, res in facie est'. Không có cách nào diễn đạt công thức ngắn gọn này ngoại trừ bằng cách diễn đạt dài dòng: 'Niềm hy vọng của chúng ta ở trong danh Chúa; thực tại mà chúng ta hy vọng sẽ được tỏ bày ra trước mặt.'
Tuy nhiên, một 'vinh quang ẩn giấu' vẫn có thể cảm nhận được ngay cả bây giờ. Thánh Augustinô thích nói rằng chúng ta mang hình ảnh vinh quang trong một 'hình thức mờ ảo'. Một khi chúng ta đã trải qua cuộc sống này, hình thức đó sẽ tự bộc lộ rõ ràng và 'rực rỡ'. Nó sẽ có khả năng đứng trước mặt Thiên Chúa. Bất cứ sự biến dạng nào do tự do bị lạm dụng sẽ được cải tạo lại, để hình thức đó xuất hiện trong vẻ đẹp vốn có của nó: như 'forma formosa' [hình thức đẹp đẽ].
Thánh Augustinô, vừa nhân bản sâu xa vừa sắc sảo nhậy bén, nhấn mạnh rằng vinh quang của hình ảnh không bao giờ có thể bị mất đi; nó được in dấu trong hữu thể của chúng ta. Tuy nhiên, nó có thể bị chôn vùi dưới những lớp bóng tối tích tụ, và những lớp bóng tối đó cần phải được loại bỏ.
Giáo Hội nhắc nhở nữ giới và nam giới về vinh quang tiềm ẩn trong họ. Giáo Hội cho chúng ta thấy rằng sự tầm thường và tuyệt vọng hiện tại, nhất là nỗi tuyệt vọng của tôi trước những thất bại dai dẳng, không nhất thiết phải là kết thúc; rằng kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta vô cùng tốt đẹp; và rằng Thiên Chúa, qua Mình Thánh Chúa Kitô, sẽ ban cho chúng ta ân sủng và sức mạnh, nếu chúng ta cầu xin.
Giáo Hội biểu lộ sự rạng rỡ của "vinh quang tiềm ẩn" nơi các thánh của mình. Họ là bằng chứng cho thấy ngay cả bệnh tật và sự suy thoái cũng có thể là phương tiện mà Chúa quan phòng sử dụng để thực hiện một mục đích vinh hiển, ban sức mạnh cho người yếu đuối và làm cho họ rạng rỡ. Giáo Hội truyền tải "vinh quang tiềm ẩn" trong các bí tích của mình. Bất cứ người Công Giáo nào cũng biết ánh sáng nào có thể bùng lên trong phòng xưng tội, trong nghi thức xức dầu, trong lễ phong chức hoặc lễ cưới. Vinh quang nhất, và theo một số cách nào đó, kín đáo nhất, là vinh quang của Thánh Thể. Có vị linh mục nào, sau khi cử hành Thánh lễ, lại không cảm nhận được điều mà một nhạc sĩ vĩ đại từng nói về nhạc cụ trong việc truyền tải vẻ đẹp, sự chữa lành và chân lý rực rỡ: "cái chết thực sự sẽ không phải là một bi kịch: [vì] những điều tốt đẹp nhất nằm ở trung tâm cuộc sống con người đã được nhìn thấy và trải nghiệm", trái tim ông bừng cháy với sự kinh ngạc huy hoàng?
8. Thiên Thần của Chúa
(26 tháng 2 năm 2026)
Từ bài thuyết trình thứ tám của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Trong suốt 40 ngày Chúa Giê-su ở trong sa mạc, Sa-tan đến gặp Ngài, trích dẫn Thánh Vịnh 90 (91), cụ thể là hai câu về các thiên thần. "Ma quỷ", chúng ta đọc trong sách Mát-thêu, "đưa Người đến thành thánh và đặt Người trên đỉnh đền thờ". Nó thách thức Chúa Giê-su chứng tỏ mình là Con Thiên Chúa bằng cách gieo mình xuống, "vì có lời chép rằng: 'Người sẽ truyền dạy các thiên thần của Người liên quan đến ông' và 'Họ sẽ nâng ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá'".
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể mời gọi chúng ta nhảy từ đỉnh cao xuống. Tuy nhiên, lời kêu gọi của Người sẽ là, "Hãy nhảy vào vòng tay Ta", chứ không phải, "Hãy gieo mình xuống".
Sự can thiệp của các thiên thần không phải lúc nào cũng mang lại sự an tâm. Các thiên thần không ở đó để chiều theo những ý thích thất thường của chúng ta. Trong một lời cầu nguyện phổ biến có nguồn gốc từ Reginald xứ Canterbury, người cùng thời với Thánh Bernard, chúng ta cầu xin thiên thần hộ mệnh của mình "soi sáng, gìn giữ, cai quản và hướng dẫn" chúng ta. Ðây là những động từ rất mạnh mẽ. Thiên thần là người bảo vệ sự thánh thiện.
Ðời sống đan viện ban đầu được hiểu và quảng bá là mang tính chất thiên thần bởi vì mục đích cuối cùng của nó là ca ngợi; nhưng cũng bởi vì đan sĩ được kêu gọi bừng cháy với tình yêu của Thiên Chúa và trở thành sứ giả mang tình yêu đó đến cho người khác.
Bài ca ngợi duy nhất của Chúa Kitô, được đề cập trong một đoạn văn tuyệt đẹp trong Sacrosanctum Concilium, vang vọng từ tận cùng trái đất đến tận đỉnh trời thông qua một chuỗi trung gian rung động. Các thiên thần là thiết yếu đối với chuỗi đó, như chúng ta khẳng định trong phần cuối của mỗi lời tựa trong kinh nguyện Thánh lễ.
Thánh Bernard nhấn mạnh vai trò của các thiên thần như những người trung gian của sự quan phòng của Thiên Chúa. Sự trung gian không phải lúc nào cũng cần thiết. Chúa có thể chạm đến chúng ta một cách trực tiếp, nhưng Người vui thích để cho các tạo vật của Người trở thành những kênh ân sủng cho nhau. Ngài khuyên chúng ta hãy nhìn vào những gì một thiên thần làm và làm theo: 'Hãy hạ mình xuống và tỏ lòng thương xót với người lân cận; tiếp theo, trong một bước thứ hai, hãy để chính thiên thần đó nâng cao khát vọng của bạn, hãy dùng tất cả lòng nhiệt thành của tâm hồn để hướng tới chân lý cao cả và vĩnh cửu nhất'. Ngày nay, thần Cupid hiếm khi được nhắc đến cùng với 'chân lý cao cả và vĩnh cửu nhất'. Sự lựa chọn từ ngữ của Thánh Bernard rất đáng chú ý. Nó cho chúng ta biết rằng tất cả những khát vọng tự nhiên của con người, bao gồm cả những khát vọng được thể xác hóa, đều hướng đến sự viên mãn trong Thiên Chúa, vì vậy cần phải được hướng dẫn đến điều đó.
Hành động bác ái cuối cùng và quyết định nhất của các thiên thần sẽ xảy ra khi, vào giờ chết của chúng ta, các vị sẽ đưa chúng ta xuyên qua bức màn của thế giới này vào cõi vĩnh hằng. Khi đó, các vị sẽ thể hiện đặc tính của mình: 'Các vị không thể bị đánh bại hay quyến rũ, càng không thể quyến rũ người khác'. Mọi sự giả tạo sẽ sụp đổ vào giờ phút đó. Lời lẽ hoa mỹ sẽ thất bại. Chỉ có chân lý sẽ đứng vững và vang vọng, hòa hợp với lòng thương xót. Thánh Bernard đã thận trọng thuyết giảng về những điều này vào năm 1139. 726 năm sau, một người đàn ông có tính khí rất khác nhưng trí tuệ tương tự đã diễn đạt rõ ràng những trực giác của mình trong một bài thơ tuyệt vời về cái chết.
John Henry Newman đã suy nghĩ rất nhiều về các thiên thần. Ngài hình dung chức vụ của linh mục như là chức vụ của các thiên thần. Linh mục cảm thấy thoải mái trong thế giới này, không sợ hãi khi đi vào những khu rừng tối tăm để tìm kiếm những người lạc lối. Ðồng thời, ngài luôn hướng mắt tâm trí lên khuôn mặt của Chúa Cha, để ánh sáng của Người soi sáng toàn bộ thực tại hiện hữu. Sự soi sáng luôn là một quá trình kép: trí tuệ và thiết yếu, bí tích và sư phạm.
Newman, hiện là Tiến sĩ Giáo hội, mời gọi chúng ta khám phá lại người thầy, cũng như là người soi sáng mang tính thiên thần. Ðó là một thách thức mang tính tiên tri, khi mà phần lớn điều gọi là "giáo dục" hiện nay được giao phó cho các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, nhân tạo, trong khi giới trẻ khao khát gặp gỡ những người thầy đáng tin cậy, những người không chỉ truyền đạt kỹ năng mà còn cả đức khôn ngoan.
Một cuộc gặp gỡ với thiên thần luôn mang tính bản thân. Nó không thể được thay thế bằng một bản tải xuống [download] hoặc một chatbot.
9. Thánh Bernard - Người duy hiện thực
(26 tháng 2 năm 2026)
Từ bài thuyết trình thứ chín của khóa tĩnh tâm Mùa Chay tuần này.
Bản sắc của phong trào Xi-Tô được hình thành ở giao điểm giữa lý tưởng và hiện thực, giữa thi vị và thực dụng. Các nhân vật chính của nó được thử thách và thanh lọc bởi những căng thẳng phát sinh.
Tôi đã nói về những lý tưởng cao cả của Thánh Bernard, về việc ngài thích vạch ra một kế hoạch hành động trong tâm trí, rồi theo đuổi nó một cách có phần tàn nhẫn. Việc giữ vững lập trường đến với ngài một cách tự nhiên. Khía cạnh quyết liệt, cứng rắn này không bao giờ rời bỏ ngài. Nhưng nó đã được làm dịu đi theo thời gian. Về quá trình này, chúng ta cần phải nói đến. Nó đã biến người duy lý tưởng thành người duy hiện thực.
Nhà phân tâm học Jacques Lacan nói rằng 'điều thực' là điều mà chúng ta va chạm. Phạm vi nỗ lực của Thánh Bernard trong Realpolitik (chính trị hiện thực) đã tạo ra rất nhiều sự va chạm. Nhưng ngài trở thành người duy hiện thực không chỉ theo nghĩa chấp nhận mọi thứ như chúng vốn có. Trên hết, ngài đã học được rằng thực tại sâu sắc nhất của mọi vấn đề con người là tiếng kêu cầu lòng thương xót.
Càng nhận ra tiếng kêu than này trong lòng người, trong những giọt nước mắt cay đắng, trong những xung đột trần thế, trong những chiến dịch điên rồ chống lại sự đứng đắn và chân lý, và trong tiếng thì thầm của những tán cây trong rừng, ngài càng ý thức được sự đáp lại đầy ân sủng của Thiên Chúa. Ngài nghe thấy điều đó trong danh thánh của Chúa Giê-su, danh thánh đã trở nên vô cùng thân thương đối với ngài. Trong Chúa Giê-su, Thiên Chúa bày tỏ mục đích cứu rỗi của Người, tuôn đổ xuống nhân loại như dầu thơm, chữa lành và thanh tẩy.
Thánh Bernard nói với các đan sĩ của ngài: "Mọi thức ăn của tâm trí đều khô khan nếu không được nhúng vào dầu ấy; nó vô vị nếu không được nêm nếm bằng muối ấy. Hãy viết gì tùy thích, tôi sẽ không thích nếu nó không nói về Chúa Giê-su. Hãy nói chuyện hay tranh luận về điều gì tùy thích, tôi sẽ không thích nếu các bạn không nhắc đến tên Chúa Giê-su. Ðối với tôi, Chúa Giê-su như mật ong trong miệng, âm nhạc trong tai, bài ca trong tim."
Thánh Bernard biết những điều kỳ diệu mà lòng thương xót của Thiên Chúa trong Chúa Giê-su có thể làm được. Ðiều này đã mang lại cho lòng sùng kính của ngài chiều sâu tình cảm. Thuật ngữ "affectus" (cảm giới) là trọng tâm đối với ngài. Nó có phạm vi rộng, cho thấy ân sủng tác động đến chúng ta như những sinh vật có cảm giác. Nhưng Thánh Bernard coi Chúa Giê-su, hiện thân của chân lý, không kém phần là một nguyên tắc giải thích. Ngài kiên quyết nhìn nhận các tình huống, con người và các mối quan hệ dưới ánh sáng của Chúa Giê-su. Quan điểm này đã giúp ngài có được những người ngưỡng mộ vững chắc từ bên ngoài Giáo Hội Công Giáo, từ Martin Luther đến John Wesley.
Chỉ khi được soi sáng một cách siêu nhiên, bản chất của chúng ta mới bộc lộ hình dạng hoàn hảo của nó, hình dạng lý tưởng (forma formosa). Chỉ khi đó, niềm vui mà cuộc sống trần thế có thể mang lại mới hiện rõ. Chỉ khi đó, vinh quang ẩn giấu bên trong và xung quanh chúng ta mới tỏa sáng rực rỡ, dạy chúng ta và những người khác có thể trở thành gì, cung cấp một hình mẫu cho một thế giới được đổi mới.
Ðó là duy hiện thực mà hướng tới đó Thánh Bernard đã trưởng thành. Nó cho phép ngài trở thành không chỉ một nhà cải cách cao thượng, một nhà hùng biện vô song, một thủ lĩnh của Giáo hội. Kiến thức về thực tại tuyệt đối của tình yêu Chúa Kitô, và sức mạnh của nó để thay đổi mọi thứ, đã biến Bernard thành một tiến sĩ và một vị thánh. Và đó là lý do tại sao chúng ta yêu mến và tôn kính ngài.
Cuốn Vita Prima [Ðời sống Nhất hạng] cho chúng ta biết: "Ngài đã tự do với chính mình". Ðó là điều cuộc sống đã dạy ngài. Một người đàn ông hay đàn bà thực sự tự do thật đáng ngưỡng mộ.