Tông Huấn

Evangelii Gaudium - Niềm Vui Tin Mừng

Ðức Giáo Hoàng Phanxicô

 

(Lm. Inhaxiô Hồ Thông chuyển dịch Việt ngữ)

 

Dành Cho Các Giám Mục

Các Linh Mục Và Phó Tế

Những Người Ðược Thánh Hiến

Và Tất Cả Các Tín Hữu Giáo Dân

Về Việc Công Bố Tin Mừng

Trong Thế Giới Hôm Nay

 

Mở Ðầu

 

1. Niềm Vui Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giê-su. Những ai chấp nhận ân ban cứu độ của Người thì được thoát khỏi tội lỗi, nỗi buồn phiền, sự trống rỗng và nỗi cô độc nội tâm. Với Ðức Giê-su Ki-tô, niềm vui thường hằng tái sinh. Trong Tông Huấn này, tôi mong ước khuyến khích các Ki-tô hữu dấn thân vào một chương mới của công cuộc Phúc Âm Hóa được ghi dấu bằng một niềm vui, trong khi vạch ra những lộ trình cho cuộc hành trình của Giáo Hội trong những năm sắp tới.

 

I. Niềm Vui Mới Mãi, Niềm Vui Ðược Chia Sẻ

2. Thế giới ngày nay, một thế giới chỉ còn biết hưởng thụ, có nguy cơ rất lớn gây nên cảnh cô đơn và xao xuyến phát sinh từ một tâm hồn tự mãn và tham lam, từ cuộc hăm hở đuổi theo những thú vui phù phiếm và từ một lương tâm không còn nhạy bén nữa. Hễ khi nào đời sống nội tâm của chúng ta bị vướng mắc vào những tư lợi, thì không còn chỗ cho tha nhân nữa, không còn chỗ cho người nghèo. Người ta không còn nghe được tiếng Thiên Chúa, không còn cảm thấy tình yêu của Ngài, và lòng ước muốn làm điều thiện phai nhạt dần. Ðó cũng là mối nguy hiểm rất thực đối với các tín hữu. Nhiều người sa vào chước cám dỗ này để rồi biến mình thành những người bất mãn, giận dữ và thiên lệch. Ðó không là một cuộc sống xứng đáng và sung mãn, đó không là ước muốn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, đó cũng không là đời sống trong Chúa Thánh Thần tuôn chảy từ Thánh Tâm của Ðức Ki-tô Phục Sinh.

3. Tôi mời gọi hết mọi Ki-tô hữu, ở bất cứ nơi nào và ngay vào thời điểm này, đích thân gặp gỡ Chúa Giê-su Ki-tô thêm một lần nữa, hay ít ra mở rộng lòng mình để cho Người gặp gỡ mình; tôi xin tất cả anh chị em hãy bền tâm vững chí làm như vậy mỗi ngày. Xin đừng ai nghĩ rằng lời mời gọi này không có ý nghĩa gì đối với mình, bởi vì "không ai bị khai trừ khỏi niềm vui Chúa mang đến". [1] Chúa không để cho ai mạnh dạn đến với Người mà phải thất vọng cả, hễ khi nào chúng ta bước một bước đến với Chúa Giê-su, chúng ta nhận ra rằng Người luôn luôn ở đó rồi, mở rộng vòng tay chờ đón chúng ta. Ðây là giây phút để thân thưa với Ðức Giê-su: "Lạy Chúa, con đã để cho mình bị lừa dối; bằng muôn ngàn cách con đã lãng tránh tình yêu của Chúa, nhưng con ở đây một lần nữa để làm mới lại giao ước của con với Chúa. Con cần Chúa. Xin cứu con một lần nữa, Lạy Chúa, xin đón nhận con một lần nữa trong vòng tay cứu độ của Chúa". Thật tốt đẹp biết bao được trở lại với Chúa mỗi khi chúng ta lầm đường lạc lối! Tôi xin nhắc lại một lần nữa: Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta mà không hề biết chán, chính chúng ta mới cảm thấy chán khi cầu xin lòng thương xót của Ngài. Ðấng bảo chúng ta hãy tha thứ cho nhau đến "bảy mươi lần bảy" (Mt 18: 22) chính Người nêu gương cho chúng ta: Chúa tha thứ bảy mươi lần bảy. Hết lần này đến lần khác, Người vác chúng ta trên đôi vai êm ái của Ngài. Không ai có thể lấy đi khỏi chúng ta phẩm giá mà tình yêu vô hạn và bền vững này ban cho chúng ta. Với một tấm lòng trìu mến không bao giờ làm cho chúng ta thất vọng nhưng luôn luôn hoàn lại niềm vui cho chúng ta, Chúa cho phép chúng ta ngẩng cao đầu và bắt đầu lại. Chúng ta đừng chạy trốn sự Phục Sinh của Chúa Giê-su, chúng ta đừng bao giờ bỏ cuộc, điều gì đến rồi sẽ đến. Không có gì khơi nguồn hứng khởi ngoài sự sống của Người thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước!

4. Các sách Cựu Ước đã loan báo rằng niềm vui cứu độ sẽ tràn ngập vào thời Thiên Sai. Ngôn sứ I-sai-a hân hoan chào mừng Ðấng Thiên Sai mà muôn người đợi trông: "Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng" (Is 9: 2). Và ngôn sứ khuyến khích dân cư Xi-on đón mừng Người trong tiếng reo vui: "hãy reo hò mừng rỡ" (Is 12:6). Ngôn sứ bảo những kẻ đã nhìn thấy Người ở chân trời hãy loan tin vui cho những người khác: "Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh" (Is 40:9). Mọi loài thụ tạo được dự phần vào niềm vui cứu độ: "Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo, vì Ðức Chúa đã an ủi dân Người đã chọn và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người" (Is 49: 13).

Trông chờ Ngày của Chúa, Ngôn sứ Da-ca-ri-a kêu mời dân chúng tung hô Ðức Vua đang đến, "khiêm tốn, cỡi trên con lừa": "Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Ðấng Chính Trực, Ðấng Toàn Thắng" (Dr 9:9). Tuy nhiên, lời mời gọi gây phấn chấn nhất chắc hẳn là của ngôn sứ Xô-phô-ni-a, vị ngôn sứ này giới thiệu Thiên Chúa với dân Ngài trong bầu khí lễ hội tưng bừng niềm vui cứu độ. Ðọc lại bản văn này, tôi gặp thấy niềm phấn khởi tràn ngập cõi lòng: "Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Ðấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội" (3: 17).

Ðây là niềm vui mà chúng ta trải nghiệm hằng ngày giữa những điều nho nhỏ của cuộc sống, như một lời đáp trả trước lời mời gọi chan chứa yêu thương của Thiên Chúa là Cha chúng ta: "Con ơi, hãy làm cho đời con được tốt đẹp...Ðừng từ chối không hưởng một ngày vui" (Hc 14: 11, 14). Tình phụ tử chất chứa biết bao ân tình vang dội ở nơi những lời này!

5. Rạng ngời ánh vinh quang Thập Giá của Ðức Ki-tô, Tin Mừng thường hằng mời gọi chúng ta hãy vui lên. Xin đan cử vài thí dụ là đủ: "Mừng vui lên" là lời sứ thần chào Ðức Maria (x. Lc 1:28). Chuyến viếng thăm của Ðức Ma-ri-a đến nhà bà Ê-li-sa-bét khiến thánh Gioan nhảy mừng trong dạ mẹ (x. Lc 1:41). Trong Bài Ca Ngợi Khen, Ðức Ma-ri-a công bố: "Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi" (Lc 1: 47). Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người, thánh Gioan cất cao giọng: "Ðó là niềm vui của tôi, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn" (Ga 3: 29). Chính Chúa Giê-su "hớn hở vui mừng trong Thánh Thần" (Lc 10: 21). Sứ điệp của Người đem đến cho chúng ta niềm vui: "Thầy nói với anh em những điều này ngỏ hầu niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn" (Ga 15: 11). Niềm vui Ki-tô của chúng ta múc tận nguồn mạch tâm hồn ngập tràn niềm vui của Người. Người hứa với các môn đệ: "Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui" (Ga 16: 20). Ðoạn, Người nói tiếp: "Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được" (Ga 16: 22). Sau đó, các môn đệ "vui mừng" vì được thấy Chúa Ki-tô sống lại (Ga 20: 20). Trong sách Công Vụ Tông Ðồ, chúng ta đọc thấy những Ki-tô hữu tiên khởi "dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ" (Cv 2: 46). Các môn đệ này đi đến đâu "người ta rất vui mừng" đến đó (8: 8); và ngay cả giữa cảnh bách hại, họ "được tràn đầy hoan lạc" (13: 52). Một viên quan thái giám, vừa chịu phép rửa, tiếp tục cuộc hành trình, "lòng đầy hoan hỷ" (8: 39); viên cai ngục và cả nhà "vui mừng vì đã tin Thiên Chúa" (16: 34). Tại sao chúng ta cũng không hòa mình vào dòng thác tuôn tràn niềm vui này nhỉ?

6. Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Mùa Phục Sinh. Dĩ nhiên, tôi nhận ra rằng niềm vui không được diễn tả theo cùng một cung bậc ở mọi lúc trong cuộc đời, đặc biệt vào những thời điểm khốn đốn. Niềm vui thích nghi và biến đổi nhưng luôn tồn tại, thậm chí như một tia sáng phát sinh từ một sự chắc chắn của chính mình rằng, nói cho thật rốt ráo, Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô bờ bến. Tôi hiểu nỗi buồn phiền của những người phải chịu nhiều đau khổ, chúng ta phải để niềm vui đức tin hồi sinh tuy chầm chậm nhưng chắc chắn, như một niềm tín thác thầm lặng nhưng vững vàng, ngay cả giữa nỗi buồn phiền lớn lao nhất: "Hồn tôi hết được bình an thư thái, tôi đã quên mùi hạnh phúc rồi!...Ðây là điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế mà con vững dạ cậy trông: Lượng từ bi Ðức Chúa đâu đã cạn, lòng thương xót của Ngài mãi không vơi. Sáng nào Ngài cũng ban ân huệ mới. Lòng trung tín của Ngài cao cả biết bao!...Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Ðức Chúa, đó là một điều hay" (Ai Ca 3: 17, 21-23, 26).

7. Ðôi khi chúng ta bị cám dổ biện bạch và than trách, hành xử như thử chúng ta chỉ có thể hạnh phúc nếu như hàng ngàn điều kiện được giải quyết. Ở một mức độ nào đó, đây là vì "xã hội kỹ thuật của chúng ta đã gia tăng muôn vàn cơ hội lạc thú, nhưng rất khó phát sinh niềm vui". [2] Tôi có thể nói rằng những cách thế diễn tả niềm vui đẹp nhất và tự nhiên nhất mà tôi thấy trong đời tôi là ở nơi những người rất nghèo, họ có rất ít để bám víu vào. Tôi cũng nghĩ về niềm vui đích thực được biểu lộ ở nơi những người khác, những người, dù ở giữa những bổn phận nghề nghiệp cấp bách, đã có thể gìn giữ một tâm hồn đầy tin tưởng, trong tinh thần siêu thoát và lối sống giản dị. Theo cách thế riêng của mình, tất cả những mẫu người tràn đầy niềm vui này múc lấy từ nguồn tình yêu vô tận của Thiên Chúa, Ðấng đã tỏ mình ra cho chúng ta nơi Ðức Giê-su Ki-tô. Tôi lặp đi lặp lại những lời này của Ðức Bê-nê-đic-tô XVI mà không bao giờ biết chán, những lời dẫn chúng ta đến trọng tâm Tin Mừng: "Khởi đầu cho cuộc sống Ki-tô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, với một Con Người, Ðấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và từ đó một định hướng dứt khoát". [3]

8. Chỉ nhờ vào cuộc gặp gỡ này - hoặc cuộc tái ngộ - với tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu nẩy nở thành một tình bạn phong phú, mà chúng ta được giải thoát khỏi đầu óc hẹp hòi và tấm lòng vị kỷ. Chúng ta trở nên con người sung mãn khi chúng ta trở nên con người hơn, khi chúng ta để cho Chúa dẫn dắt mình vượt qua bản thân mình để đạt đến chân lý sung mãn nhất về con người mình. Ở đó chúng ta gặp thấy nguồn hứng khởi cho những nổ lực của chúng ta vào công cuộc Phúc Âm Hóa. Vì nếu chúng ta đã nhận được tình yêu phục hồi ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta, làm thế nào chúng ta không thể chia sẻ tình yêu đó với người khác được chứ?

 

II. Niềm Vui Hết Sức Thú Vị Và Ðầy An Ủi Trong Công Cuộc Phúc Âm Hóa

9. Sự thiện luôn luôn có khuynh hướng lan tỏa. Mỗi kinh nghiệm đích thực về sự thật và sự thiện tự bản chất có sức mạnh lớn lên trong chúng ta, và bất kỳ ai đã kinh qua một cuộc giải phóng sâu xa thì trở nên nhạy bén hơn với những nhu cầu của người khác. Khi sự thiện trương rộng, nó bén rễ và phát triển. Nếu chúng ta muốn sống một cuộc đời xứng đáng và sung mãn, chúng ta phải vươn tới người khác và tìm kiếm sự thiện ở nơi họ. Về mặt này, vài câu nói của thánh Phao-lô sẽ không làm cho chúng ta ngạc nhiên: "Tình yêu Ðức Ki-tô thôi thúc chúng ta" (2 Cr 5: 14), "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!" (1 Cor 9: 16).

10. Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta cơ hội sống cuộc đời ở tầm mức cao hơn, nhưng không kém đòi hỏi. "Sự sống lớn lên khi được cho đi và bị suy yếu trong cô lập và tiện nghi. Thực ra, những người hưởng được niềm vui cuộc đời nhất là những người gạt sự an toàn của mình sang một bên và cảm thấy niềm phấn khởi trong sứ vụ thông truyền sự sống cho tha nhân". [4] Khi mời gọi người Ki-tô hữu đảm nhận công cuộc Phúc Âm Hóa, Giáo Hội không có ý gì khác ngoài việc nhắm đến nguồn sung mãn đích thật của mỗi người: "Ở đây chúng ta khám phá một quy luật sâu sắc về thực tại: đời sống đó đạt được và trưởng thành theo mức độ mà nó được hiến dâng trọn vẹn để ban sự sống cho tha nhân. Chắc chắn, đây là ý nghĩa của sứ vụ". [5] Vì thế, một nhà loan báo Tin Mừng đừng bao giờ mang bộ mặt đưa đám. Chúng ta hãy hồi sinh và đào sâu lòng nhiệt thành, "niềm vui thú vị và an ủi của công cuộc Phúc Âm Hóa, ngay cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt...Và ước gì thế giới hôm nay đang tìm kiếm trong lo âu hoặc hy vọng, có thể đón nhận Tin Mừng, không phải từ những nhà rao giảng buồn bã hay thất vọng, bồn chồn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên của Tin Mừng có đời sống đầy nhiệt thành vì đã đón nhận niềm vui của Ðức Kitô và chấp nhận xem thường mạng sống để cho Nước Trời được rao giảng và Giáo Hội được ăn sâu vào giữa lòng thế giới. [6]

Sự mới mẻ vĩnh cửu

11. Công việc tái rao giảng có thể dâng hiến cho các tín hữu, cũng như những người nguội lạnh hoặc những người hữu danh vô thực, một niềm vui mới trong đức tin và một thành quả trong công cuộc Phúc Âm Hóa. Trọng tâm sứ điệp sẽ mãi vẫn là như thế: Thiên Chúa, Ðấng đã mặc khải tình yêu bao la của Ngài nơi Ðức Ki-tô chịu đóng đinh và sống lại. Ngài thường hằng đổi mới các tín hữu của Ngài, dù họ ở độ tuổi nào đi nữa: "Ðược thêm sức mạnh, như thể chim bằng, họ tung cánh, họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân" (Is 40:31). Ðức Ki-tô là "Tin Mừng vĩnh cửu" (Kh 14: 6), và Người vẫn là một "hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời" (Dt 13: 8), nhưng sự phong phú và vẻ đẹp của Người thì vô tận. Người vẫn trẻ mãi và nguồn tươi trẻ thường hằng. Giáo Hội không ngừng kinh ngạc trước "sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào!" (Rm 11: 33). Thánh Gioan Thánh Giá nói: "Bề dày của sự khôn ngoan và hiểu biết của Thiên Chúa quá sâu và quá rộng, đến nỗi linh hồn, dù có đạt được sự hiểu biết về nó đến mức độ nào đi nữa, vẫn luôn có thể đắm chìm sâu xa hơn nữa trong đó".[7] Hoặc, như thánh I-rê-nê khẳng định: "Qua việc Người đến, Ðức Ki-tô đem theo với Người tất cả sự mới mẻ".[8] Với tính mới mẻ này, Người luôn luôn có khả năng đổi mới cuộc đời chúng ta và cộng đồng chúng ta, và ngay cả khi sứ điệp Ki-tô giáo, dù trải qua những thời kỳ đầy bóng tối và những yếu đuối của Giáo Hội, nhưng không bao giờ trở nên xưa cũ. Ðức Giê-su Ki-tô có thể phá vỡ các phạm trù nhàm chán mà chúng ta muốn giam hãm Người vào đó và Người thường hằng khiến chúng ta ngạc nhiên với khả năng sáng tạo thần linh của Người. Mỗi khi chúng ta nổ lực trở về nguồn để hồi sinh sự tươi mát ban đầu của Tin Mừng, thì những lối ngõ mới xuất đầu lộ diện, những nẻo đường đầy sáng tạo mở ra, các hình thức diễn tả đa dạng, những dấu chỉ hùng hồn hơn, những ngôn từ chất nặng ý nghĩa mới mẻ cho thế giới ngày nay được nẩy sinh. Mỗi hình thức Phúc Âm Hóa đích thực vẫn luôn luôn là "mới mẻ".

12. Dù sứ vụ này thật sự đòi hỏi chúng ta phải có một tấm lòng độ lượng, nhưng thật là sai lầm khi coi nó như một nhiệm vụ anh hùng cá nhân, vì tiên vàn chính là công việc của Chúa, vượt xa bất cứ điều gì chúng ta có thể nhìn thấy và hiểu được. Chúa Giê-su là "Nhà loan báo Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất". [9] Trong mỗi lãnh vực Phúc Âm Hóa, quyền tối thượng luôn luôn thuộc về Thiên Chúa, Ðấng đã mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài và tiếp tục dẫn dắt chúng ta bằng quyền năng Thánh Thần của Ngài. Sự mới mẻ thực sự là sự mới mẻ mà Thiên Chúa đích thân tạo ra, khơi nguồn hứng khởi, tác động, hướng dẫn và đồng hành cách mầu nhiệm theo hàng ngàn cách thế. Ðời sống Giáo Hội phải luôn luôn bày tỏ rõ ràng rằng Thiên Chúa khởi xướng, "Ngài đã yêu chúng ta trước" (1Ga 4: 19) và chỉ một mình Ngài "làm cho lớn lên" (1Cor 3: 7). Niềm xác tín này giúp chúng ta duy trì tinh thần vui tươi giữa nhiệm vụ quá đòi hỏi và quá thách đố đến mức nó chiếm trọn cuộc đời chúng ta. Ngài đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta, nhưng đồng thời cũng ban mọi sự cho chúng ta.

13. Chúng ta cũng không nên hiểu sự mới mẻ của sứ vụ này như bắt phải nhổ tận gốc rễ hay quên sạch lịch sử sống động chung quanh chúng ta và chuyển chúng ta sang một trang mới. Ký ức là một chiều kích đức tin của chúng ta mà chúng ta có thể gọi là "Ðệ Nhị Luật", tương tự như ký ức của chính dân Ít-ra-en. Chúa Giêsu trối lại cho chúng ta bàn tiệc Thánh Thể như Giáo Hội hằng ngày tưởng niệm và dự phần cách mật thiết hơn vào biến cố Vượt Qua của Người (x. Lc 22: 19). Niềm vui loan báo Tin Mừng mãi mãi tỏa sáng từ cuộc tưởng niệm tạ ơn: đó là ân sủng mà chúng ta cần phải thường hằng cầu xin. Các Tông Ðồ không bao giờ quên thời điểm mà Chúa Giê-su chạm vào tâm trí các ông: "Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười" (Ga 1: 39). Cùng với Chúa Giê-su, cuộc tưởng niệm này hiện tại hóa một "đám mây nhân chứng" (Dt 12: 1). Vài người trong số đó, chúng ta vui sướng nhắc lại: "Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã rao giảng lời Chúa cho anh em" (Dt 13: 7). Vài người trong số họ đã là những người tín hữu bình thường, thân cận với chúng ta, dẫn đưa chúng ta vào đời sống đức tin: "Tôi hồi tưởng lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh" (2 Tim 1: 5). Người tín hữu cốt yếu là "một người tưởng niệm".

 

III. Tân Phúc Âm Hóa Ðể Truyền Ðạt Ðức Tin

14. Chú ý đến ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần, Ðấng giúp chúng ta cùng nhau đọc ra những dấu chỉ thời đại, Ðại Hội Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thường Kỳ lần thứ XIII được nhóm họp từ ngày mùng 7 đến ngày 28 tháng 10 năm 2012 để bàn về chủ đề: "Tân Phúc Âm Hóa để truyền đạt Ðức Tin Ki-tô giáo". Thượng Hội Ðồng Giám Mục tái khẳng định rằng công cuộc Tân Phúc Âm Hóa là lời mời gọi được gởi đến hết mọi người và được thực hiện trong ba môi trường chính. [10]

Trước tiên, chúng ta có thể kể ra lãnh vực mục vụ thông thường, lãnh vực này "được ngọn lửa Chúa Thánh Thần làm sinh động, để đốt lòng các tín hữu, những người thường xuyên tham dự việc thờ phượng cộng đồng và tụ họp vào Ngày của Chúa để Lời Chúa và Bánh Hằng Sống đời đời nuôi dưỡng mình". [11] Trong phạm trù này, chúng ta cũng có thể bao gồm các tín hữu gìn giữ một đức tin sâu xa và chân thành, được diễn tả theo những cách thế đa dạng, nhưng ít khi tham dự việc thờ phượng. Công việc mục vụ này nhằm giúp các tín hữu lớn lên trong đời sống tâm linh ngỏ hầu họ có thể đáp trả Tình Yêu Thiên Chúa càng ngày càng sung mãn hơn trong cuộc sống của họ.

Lãnh vực thứ hai là lãnh vực của "những người đã được rửa tội nhưng không sống những đòi hỏi của Bí Tích Rửa Tội", [12] những người thiếu mối dây liên hệ có ý nghĩa với Giáo Hội và không còn nghiệm thấy niềm an ủi phát sinh từ đức tin. Trong mối quan tâm của tình mẫu tử, Giáo Hội cố giúp họ trải nghiệm một cuộc hoán cải đem lại niềm vui đức tin cho tâm hồn họ và khơi nguồn hứng khởi cho việc dấn thân sống Tin Mừng.

Cuối cùng, chúng ta không thể nào quên rằng công cuộc Phúc Âm Hóa tiên vàn bàn về công việc loan báo Tin Mừng cho "những người không biết Ðức Giê-su Ki-tô hoặc luôn luôn từ chối Người". Nhiều người trong họ đang tìm kiếm Thiên Chúa trong thầm lặng, bị thúc đẩy bởi niềm ao ước được thấy thánh nhan Ngài, ngay cả ở những quốc gia thuộc truyền thống Kitô giáo cổ kính. Mọi người đều có quyền đón nhận Tin Mừng. Các Ki-tô hữu có bổn phận công bố Tin Mừng mà không loại trừ bất kỳ ai. Thay vì có vẻ áp đặt những bổn phận mới, họ phải như những người ao ước chia sẻ niềm vui của mình, chỉ rõ một chân trời đẹp và mời gọi những người khác dự phần vào bàn tiệc tuyệt hảo. Giáo Hội không tăng trưởng nhờ việc cải đạo nhưng "bởi sức hấp dẫn".[13]

15. Ðức Gioan Phaolô II kêu mời chúng ta nhận thức rằng "không được giảm bớt lòng hăng say rao giảng Tin Mừng" cho những người ở xa Ðức Kitô, "bởi vì đây là trách nhiệm hàng đầu của Giáo Hội".[14] Hoạt động truyền giáo "ngày nay vẫn là thách đố lớn nhất đối với Giáo Hội" [15] và "nhiệm vụ truyền giáo vẫn phải đứng hàng đầu".[16] Ðiều gì sẽ xảy ra nếu như chúng ta thực sự tiếp nhận cách nghiêm túc những lời này? Chúng ta sẽ đơn giản nhận ra rằng hoạt động truyền giáo là mẫu thức cho tất cả mọi hoạt động của Giáo Hội. Theo dòng tư tưởng này, các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh nói rằng "Chúng ta không thể ngồi chờ cách thụ động và bình thản trong các dinh thự Giáo Hội"; [17] nhưng cần phải chuyển mình từ "một mục vụ chỉ đơn thuần là duy trì đến một mục vụ vươn ra truyền giáo". [18] Nhiệm vụ này tiếp tục là nguồn vui bao la cho Giáo Hội: "Trên trời cũng sẽ vui mừng như thế vì một người tội lỗi ăn năn trở lại, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải ăn năn hối cải" (Lc 15:7).

Phạm vi và giới hạn của Tông Huấn này

16. Tôi sẵn lòng chấp nhận lời thỉnh cầu của các Nghị Phụ để viết Tông Huấn này.[19] Khi làm như vậy, tôi đang gặt hái những thành quả phong phú từ công lao của Thượng Hội Ðồng. Thêm nữa, tôi đã tham khảo ý kiến từ một số người và tôi có ý định bày tỏ những nỗi bận lòng riêng của tôi về chương đặc thù này, chương bàn về công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội. Có vô vàn vấn đề liên quan đến công cuộc Phúc Âm Hóa ngày nay có thể được thảo luận ở đây, nhưng tôi đã chọn là không khảo sát tỉ mỉ nhiều vấn nạn cần nhiều thời gian để suy nghĩ và để nghiên cứu sâu xa hơn nữa. Tôi cũng không tin rằng người ta nên mong đợi từ Huấn Quyền Giáo Hoàng một lời dứt khoát hoặc đầy đủ về những vấn nạn có tầm ảnh hưởng đến Giáo Hội và thế giới. Ðức Giáo Hoàng không nên thay thế các Giám Mục địa phương trong việc phân định mỗi vấn đề phát sinh ở nơi lãnh thổ của các ngài. Theo chiều hướng này, tôi cảm thấy cần phải xúc tiến một "sự phân quyền" lành mạnh.

17. Ở đây, tôi đã chọn đưa ra vài chỉ dẫn có thể khuyến khích và hướng dẫn toàn thể Giáo Hội trong một giai đoạn mới về công cuộc Phúc Âm Hóa đầy nhiệt thành và năng động. Trong bối cảnh này, và theo giáo huấn Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, tôi đã quyết định, trong số những chủ đề khác, bàn luận thấu đáo những vấn nạn dưới đây:

a) Việc cải tổ Giáo Hội trong việc "vươn ra" truyền giáo.

b) Các chước cám dỗ mà những người làm việc mục vụ phải đối mặt.

c) Giáo Hội được hiểu như toàn thể Dân Chúa loan báo Tin Mừng.

d) Bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng.

e) Việc hòa nhập người nghèo vào xã hội.

f) Hòa bình và đối thoại trong lòng xã hội.

g) Các động lực thần linh cho sứ vụ.

18. Những chủ đề tôi khai triển xem ra quá mức. Tuy nhiên tôi làm thế, không nhằm ý định cung cấp một khảo luận rốt ráo, nhưng đơn giản như một cách thế bày tỏ những hàm ý thực hành quan trọng cho sứ vụ ngày nay của Giáo Hội. Tất cả chúng giúp định hướng cho một kiểu mẫu Phúc Âm Hóa dứt khoát mà tôi mời anh chị em thừa nhận trong mỗi hoạt động mà anh chị em đảm nhận. Theo cách thế này, chúng ta có thể tiếp nhận, trong những nổ lực hàng ngày của mình, lời khuyến dụ Kinh Thánh: "Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!" (Ph 4: 4).

 

Chương 1

Sự Biến Ðổi Sứ Vụ Của Giáo Hội

 

19. Công cuộc Phúc Âm Hóa tuân theo lệnh truyền loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu: "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rử cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28: 19-20a). Lệnh truyền này được đưa ra vào thời điểm Chúa Phục Sinh sai những kẻ thuộc về Người ra đi loan báo Tin Mừng ở mọi thời đại và ở mọi nơi, ngõ hầu đức tin vào Người được lan tràn khắp cõi thế.

 

I. Một Giáo Hội "Ra Ði"

20. Lời Chúa thường hằng chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa thách đố những ai tin vào Ngài như thế nào và ra đi như thế nào. Ông Áp-ra-ham đã nhận được lời mời gọi ra đi đến một vùng đất mới (x. St 12:1-3). Ông Mô-sê đã nghe tiếng Chúa gọi: "Hãy đi, Ta sai ngươi!" (Xh 3:10) và đã dẫn dắt dân Chúa trên đường hướng về Ðất Hứa (x. Xh 3:17). Với ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa phán: "Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi" (Gr 1:7). Trong thời đại chúng ta, lệnh truyền "ra đi và thu nạp các môn đệ" của Chúa Giê-su vang dội trong những cảnh trí thay đổi và trong những thách đố mới mãi đối với sứ vụ Phúc Âm Hóa của Giáo Hội, và tất cả chúng ta được mời gọi dự phần vào sứ vụ "ra đi" mới này. Mỗi Ki-tô hữu và mỗi cộng đồng phải phân định đường đi nước bước mà Chúa vạch ra, nhưng tất cả chúng ta đều được yêu cầu vâng theo tiếng gọi của Người là ra đi khỏi khu vực tiện nghi của mình để đến mọi vùng ngoại vi đang cần ánh sáng Tin Mừng.

21. Niềm vui Tin Mừng làm sinh động cộng đồng các môn đệ là một niềm vui truyền giáo. Bảy mươi hai môn đệ đã cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui khi họ trở về từ sứ vụ của mình (x. Lc 10:17). Chúa Giêsu đã cảm thấy như vậy khi Người đã hớn hở vui mừng trong Chúa Thánh Thần và chúc tụng Chúa Cha vì đã mặc khải cho những người nghèo hèn và những người bé mọn (x. Lc 10:21). Những người trở lại đầu tiên đã cảm thấy điều này, họ đã kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các Tông Ðồ rao giảng "bằng tiếng bản xứ của mình" (Cv 2: 6) vào ngày lễ Ngũ Tuần. Niềm vui này là một dấu chỉ cho thấy rằng Tin Mừng đã được công bố và đang sinh hoa kết trái. Tuy nhiên lòng hăm hở ra đi và cho đi, ra khỏi chính mình, vừa tiến bước vừa gieo hạt giống vẫn mãi mãi là hiện tại. Chúa phán, "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó" (Mc 1: 38). Mỗi khi hạt giống đã được gieo ở một nơi, Chúa không nán lại để giải thích hoặc thực hiện các dấu lạ thêm nữa; Thần Khí đã dẫn Người ra đi đến các làng mạc khác.

22. Lời Chúa tự nó có quyền năng mà chúng ta không thể dự đoán được. Tin Mừng nói về hạt giống, một khi được gieo, thì nó tự mọc lên, ngay cả khi người nông dân ngủ (x. Mc 4:26-29). Giáo Hội chấp nhận sự tự do bất khả kiểm soát này của Lời Chúa, nó thành tựu điều nó muốn ngoài những tính toán và những cách thế tư duy của chúng ta.

23. Mối thân tình của Giáo Hội với Chúa Giêsu có chung một cuộc hành trình; "hiệp thông và sứ vụ có mối dây liên kết sâu xa". [20] Nếu muốn trung thành noi gương Thầy, Giáo Hội ngày nay phải coi việc ra đi loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, trong mọi cơ hội, không do dự, không chần chờ và sợ hãi có tầm mức quan trọng sống còn của mình. Niềm Vui Tin Mừng dành cho tất cả mọi người, không ai có thể bị khai trừ. Ðó là sứ điệp các thiên sứ đã báo tin cho các mục đồng ở Bêlem: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân" (Lc 2: 10). Sách Khải Huyền nói về "một Tin Mừng vĩnh cửu để loan báo cho các người ở trên mặt đất, cho mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi nước" (Kh 14: 6).

Khởi xướng, dấn thân, đồng hành, sinh hoa trái và ăn mừng

24. Giáo Hội "ra đi" là cộng đồng các môn đệ truyền giáo, tức là những người khởi xướng, dấn thân, đồng hành, sinh hoa trái và ăn mừng. Một cộng đồng loan báo Tin Mừng biết rằng Chúa đã khởi xướng, Người đã yêu chúng ta trước (x. 1Ga 4: 10), và vì thế, chúng ta có thể tiến bước, dạn dĩ khởi xướng, lên đường đến người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đến ngã ba đường và đón chào những người bị ruồng bỏ. Cộng đồng như thế rất muốn bày tỏ lòng xót thương, thành quả kinh nghiệm của chính mình về lòng thương xót vô hạn của Chúa Cha. Chúng ta hãy đi bước trước và "dấn thân" hơn nữa. Chúa để cho mình dính líu vào khi Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Người bảo các môn đệ: "Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em" (Ga 13:17). Cộng đồng loan báo Tin Mừng phải liên đới với người khác trong cuộc sống hằng ngày qua lời nói và việc làm; cộng đồng lấp đầy những khoảng cách, tự hạ mình nếu cần, và ôm trọn cuộc sống nhân loại vào vòng tay rộng mở, chạm đến thân xác đau khổ của Ðức Ki-tô ở nơi người khác. Vì thế, các nhà loan báo Tin Mừng mang lấy "mùi của chiên" và chiên nghe tiếng họ. Cộng đồng loan báo Tin Mừng cùng chung nhịp bước với nhân loại trong tất cả mọi tiến trình của nó, bất kể khó khăn và kéo dài đến đâu đi nữa. Cộng đồng thân quen với viễn cảnh kiên trì và chịu đựng trong công việc tông đồ. Công cuộc Phúc Âm Hóa chủ yếu cần lòng kiên nhẫn và coi thường những thúc ép thời gian. Một cộng đồng loan báo Tin Mừng luôn luôn quan tâm đến thành quả, bởi vì Thiên Chúa muốn họ phải "sinh hoa kết trái". Cộng đồng chăm lo các hạt giống và không trở nên nôn nóng trước cỏ lùng. Người gieo giống, khi thấy cỏ lùng mọc lên giữa những cây lúa, không oán trách hay cường điệu. Người ấy gặp thấy một cách thế để Lời Chúa được nhập thể trong một hoàn cảnh cụ thể và sinh hoa kết quả của đời sống mới, cho dù những thành quả này dường như chưa hoàn hảo và đầy đủ. Người môn đệ có thể hiến trọn cuộc đời mình, thậm chí chấp nhận tử vì đạo, như một nhân chứng của Chúa Giê-su Ki-tô, tuy nhiên không nhằm gây thù kết oán, mà đúng hơn là thấy Lời Chúa được đón nhận và được hiển lộ ở nơi quyền năng giải phóng và canh tân. Cuối cùng, cộng đồng loan báo Tin Mừng đầy tràn niềm vui, luôn luôn biết "ăn mừng". Cộng đồng ăn mừng (cử hành) về mỗi một chiến thắng nhỏ, mỗi một bước tiến trong công cuộc Phúc Âm Hóa. Công cuộc Phúc Âm Hóa đầy niềm vui trở thành vẻ đẹp trong phụng vụ, là một phần mối bận lòng của chúng ta, đó là lan tỏa điều thiện. Giáo Hội Phúc Âm hóa người khác, đồng thời để cho Phúc Âm Hóa chính mình qua vẻ đẹp của phụng vụ, nơi cử hành công cuộc Phúc Âm Hóa cũng như nguồn đổi mới cuộc đời tận hiến của mình.

 

II. Hoạt Ðộng Mục Vụ Và Chuyển Hướng

25. Tôi nhận thức rằng ngày nay người ta không còn quan tâm đến các tài liệu như trong quá khứ, và chúng sớm bị quên lãng. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng những gì tôi cố gắng diễn tả ở đây có một ý nghĩa cương lĩnh và những hậu quả quan trọng. Tôi hy vọng rằng tất cả các cộng đồng sẽ vận dụng những phương tiện cần thiết để tiến bước trên con đường chuyển hướng mục vụ và truyền giáo, mà không thể để mọi sự việc như hiện nay. "Chỉ quản trị thôi" là chưa đủ [21]. Trên khắp thế giới, chúng ta phải "thường xuyên ở trong tình trạng truyền giáo". [22]

26. Ðức Phao-lô VI mời gọi chúng ta hãy đào sâu lời mời gọi canh tân và hãy nhận thức rõ rằng canh tân không chỉ liên hệ đến các cá nhân mà còn toàn thể Giáo Hội. Chúng ta hãy trở lại bản văn đáng nhớ vẫn còn thách đố chúng ta: "Ðã đến lúc Giáo Hội phải có một nhận định sâu xa về chính mình, phải suy gẫm về mầu nhiệm của mình, để tìm hiểu mình và giúp ích cho mình#Từ nhận định sáng suốt và hoạt động đó, nẩy ra ước vọng hồn nhiên là đem bộ mặt thực của Giáo Hội ngày nay đối chiếu với hình ảnh lsy tưởng của Giáo Hội như Chúa Ki-tô đã thấy, đã muốn và đã yêu như yêu hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Người (x. Ep 5:27). Nhờ thiên ân, bộ mặt của Giáo Hội vẫn trung thành với những nét mà Chúa Ki-tô đã khắc và Chúa Thánh Thần đã tô điểm thêm linh hoạt trải qua các thời đại, cho phù hợp một bên với quan niệm sơ khởi, một bên với bản tính loài người mà Giáo Hội có trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho; tuy nhiên, bộ mặt ấy không bao giờ hoàn toàn đủ, tốt đẹp đủ, thánh thiện và sáng chói đủ để phản chiếu đúng quan niệm Thiên Chúa về kiểu mẫu lý tưởng. Bởi đó sinh ra một ướcmuốn quảng đại, ra như không thể chịu được nữa là phải canh tân, nghĩa là phải sửa chữa các lầm lỗi, mà việc kiểm điểm đời sống dưới ánh sáng kiểu mẫu Chúa Ki-tô đã để lại, đang tố cáo và lên án" [23].

Công đồng Vaticanô II đã trình bày sự chuyển hướng của Giáo Hội như một sự mở ra cho một cuộc tự canh tân liên tục phát sinh từ lòng trung thành với Ðức Giê-su Ki-tô: "Mọi việc canh tân Giáo Hội cốt yếu nhằm sống trung thành với ơn gọi của Giáo Hội hơn#Trên đường lữ hành, Giáo Hội được Chúa Ki-tô mời gọi canh tân luôn mãi, một sự canh tân mà Giáo Hội vì là một định chế nhân trần, bao giờ cũng cần đến". [24]

Có những cơ cấu của Giáo Hội có thể cản trở nổ lực Phúc Âm Hóa, tuy nhiên ngay cả những cơ cấu tốt chỉ hữu ích khi có một sức sống lèo lai, nâng đỡ và hướng dẫn chúng. Nếu không có một sức sống mới và một tinh thần Tin Mừng đích thực, không có "sự trung thành của Giáo Hội với ơn gọi của mình", thì bất kỳ cơ cấu mới nào cũng sẽ sớm chứng tỏ là không có hiệu quả.

Công cuộc canh tân Giáo Hội là cấp thiết.

27. Tôi mơ ước một "lựa chọn truyền giáo", nghĩa là, một niềm phấn khởi truyền giáo có sức biến đổi mọi sự, ngỏ hầu những tập quán và những cách thế làm việc, thời gian và thời khóa biểu, ngôn từ và cơ cấu của Giáo Hội có thể trở nên những cách thế chuyển thông thích hợp cho công cuộc Phúc Âm Hóa của thế giới ngày nay, chứ không tự bảo toàn mình. Việc canh tân cơ cấu, mà việc chuyển hướng đòi hỏi, chỉ có thể được hiểu trong ánh sáng này: như một phần nỗ lực làm cho chúng có chiều hướng truyền giáo hơn, làm cho hoạt động truyền giáo thông thường trên mọi bình diện có tính bao quát hơn và rộng mở hơn, để khơi nguồn hứng khởi cho những người làm việc mục vụ biết thường hằng ước muốn ra đi và như thế thôi thúc lời đáp ứng tích cực từ những người mà Chúa Giê-su kêu mời kết nghĩa bằng hữu với Người. Như Ðức Gioan Phaolô II đã nói với các Giám Mục Châu Ðại Dương: "tất cả canh tân trong Giáo Hội phải nhắm đến truyền giáo, nếu không sẽ rơi vào nguy cơ của một loại Giáo Hội quy hướng về chính mình". [25]

28. Giáo xứ không là một định chế lỗi thời; chính xác là vì nó sở hữu một sự uyển chuyển lớn lao, nó có thể đảm nhận những vùng ngoại vi khá đa dạng, tùy thuộc vào tấm lòng rộng mở và đầu óc sáng tạo truyền giáo của vị mục tử và cộng đồng. Chắc chắn đây không là một định chế duy nhất loan báo Tin Mừng, nhưng nếu giáo xứ chứng tỏ là có khả năng tự canh tân và thường hằng thích nghi, nó tiếp tục là "Giáo Hội sống giữa những mái ấm gia đình của con trai con gái mình". [26] Ðiều này giả thiết rằng giáo xứ thực sự giao tiếp với những gia đình và những cảnh sống của dân chúng chung quanh mình, và không trở thành một cơ cấu vô dụng tách biệt với dân chúng, hoặc một nhóm người ưu tuyển chỉ biết quan tâm đến mình. Giáo xứ là sự hiện diện của Giáo Hội trong một lãnh thổ được nói rõ, một môi trường để lắng nghe Lời Chúa, để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, công bố Tin Mừng, làm việc bác ái, thờ phượng và cử hành phụng tự. [27] Trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động của mình, giáo xứ khuyến khích và đào tạo các thành viên của mình thành những nhà truyền giáo. [28] Giáo xứ là một cộng đồng trong số các cộng đồng, một đền thánh nơi mà những người khát đến uống nước để tiếp tục cuộc hành trình, và là một trung tâm vươn ra truyền giáo. Nhưng chúng ta phải thú nhận rằng lời kêu gọi xét lại và canh tân các giáo xứ chưa đủ để đem chúng đến gần hơn với dân chúng, làm cho chúng thành môi trường hiệp thông và tham gia sống động, và toàn tâm toàn ý vào sứ vụ.

29. Những định chế khác của Giáo Hội: các cộng đoàn cơ bản và các cộng đoàn nhỏ, các phong trào và các hình thức hiệp hội, là nguồn phong phú cho Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần đào tạo cho những vùng và những khu vực truyền giáo đa dạng. Chúng thường mang lại lòng nhiệt thành cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa và một năng lực mới cho cuộc đối thoại với thế giới, nhờ đó Giáo Hội được canh tân. Nhưng những định chế này sẽ chứng tỏ là hữu ích khi không đánh mất mối giao tiếp với thực tại phong phú của giáo xứ địa phương, và sẵn sàng tham gia vào toàn bộ hoạt động mục vụ của Giáo Hội địa phương. [29] Loại hợp nhất này sẽ tránh cho chúng tập trung vào chỉ một phần Tin Mừng hay Giáo Hội, hoặc trở thành dân du mục không có cội nguồn.

30. Mỗi Giáo Hội địa phương, như một phần của Giáo Hội Công Giáo dưới quyền lãnh đạo của vị Giám Mục mình, cũng được mời gọi chuyển hướng truyền giáo. Ðây là chủ thề hàng đầu của công cuộc Phúc Âm Hóa, [30] vì nó biểu hiện cụ thể Giáo Hội Duy Nhất ở một nơi đặc thù, và nơi đó "Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và Tông Truyền của Chúa Kitô hiện diện và hành động thực sự". [31] Ðó là Giáo Hội nhập thể ở một nơi nhất định, được trang bị bằng tất cả các phương tiện cứu rỗi do Ðức Ki-tô ban cho, nhưng với những đặc điểm địa phương. Niềm vui của Giáo Hội địa phương trong việc thông truyền Ðức Giê-su Ki-tô được diễn tả ở nơi mối bận tâm rao giảng Người cho những vùng dân cư nghèo khổ hơn, cũng như trong việc thường hằng ra đi đến những ngoại vi lãnh địa mình, hướng đến những môi trường văn hóa xã hội mới. [32] Bất cứ nơi nào cần ánh sáng và sự sống của Ðấng Phục Sinh hơn, thì Giáo Hội muốn ở đó. [33] Ðể thôi thúc công việc truyền giáo dốc toàn lực hơn, độ lượng hơn và hiệu quả hơn, tôi cũng khuyến khích mỗi Giáo Hội địa phương đảm nhận một tiến trình phân biệt, thanh luyện và cải tiến một cách kiên quyết.

31. Giám Mục phải luôn luôn cổ vũ sự hiệp thông truyền giáo này trong giáo phận của mình, theo lý tưởng của các cộng đồng Kitô hữu tiên khởi, trong đó các tín hữu tâm đầu ý hợp với nhau (Cv 4: 32). Ðể được như vậy, đôi khi ngài sẽ đi trước dân của mình, vạch rõ cách thế và nuôi dưỡng niềm hy vọng phấn chấn của họ. Lúc này, ngài đơn giản ở giữa họ với sự hiện diện đầy lòng xót thương và khiêm tốn của ngài. Lúc khác, ngài sẽ bước đi sau họ, để giúp đỡ những người bị bỏ lại đằng sau và - trên hết - cho phép đoàn chiên mạnh dạn bước đi trên những nẻo đường mới. Trong sứ vụ cổ vũ sự hiệp thông năng động, rộng mở và truyền giáo, ngài phải khuyến khích và phát triển những phương tiện tham gia được đề nghị trong Giáo Luật, [34] và các hình thức đối thoại mục vụ khác, với một ước muốn lắng nghe mọi người chứ không chỉ một số ít người nói với ngài những gì ngài muốn nghe. Nhưng mục đích chính của tiến trình tham gia này không là tổ chức Giáo Hội, mà là một khát vọng truyền giáo đạt đến hết mọi người.

32. Bởi vì tôi được mời gọi đem ra thực hành những gì tôi yêu cầu những người khác, tôi cũng phải nghĩ về một sự chuyển hướng của chức năng Giáo Hoàng. Ðó là nhiệm vụ của tôi, với tư cách là Giám Mục Roma, phải mở lòng mình ra để đón nhận những đề nghị có thể giúp tôi thi hành thừa tác vụ của tôi cách trung thành hơn theo chiều hướng mà Ðức Chúa Giê-su Ki-tô muốn ban cho thừa tác vụ này và theo nhu cầu hiện tại của công cuộc Phúc Âm Hóa. Ðức Gioan Phaolô II đã cầu xin sự giúp đỡ để tìm ra "một phương thức thi hành quyền tối thượng mở rộng cho hoàn cảnh mới, nhưng không từ bỏ điều thiết yếu nào trong sứ mạng của quyền ấy". [35] Chúng ta đã đạt được một tiến bộ nhỏ về mặt này. Chức năng Giáo Hoàng và những cơ cấu trung tâm của Giáo Hội phổ quát cũng cần phải lắng nghe lời kêu gọi chuyển hướng mục vụ. Tương tự như các Giáo Hội Thượng Phụ cổ đại, Công đồng Vaticanô II phát biểu rằng các Hội Ðồng Giám Mục có thể "góp phần phong phú bằng nhiều thể cách để cụ thế hóa tinh thần cộng đoàn". [36] Tuy nhiên, ước muốn này chưa được thực hiện trọn vẹn vì tình trạng pháp lý của các Hội Ðồng Giám Mục với tư cách là chủ thể có những năng quyền đặc thù, kể cả một số quyền bính về giáo lý chân chính thì vẫn chưa được soạn thảo đầy đủ. [37] Một sự tập trung quyền hành quá mức, thay vì chứng tỏ là hữu ích thì lại phúc tạp hóa đời sống Giáo Hội và sự vươn ra truyền giáo.

33. Sứ vụ vụ mục vụ theo chủ đích truyền giáo tìm cách bỏ rơi thái độ tự mãn như: "Chúng tôi đã luôn luôn làm như thế này". Tôi mời gọi tất cả mọi người phải dám làm và có nhiều sáng kiến trong nhiệm vụ này là suy nghĩ lại các mục tiêu, cơ cấu, kiểu mẫu và phương pháp Phúc Âm Hóa ở nơi những cộng đồng tương ứng của mình. Nếu đề xuất những mục tiêu mà không điều nghiên những phương thế để đạt được những mục tiêu này trong cộng đồng, rốt cuộc chỉ là không tưởng. Tôi khuyến khích mọi người áp dụng cách rộng rãi và cách bạo dạn những chỉ dẫn trong tài liệu này mà không chút e dè hoặc sợ hãi. Ðiều quan trọng chính là đừng bước đi một mình, nhưng nương tựa vào nhau như anh chị em, và đặc biệt dưới quyền lãnh đạo của các Giám Mục, trong sự phân định mục vụ khôn ngoan và thực tế.

 

III. Khởi Ði Từ Trọng Tâm Tin Mừng

34. Nếu chúng ta toan tính đặt mọi sự vào chủ đích truyền giáo, thì điều này cũng tác động đến cách thế chúng ta thông truyền sứ điệp. Trong thế giới ngày nay với những phương tiện truyền thông nhanh chóng và thông tin đại chúng thiên lệch, sứ điệp chúng ta rao giảng có nguy cơ hơn bao giờ hết bị xuyên tạc và giảm thiểu vào vài khía cạnh thứ yếu. Theo cách này, một số vấn đề, một phần giáo huấn luân lý của Giáo Hội, bị đưa ra khỏi văn mạch khiến chúng không còn có ý nghĩa đích thật nữa. Vấn đề nghiêm trọng nhất chính là khi sứ điệp mà chúng ta rao giảng dường như sau đó bị đồng hóa với những khía cạnh thứ yếu, dù chúng có quan trọng mấy đi nữa, tự chúng không truyền đạt trọng tâm sứ điệp của Ðức Giê-su Ki-tô. Do đó, chúng ta cần phải thực tế và không nên cho rằng thính giả của mình biết văn mạch đầy đủ đối với những gì chúng ta nói hoặc họ có thể liên kết những điều chúng ta nói với trọng tâm thiết yếu của Tin Mừng, chỉ trọng tâm ấy mới ban cho những lời của chúng ta ý nghĩa, vẻ xinh đẹp và sức hấp dẫn.

35. Sứ vụ mục vụ theo kiểu mẫu truyền giáo không quá bận tâm với việc cứ cố chấp áp đặt cách thế chuyển giao nhiều tín lý rời rạc. Khi chúng ta chấp nhận mục tiêu mục vụ theo kiểu mẫu truyền giáo nhằm thực sự đạt đến hết mọi người không có bất kỳ ngoại lệ hay loại trừ nào, thì sứ điệp phải tập trung vào những điểm chính, vào những gì đẹp nhất, cao cả nhất, hấp dẫn nhất và đồng thời cần thiết nhất. Sứ điệp được đơn giản hóa, nhưng không đánh mất chiều sâu của nó và sự thật của nó, và như thế càng trở nên mạnh mẻ và có sức thuyết phục hơn.

36. Tất cả mọi chân lý mạc khải đều phát xuất từ cùng nguồn thần linh và phải được tin với cùng một đức tin, tuy nhiên, một vài trong số chân lý ấy có tầm quan trọng hơn để diễn tả trực tiếp trọng tâm Tin Mừng. Trong cốt lõi cơ bản này, điều tỏa sáng chính là vẻ đẹp tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được tỏ lộ nơi Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng chịu chết và sống lại. Theo chiều hướng này, Công Ðồng Vaticanô II giải thích: "Có một 'phẩm trật' trong các chân lý của giáo lý công giáo vì liên hệ giữa các chân lý ấy với nền tảng đức tin không đồng đều". [38] Ðiều này áp dụng cho các tín điều cũng như cho toàn bộ Giáo Huấn Giáo Hội, kể cả Giáo Huấn luân lý.

37. Thánh Tô-ma A-qui-nô đã dạy rằng Giáo Huấn luân lý của Giáo Hội cũng có một phẩm trật riêng của nó, nơi các nhân đức và các hành vi xuất phát từ chúng. [39] Ðiều quan trọng hơn hết là "đức tin hành động nhờ đức ái" (Gl 5: 6). Những công việc đức ái hướng đến người khác chính là cách thế biểu lộ ra bên ngoài tuyệt hảo nhất ân sủng bên trong của Chúa Thánh Thần: "Nền tảng của Luật Mới ở nơi ân sủng của Chúa Thánh Thần, Ðấng tỏ mình ra ở nơi đức tin hành động nhờ đức ái". [40] Quả thật, thánh Tô-ma giải thích rằng về phần các công việc bên ngoài, lòng thương xót cao trọng nhất trong tất cả các nhân đức: "Lòng thương xót tự nó cao trọng nhất trong các nhân đức, vì tất cả các nhân đức đều xoay quanh nó, và còn hơn thế nữa, nó bù đắp những thiếu xót của các nhân đức. Ðây là nét đặc thù của nhân đức cao trọng này, và theo đúng nghĩa nhân đức này dành riêng cho Thiên Chúa, Ðấng đầy lòng xót thương, qua đó Thiên Chúa bày tỏ sự toàn năng của Ngài ở mức độ lớn lao nhất". [41]

38. Ðiều quan trọng là rút ra những kết quả mục vụ từ Giáo Huấn Công Ðồng, giáo huấn phản ảnh niềm xác tín cổ kính của Giáo Hội. Trước hết, phải nói rằng, trong công việc loan báo Tin Mừng, phải duy trì một nhận thức tương xứng thích hợp. Chúng ta nhận thấy rằng một số chủ đề thường xuyên được đề cập đến và được nhấn mạnh khi giảng dạy. Chẳng hạn, nếu trong năm phụng vụ một cha sở nói về đức tiết độ đến mười lần, nhưng chỉ kể ra đức ái hoặc đức công bình chỉ hai ba lần, thì dẫn đến một sự bất cân xứng. Hai nhân đức này đúng ra phải hiện diện nhiều nhất trong việc giảng dạy và bài giáo lý, thì ngài lại lướt qua. Cũng tương tự như thế khi chúng ta nói về lề luật nhiều hơn về ân sủng, về Giáo Hội nhiều hơn về Ðức Giê-su Ki-tô, về Ðức Giáo Hoàng nhiều hơn về Lời Chúa.

39. Có một sự duy nhất hữu cơ giữa các nhân đức, vì thế, không bất cứ nhân đức nào trong chúng bị loại trừ khỏi lý tưởng Ki-tô giáo; cũng như vậy, không chân lý nào bị chối từ. Người ta không được làm biến dạng tính toàn vẹn của sứ điệp Tin Mừng. Ngoài ra, mỗi chân lý được hiểu rõ hơn khi được đặt vào trong mối liên hệ với tổng thể hòa hợp của sứ điệp Ki-tô giáo; trong bối cảnh này, tất cả mọi chân lý đều quan trọng và soi sáng lẫn nhau. Khi lời rao giảng trung thành với Tin Mừng, trọng tâm của một số chân lý thì hiển nhiên và cho thấy rõ rằng luân lý Ki-tô giáo không phải là một hình thức khắc kỷ, hay khổ hạnh, hay đơn thuần triết học thực hành, hay một bảng liệt kê những tội lỗi và lầm lỗi. Tiên vàn, Tin Mừng mời gọi chúng ta đáp trả tình Chúa yêu thương chúng ta và cứu độ chúng ta, thấy Thiên Chúa ở nơi người khác, và vượt qua bản thân mình để tìm kiếm điều thiện cho người khác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, không được che khuất lời mời gọi này! Tất cả các nhân đức là để phục vụ sự đáp trả chan chứa yêu thương này. Nếu lời mời gọi này không tỏa sáng cách mạnh mẻ và hấp dẫn, tòa nhà giáo huấn luân lý của Giáo Hội có nguy cơ trở thành một ngôi nhà làm bằng giấy, và đây là mối nguy hiểm nghiêm trọng nhất mà chúng ta có nguy cơ gặp phải. Ðiều đó muốn nói rằng người ta không thực sự rao giảng Tin Mừng cho bằng một số điểm tín lý hay luân lý dựa trên những chọn lựa lý tưởng riêng biệt. Sứ điệp sẽ gặp phải nguy cơ mất đi vẻ tươi mát của nó và sẽ không còn lan tỏa "hương thơm Tin Mừng".

 

IV. Sứ Vụ Thể Hiện Giữa Lòng Những Giới Hạn Của Con Người

40. Giáo Hội chính là người môn đệ truyền giáo; Giáo Hội cần phải lớn lên trong việc giải thích Lời Mạc Khải và trong sự hiểu biết chân lý của mình. Công việc của các nhà chú giải và các nhà thần học chính là giúp cho "phán quyết của Giáo Hội được chín chắn". [42] Các bộ môn khoa học khác cũng giúp hoàn thành công việc này, mỗi bộ môn theo cách thế riêng của mình. Chẳng hạn như khi quy chiếu đến các bộ môn khoa học xã hội, Ðức Gioan Phaolô II nói rằng Giáo Hội trân trọng những nghiên cứu của họ vì chúng giúp cho Giáo Hội "rút ra những chỉ dẫn cụ thể và hữu ích cho sứ vụ huấn giáo của mình". [43] Ngoài ra, trong Giáo Hội còn có vô vàn những vấn đề được tự do nghiên cứu và suy nghĩ thấu đáo. Những dòng tư tưởng đa dạng của triết học, thần học và thực hành mục vụ, nếu được Chúa Thánh Thần hòa giải trong tinh thần tôn trọng và yêu thương, có thể giúp Giáo Hội lớn lên, vì chúng giúp diễn tả rõ hơn kho tàng quá đổi phong phú của Lời Chúa. Ðối với những ai mong ước sự thống nhất của toàn bộ tín lý được tất cả mọi người bảo vệ mà không có bất kỳ sắc thái nào, điều này xem ra cuối cùng chẳng ai ưa thích. Nhưng thực tế sự đa dạng như thế giúp làm sáng tỏ và phát triển các khía cạnh khác nhau của kho tàng Tin Mừng vô tận.[44]

41. Ðồng thời, ngày nay, văn hóa thay đổi cách rộng lớn và nhanh chóng, điều này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên tìm cách diễn tả những chân lý bất di bất dịch bằng một ngôn ngữ giúp làm sáng tỏ tính mới mẻ vĩnh cửu của chúng. "Kho tàng đức tin là một chuyện#cách thức diễn tả lại là một chuyện khác". [45] Có nhiều lần, người tín hữu nghe một ngôn từ hoàn toàn chính thống, nhưng lại nhận được một điều gì đó xa lạ với Tin Mừng đích thực của Ðức Giê-su, vì ngôn từ ấy xa lạ với cách thức họ nói và hiểu nhau. Với ý hướng thánh thiện là thông truyền chân lý về Thiên Chúa và về con người, đôi khi chúng ta đưa ra cho họ một ngẫu tượng hoặc một lý tưởng nhân bản chứ không thực sự Ki-tô giáo. Theo cách này, chúng ta bám chặt vào một biểu thức trong khi không chuyển tải bản chất của nó. Ðây là mối nguy hiểm nghiêm trọng nhất. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng "Diễn tả chân lý có thể có nhiều hình thức. Và sự đổi mới các hình thức diễn tả trở nên cần thiết để chuyển giao cho con người ngày nay sứ điệp TinMừng trong ý nghĩa bất di bất dịch của nó". [46]

42. Tất cả điều này có liên quan đến công việc rao giảng Tin Mừng, nếu chúng ta thực sự quan tâm đến việc giúp mọi người nhận biết và tiếp nhận vẻ đẹp Tin Mừng ngày càng rõ ràng hơn. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể giúp mọi người dể dàng hiểu và thẩm định giáo huấn của Giáo Hội. Ðức tin luôn luôn để lại một điều gì đó của thập giá, nó giữ lại một mảng tối nào đó mà không làm giảm thiểu sự kiên cố của việc tán thành. Có vài điều người ta hiểu và thẩm định từ quan điểm của sự tán thành này chứ không những lý lẽ và lập luận rõ ràng. Chúng ta nên nhớ rằng mọi giáo huấn tôn giáo xét cho cùng phải được phản chiếu ở nơi cách sống của thầy dạy, cách sống đó thức tỉnh sự ưng thuận của tấm lòng qua cuộc sống gần gũi, yêu thương và làm chứng.

43. Khi tiếp tục phân định, Giáo Hội cũng có thể nhận ra một số tập quán không liên quan trực tiếp đến trọng tâm Tin Mừng, ngay cả một vài trong số đó, dù đã thâm căn cố đế trong lịch sử, ngày nay không còn được hiểu và thẩm định cách thích đáng nữa. Vài trong số tập quán này có thể là đẹp, nhưng chúng không còn là phương thế giúp ích cho việc thông truyền Tin Mừng nữa. Chúng ta đừng sợ xét lại chúng. Ðồng thời, Giáo Hội có những luật lệ hay những nguyên tắc có thể đã là rất khá hữu hiệu vào thời đại của chúng, nhưng không còn hữu dụng nữa trong việc hướng dẫn và định hướng cuộc sống dân chúng. Thánh Thôma Aquinô đã vạch rõ rằng những nguyên tắc được Ðức Kitô và các Tông Ðồ ban cho Dân Thiên Chúa thì "rất ít".[47] Trích dẫn thánh Âu-gút-ti-nô, thánh Tô-ma lưu ý rằng những nguyên tắc sau này được Giáo Hội thêm vào nên cần phải nhấn mạnh vừa phải để "không là gánh nặng cho đời sống của các tín hữu" và biến tôn giáo chúng ta thành một hình thức nô lệ, trong khi "lòng thương xót của Thiên Chúa muốn chúng ta được tự do". [48] Lời cảnh báo này, đã được đưa ra từ nhiều thế kỷ, bây giờ vẫn còn mang tính thời sự. Lời cảnh báo này phải là một trong những tiêu chuẩn được xét đến khi nghĩ đến một cuộc cải tổ Giáo Hội ngỏ hầu lời rao giảng của Giáo Hội có khả năng giúp Giáo Hội đạt đến tất cả mọi người.

44. Ngoài ra, các mục tử và giáo dân, những người đồng hành với anh chị em của mình trong đức tin hoặc trong cuộc hành trình mở lòng ra với Thiên Chúa, phải luôn ghi nhớ những lời dạy khá rõ ràng của Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo: "Việc quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ do thiếu hiểu biết, sơ suất, do áp lực, sợ hãi, do thói quen, do tâm lý bất ổn, do các nhân tố tâm lý hay xã hội". [49] Vì thế, để không làm giảm bớt lý tưởng Tin Mừng, họ cần phải đồng hành theo từng giai đoạn tiến bộ của cá nhân với tấm lòng thương xót và kiên nhẫn. [50] Tôi xin được nhắc các linh mục nhớ rằng tòa giải tội không phải là phòng tra tấn, nhưng đúng hơn là một cuộc gặp gỡ với lòng thương xót của Chúa thôi thúc chúng ta làm điều tốt lành nhất. Một bước nhỏ, giữa những giới hạn của con người, đẹp lòng Thiên Chúa hơn là đời sống mà bề ngoài có vẻ mực thước nhưng suốt ngày không phải đương đầu với những khó khăn nào đáng kể. Mỗi người cần để cho niềm an ủi và sức hấp dẫn của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đụng chạm đến mình, tình yêu này đang hành động cách mầu nhiệm ở nơi mỗi người, vượt trên và vượt ngoài những lỗi lầm và sa ngã của họ.

45. Lúc đó, chúng ta thấy rằng người lãnh nhận nhiệm vụ Phúc Âm Hóa hoạt động ở giữa lòng những giới hạn của ngôn ngữ và hoàn cảnh. Người ấy thường hằng tìm cách thông truyền chân lý Tin Mừng cách hiệu quả hơn trong bối cảnh đặc thù, mà không từ bỏ chân lý, sự thiện và ánh sáng mà mình có thể mang lại, hễ khi nào sự hoàn hảo thì không thể. Người có tấm lòng truyền giáo nhận thức những giới hạn này và tự trở nên "yếu với những người yếu# tất cả cho mọi người" (1Cor 9: 22). Người ấy không bao giờ được đóng kín lòng mình, không bao giờ rút lui vào chỗ an toàn riêng của mình, không bao giờ chọn giải pháp nghiêm khắc và tự vệ. Người ấy nhận ra rằng mình phải lớn lên trong sự hiểu biết Tin Mừng và trong sự phân định những đường đi nước bước của Chúa Thánh Thần, và như thế, người ấy luôn luôn làm những điều tốt lành mình có thể, thậm chí nếu trong tiến trình này, chân phải lấm bùn.

 

V. Một Người Mẹ Với Một Tấm Lòng Bao Dung

46. Một Giáo Hội "ra đi" là một Giáo Hội mở rộng mọi cánh cửa. Ra đi đến với người khác để gặp gỡ những người ở bên lề xã hội không có nghĩa lao mình vào thế giới mà không có mục đích nào. Thà chậm lại, thà để sự hăm hở sang một bên để thấy và lắng nghe người khác, thà dừng mọi công việc để ở lại với người ngập ngừng bước đi trên đường. Ðôi khi chúng ta phải như người cha của đứa con hoang đàng, ông luôn để cánh cửa rộng mở để khi đứa con trở về, nó có thể bước chân vào nhà mà không một chút ngần ngại.

47. Giáo Hội được gọi là nhà Cha, luôn luôn mở rộng cửa. Một trong những dấu chỉ của việc mở rộng này chính là ngôi giáo đường của chúng ta nên luôn luôn mở rộng cửa, để mà nếu ai đó, được Chúa Thánh Thần tác động, đến đó tìm kiếm Thiên Chúa, người ấy sẽ không gặp thấy cửa đóng then cài. Có những cánh cửa khác cũng không nên đóng kín. Mỗi người có thể tham dự theo cách nào đó vào đời sống Giáo Hội; mỗi người có thể là phần tử của cộng đồng, các cửa của các Bí Tích cũng không được đóng kín vì bất cứ lý do nào. Bí Tích Rửa Tội tự nó thật sự đặc biệt là "cánh cửa". Bí Tích Thánh Thể, dù là sự viên mãn của đời sống bí tích, không phải là một giải thưởng cho những người hoàn thiện, mà là thần dược và thần lương cho những người yếu nhược. [51] Những xác tín này có những hậu quả mục vụ mà chúng ta được mời gọi cân nhắc cách thận trọng và mạnh dạn. Thông thường, chúng ta hành xử như những người có quyền ban phát ân sủng chứ không như những người giúp người khác dễ dàng lãnh nhận ân sủng. Nhưng Hội Thánh không phải là nhà thu lệ phí mà là nhà Cha, ở đó có chỗ cho tất cả mọi người, với tất cả những vấn đề của họ.

48. Nếu toàn thể Giáo Hội đảm nhận niềm hưng phấn truyền giáo này, Giáo Hội phải ra đi đến với mọi người không ngoại lệ. Nhưng Giáo Hội phải đến với ai trước tiên? Khi đọc Tin Mừng, chúng ta thấy một chỉ dẫn rõ ràng: không phải bạn bè và láng giềng giàu có, nhưng trên hết những người nghèo khổ và bệnh hoạn tật nguyền, những người thường bị khinh miệt và lãng quên, "họ không có gì đáp lễ" (Lc 14:14). Không còn gì để nghi ngờ hoặc giải thích, vì sẽ làm yếu đi sứ điệp quá rõ ràng này. Hôm nay và mãi mãi, "người nghèo là người có quyền ưu tiên đón nhận Tin Mừng", [52] và sự kiện loan báo Tin Mừng một cách nhưng không cho họ là dấu chỉ cho thấy Vương Quốc mà Chúa Giê-su đã đến thiết lập. Phải khẳng định cách dứt khoát rằng có một mối dây liên kết bất khả phân ly giữa đức tin và người nghèo. Nguyện xin Chúa cho chúng ta không bao giờ được bỏ rơi họ.

49. Vì thế, chúng ta hãy tiến bước, hãy ra đi để trao ban cho mọi người sự sống của Ðức Giê-su Ki-tô. Ở đây tôi lập lại cho toàn thể Giáo Hội điều mà tôi đã thường nói với các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires: Tôi thích một Giáo Hội bị bầm dập, bị thương tích và dơ bẩn vì đã ở ngoài đường, hơn là một Giáo Hội yếu nhược vì tự giam mình và bám víu vào sự an toàn riêng của mình. Tôi không muốn một Giáo Hội quan tâm đến việc được ở vị thế trung tâm và rồi rốt cuộc bị vướng mắc vào một mạng lưới của những nỗi ám ảnh và thủ tục. Nếu điều gây xáo động chúng ta và khiến lương tâm chúng ta xao xuyến, chính là nhiều người trong số anh chị em của chúng ta đang sống mà thiếu sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bằng hữu với Ðức Giê-su Ki-tô, không có một cộng đồng đức tin nâng đỡ họ, không gặp thấy ý nghĩa và mục đích trong cuộc sống. Tôi hy vọng rằng chúng ta bị thúc đẩy không vì sợ lầm đường lạc lối cho bằng vì sợ giam mình trong các cơ cấu đem lại cho chúng ta một cảm giác an toàn giả tạo, trong các luật lệ biến chúng ta thành những quan tòa khắc khe, trong những tập quán khiến chúng ta cảm thấy an toàn, trong khi ở bên ngoài cửa nhà chúng ta, có vô số người đang chết đói, và Chúa Giê-su nhắc đi nhắc lại với chúng ta mà không biết chán: "Chính anh em hãy cho họ ăn đi" (Mc 6: 37).

 

Chương 2

Giữa Cuộc Khủng Hoảng

Về Việc Tham Gia Cộng Ðồng

 

50. Trước khi đề cập đến vài vấn đề cơ bản liên quan đến công cuộc Phúc Âm Hóa, có thể là hữu ích khi kể ra ngắn gọn bối cảnh trong đó tất cả chúng ta phải sống và làm việc. Ngày nay, chúng ta thường nghe nói về "một sự chẩn đoán quá mức" mà không luôn luôn được đi kèm với những phương pháp điều trị được cải thiện và trên thực tế có thể áp dụng. Chúng ta cũng sẽ không được phục vụ tốt bởi việc phân tích thuần túy xã hội mà mục đích của nó là bao gồm tất cả thực tại bằng cách sử dụng phương pháp chữa trị được cho là trung lập. Ðiều tôi xin đề nghị ở đây là phân định Tin Mừng. Ðây là cách tiếp cận của người môn đệ truyền giáo, cách tiếp cận "được soi sáng và củng cố nhờ Chúa Thánh Thần". [53]

51. Nhiệm vụ của vị Giáo Hoàng không phải đưa ra một phân tích đầy đủ chi tiết về thực tại đương thời, nhưng tôi khuyến khích tất cả các cộng đồng "xem xét cẩn trọng các dấu chỉ thời đại". [54] Ðó quả là một nhiệm vụ quan trọng, bởi vì một số thực tại hiện nay, nếu không được bàn đến cách có hiệu quả, có thể gây ra tiến trình phi nhân bản không thể cứu vãn được. Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng điều gì có thể là thành quả của Nước Thiên Chúa với điều gì đi ngược lại kế hoạch của Thiên Chúa. Ðiều này đòi hỏi không chỉ nhận ra và phân định thần lành và thần dữ, nhưng cũng - và đây là điều có tính quyết định - chọn những động thái của thần lành và loại bỏ những tác hại của thần dữ. Ðương nhiên là tôi không thể bỏ qua các phân tích khác nhau đã được các tài liệu khác của Huấn Quyền phổ quát đưa ra, cũng như các tài liệu đã được các Giám Mục quốc gia và vùng đề nghị. Trong Tông Huấn này, tôi chỉ khảo sát cách ngắn gọn, và từ viễn cảnh mục vụ, vài tác nhân có thể làm cản trở hoặc làm suy yếu niềm hưng phấn canh tân truyền giáo trong Giáo Hội, hoặc vì chúng đe dọa đến sự sống và nhân phẩm của dân Thiên Chúa, hay vì chúng có ảnh hưởng đến những người có liên quan trực tiếp đến các cơ cấu của Giáo Hội và công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội.

 

I. Vài Thách Ðố Của Thế Giới Ngày Nay

52. Trong thời đại chúng ta, nhân loại đang trải qua một khúc quanh lịch sử, như chúng ta có thể thấy từ những tiến bộ đang được thực hiện trong nhiều lãnh vực. Chúng ta chỉ biết ca ngợi những thành tựu giúp cải thiện phúc lợi của con người trong nhiều lãnh vực như là chăm sóc sức khỏe, giáo dục và truyền thông. Ðồng thời, chúng ta phải nhớ rằng đa số những người thời đại chúng ta đang sống bất ổn từng ngày, với những hậu quả tai hại. Một số bệnh đang gia tăng. Nhiều người sợ hãi và tuyệt vọng, ngay cả trong những nước được gọi là giàu có. Niềm vui sống thường xuyên bị phai nhạt, lòng tôn trọng người khác không còn và bạo lực đang gia tăng, sự bất bình đẳng ngày càng trở nên rõ nét. Chúng ta phải đấu tranh để sống, và thường sống với một nhân phẩm ít ỏi. Sự thay đổi của thời đại này được thúc đẩy bởi chất lượng, số lượng vượt bậc, những tiến bộ nhanh chóng và tích lũy xảy ra trong những khoa học và kỹ thuật, cũng như bởi việc áp dụng chúng cách nhanh chóng vào các lĩnh vực khác nhau của thiên nhiên và đời sống. Chúng ta đang ở trong một thời đại kiến thức và thông tin, dẫn đến những loại quyền lực mới và thường thì vô danh.

Trả lời không với một nền kinh tế khai trừ

53. Như huấn lệnh "chớ giết người" đặt ra một giới hạn rõ ràng để bào vệ giá trị đời sống con người, ngày nay, chúng ta phải cũng phải nói "không với một nền kinh tế khai trừ và bất bình đẳng". Một nền kinh tế như thế là sát nhân. Thử hỏi khi một ngưởi già vô gia cư nằm chết ngoài đường thì không được xem là một mẫu tin, trong khi thị trường hối đoái trụt xuống hai điểm lại là tin tức? Ðó là trường hợp khai trừ. Làm sao chúng ta có thể khoanh tay đứng nhìn khi mà thức ăn dư thừa bị đổ đi trong khi có nhiều người đang chết đói? Ðó là trường hợp bất bình đẳng. Ngày nay, mọi thứ đều chịu sự chi phối bởi những luật cạnh tranh và những kẻ biết thích ứng nhất mới có thể tồn tại, theo đó những người mạnh nuốt chửng những người yếu. Hậu quả là một khối lớn dân chúng đang bị khai trừ và bị gạt ra ngoài lề: không có công ăn việc làm, không có triển vọng, không có có lối thoát. Con người bị xem là thứ hàng hóa tiêu thụ, nay sử dùng mai bỏ đi. Chúng ta đã tạo ra nền văn hóa "vất bỏ", hiện nay đang phổ biến. Nền văn hóa này không còn đơn thuần là bốc lột và áp bức, nhưng có một điều gì mới: xét cho cùng, sự loại bỏ phải có quan hệ đến một phần của xã hội ở đó chúng ta sống; những người bị khai trừ ở tầng lớp thấp, ở ngoài lề xã hội, hay bị tước đoạt hết quyền lực. Những người bị khai trừ không là "những người bị bóc lột", nhưng những người không chốn nương thân, "đồ cặn bả".

54. Trong bối cảnh này, vài ngưởi vẫn bảo vệ những lý thuyết "nhỏ giọt (trickle-down)" khi chủ trương rằng sự phát triển kinh tế, được khuyến khích bởi thị trường tự do, rồi sẽ thành công trong việc thực hiện công bình và bao hàm lớn hơn trên thế giới. Quan điểm này, dù chưa bao giờ được các sự kiện khẳng định, diễn tả niềm tín thác thô thiển và ngây thơ vào lòng tốt của những người nắm quyền lực kinh tế và vào cách vận hành thế tục của hệ thống kinh tế đang thịnh hành. Trong khi đó, những người bị khai trừ vẫn chờ đợi. Ðể chống đỡ một kiểu sống khai trừ người khác hay lòng nhiệt thành đối với lý tưởng vị kỷ này, thái độ lãnh đạm càng lúc càng toàn cầu hóa. Hầu như không nhận thức điều đó, cuối cùng chúng ta không còn biết động lòng trắc ẩn trước những tiếng khóc than của người nghèo, không còn biết mũi lòng trước nổi đau của người khác, hay không cảm thấy nhu cầu giúp đỡ họ, như thử đây là trách nhiệm của ai đó chứ không là của chính chúng ta. Nền văn hóa của sự phồn vinh khiến chúng ta vô cảm; chúng ta cảm thấy vui sướng nếu thị trường đưa ra một mặt hàng mới để mua; trong lúc đó tất cả những mảnh sống cằn cỗi đó vì thiếu cơ hội xem ra đơn thuần một cảnh tượng, chẳng khiến chúng ta rung cảm.

Trả lời không với ngẫu tượng mới của tiền bạc

55. Nguyên nhân duy nhất của thảm trạng này được gặp thấy ở nơi mối quan hệ của chúng ta với tiền bạc, vì chúng ta ngầm thản nhiên nhận quyền thống trị của nó trên bản thân chúng ta và trên các xã hội của chúng ta. Cuộc khủng hoảng tài chính có thể khiến chúng ta bỏ qua sự kiện là nó có cội nguồn ở nơi cuộc khủng hoảng nhân bản sâu xa: việc từ chối tính ưu việt của con người! Chúng ta đã tạo ra ngẫu tượng mới. Việc thờ bò vàng xưa kia (x. Xh 32:1-35) đã trở lại dưới chiêu bài mới và nhẫn tâm ở nơi việc tôn thờ tiền bạc và chế độ độc tài của nền kinh tế phi nhân vị vì thiếu một mục đích thật sự nhân bản. Cuộc khủng hoảng toàn cầu, tác động đến nền tài chánh và kinh tế, bốc trần sự mất thăng bằng của chúng, và trên hết, chúng ta không còn quan tâm đến con người; con người bị giảm thiểu đến mức chỉ còn là một trong những nhu cầu của nó: sự tiêu thụ.

56. Trong khi lợi nhuận của một thiểu số đang gia tăng theo cấp số nhân, thì khoảng cách giữa đa số người nghèo và tiểu số người giàu càng ngày càng lớn. Sự mất cân bằng này bắt nguồn từ ý thức hệ bảo vệ quyền tự chủ tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính. Kết quả là người ta từ chối quyền kiểm soát của các quốc gia là cơ quan có nhiệm vụ duy trì lợi ích chung. Một chế độ chuyên chế mới thật sự được sinh ra, dù vô hình và đôi khi tiềm ẩn, chế độ này không ngừng áp đặt luật lệ và những quy tắc của nó một cách đơn phương. Nợ nần và tiền lãi chồng chất khiến nhiều quốc gia khó thực hiện tiềm năng kinh tế riêng của mình, cũng như khó ngăn cản các công dân vui hưởng quyền mua sắm thật sự. Thêm vào đó, nạn tham nhũng có hệ thống và nạn trốn thuế ích kỷ đạt đến tầm mức toàn cầu. Lòng tham quyền và tham của không đáy. Trong hệ thống này, hệ thống có khuynh hướng nuốt chửng bất cứ thứ gì cản đường cho việc gia tăng lợi nhuận, bất cứ thứ gì, dù dể vỡ, như môi trường, không thể tự bảo vệ mình trước lợi ích của một thị trường được tôn thờ như thượng đế, trở thành luật duy nhất.

Trả lời không với việc tiền bạc là cai trị chứ không là phục vụ

57. Ðằng sau thái độ này ẩn nấp việc bác bỏ đạo đức và việc bác bỏ Thiên Chúa. Ðạo đức thường được xem như một trò hề. Nó bị coi là phản tác dụng và quá nhân bản, bởi vì nó tương đối hóa tiền bạc và quyền lực. Nó bị coi như một mối đe dọa, vì nó lên án việc điều khiển và hạ thấp con người. Thật ra, đạo đức dẫn đến Thiên Chúa, Ðấng kêu gọi một câu trả lời dấn thân ngoài bảng liệt kê các thương trường. Sau này khi các thương trường này được tuyệt đối hóa, Thiên Chúa có thể chỉ được coi là không thể kiểm soát được, không thể quản lý được, và thậm chí nguy hiểm, bởi vì Ngài kêu gọi con người hãy thể hiện chính mình cách sung mãn và giải thoát mình khỏi mọi hình thức nô lệ. Ðạo đức - một nền đạo đức không ý thức hệ - khả dĩ thiết lập thế cân bằng và một trật tự xã hội nhân bản hơn. Theo nghĩa này, tôi kêu mời các chuyên gia tài chính và các nhà lãnh đạo chính trị suy gẫm những lời của một hiền nhân thời xưa: "Không chia sẻ của cải của mình với người nghèo là ăn cắp của họ và tước đoạt sinh kế của họ. Ðây không phải là tài sản của chúng ta mà chúng ta giữ lấy, nhưng là của họ". [55]

58. Một cuộc cải cách tài chính mở ra những cân nhắc đạo đức như thế sẽ đòi hỏi một sự thay đổi quyết liệt về cách tiếp cận về phía các nhà lãnh đạo chính trị. Tôi khẩn khoản kêu gọi họ đối mặt với thách đố này bằng quyết tâm và một tầm nhìn hướng đến tương lai, dĩ nhiên không phải là không biết những đặc thù của từng trường hợp. Tiền bạc phải phục vụ chứ không là cai trị! Ðức Thánh Cha yêu thương hết mọi người, giàu cũng như nghèo, nhưng ngài có bổn phận, nhân danh Ðức Ki-tô, nhắc mọi người nhớ rằng người giàu phải giúp đỡ, tôn trọng và thăng tiến người nghèo. Tôi khuyên anh chị em hãy liên đới cách vị tha và đưa nền kinh tế tài chính trở lại một cách tiếp cận đạo đức có lợi cho con người.

Trả lời không với sự bất bình đẳng, mầm mống của bạo lực

59. Ngày nay, khắp nơi, người ta nghe lời kêu gọi biện pháp an ninh rộng lớn hơn. Nhưng chừng nào sự khai trừ và sự bất bình đẳng trong xã hội giữa người với người vẫn còn đó, thì sẽ không thể loại trừ bạo lực. Những người nghèo và những người nghèo hơn bị buộc tội là bạo lực, nhưng nếu không có những cơ hội bình đẳng, thì những hình thức gây hấn và xung đột khác sẽ gặp thấy mảnh đất màu mỡ để lớn lên và rốt cuộc bùng phát. Khi một xã hội - dù địa phương, quốc gia hay toàn cầu - bỏ mặc thành phần bên lề xã hội, thì không một chương trình chính trị hay nguồn phí tổn nhằm vào việc tăng cường luật pháp hay những hệ thống canh phòng lại có thể bảo đảm tình trạng yên ổn luôn mãi. Ðây là trường hợp không phải chỉ vì tình trạng bất bình đẳng gây nên phản ứng bạo động từ những kẻ bị khai trừ khỏi hệ thống, nhưng vì hệ thống kinh tế xã hội bất công đến tận gốc rễ của nó. Lòng tốt có khuynh hướng lan tỏa như thế nào, thì việc dung thứ sự dữ, tự nó là bất công, có khuynh hướng khuyếch trương tác hại của nó và âm thầm phá hoại những nền móng của hệ thống chính trị và xã hội cũng như vậy, bất chấp vẻ bề ngoài vững chắc của chúng. Nếu mọi hành động đều có những hậu quả, thì sự dữ, ẩn mình trong những cơ cấu của một xã hội, có tiềm năng dẫn đến sự phân hủy và sự chết. Chính vì sự dữ kết tinh trong các cơ cấu xã hội bất công, nên các cơ cấu này không thể là nền tảng đem lại niềm hy vọng ươm mầm một tương lai tốt đẹp hơn. Chúng ta đang ở xa cái gọi là "kết thúc của lịch sử", vì những điều kiện cho sự phát triển hòa bình và bền vững chưa được ăn khớp và thực hiện cách thích đáng.

60. Những cơ chế kinh tế hiện nay cổ võ sự tiêu thụ quá đáng, nhưng rõ ràng là chủ nghĩa tiêu thụ buông thả được phối hợp với tình trạng bất bình đẳng gây thiệt hại gấp đôi cho cơ cấu xã hội. Tình trạng bất bình đẳng, rốt cuộc sinh ra bạo lực, mà cuộc chạy đua vũ trang không thể và sẽ không bao giờ giải quyết được. Nó chỉ được dùng để đưa ra những hy vọng giả tạo cho những người kêu gào một nền an ninh được vũ trang hơn, dù ngày nay chúng ta biết rằng vũ khí và bạo lực, chứ không cung cấp những giải pháp, tạo ra những xung đột mới và còn nghiêm trọng hơn. Một số người đơn giản tạm bằng lòng với việc quy tội cho những người nghèo và các nước nghèo vì những rối loạn của họ; thỏa thích trong những khái quát không đâu vào đâu, họ quả quyết rằng giải pháp là "việc giáo dục" giúp cho những người đó hiền lành hơn, dể bảo hơn và vô hại hơn. Tất cả điều này thậm chí càng làm cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội trở nên bực tức hơn trong ánh sáng của sự thối nát tận gốc rễ và phổ biến được gặp thấy ở nơi nhiều nước - trong các chính quyền, các doanh nghiệp và các định chế của họ - dù ý thức hệ chính trị của các vị lãnh tụ của họ là gì đi nữa.

Vài thách đố văn hóa

61. Chúng ta cũng loan báo Tin Mừng khi chúng ta cố gắng đương đầu với những thách đố muôn hình vạn trạng có thể xuất đầu lộ diện. [56] Thỉnh thoảng những thách đố này có thể mang hình thức của những tấn công thực sự vào sự tự do tôn giáo hoặc những bách hại mới trực chỉ chống các Kitô hữu; trong vài quốc gia những thách đố này đã đạt đến mức báo động về hận thù và bạo lực. Ở nhiều nơi, vấn đề còn hơn cả thái độ lãnh đạm phổ biến và chủ nghĩa tương đối rộng khắp, liên kết với sự vỡ mộng và cuộc khủng hoảng ý thức hệ, xảy ra như một phản ứng chống lại bất kỳ điều gì có vẻ chuyên chế. Ðiều này không chỉ làm hại Giáo Hội nhưng toàn bộ cơ cấu xã hội. Chúng ta nên nhận ra rằng trong một nền văn hóa, trong đó mỗi người đều muốn là người mang chân lý chủ quan của riêng mình, thật là khó biết bao đối với những công dân nghĩ ra một dự án chung vượt trên tư lợi và những tham vọng cá nhân.

62. Trong nền văn hóa thịnh hành, quyền ưu tiên được ban cho cái bề ngoài, cái tức khắc, cái hữu hình, cái nhanh chóng, cái mặt nổi và cái tạm thời. Cái gì có thật nhường chỗ cho những cái bề ngoài. Trong nhiều quốc gia, việc toàn cầu hóa đã đồng nghĩa với sự suy thoái nhanh chóng những cội nguồn văn hóa riêng của họ và cuộc xâm lăng của những cách tư duy và hành xử đặc thù của những nền văn hóa khác tiến bộ về phương diện kinh tế nhưng yếu kém về phương diện đạo đức. Sự kiện này đã được nhiều Thượng Hội Ðồng Giám Mục khác nhau từ các châu lục khác nhau đưa ra. Chẳng hạn như các Giám Mục Phi Châu, nhắc lại Thông Ðiệp Solicitudo Rei Socialis, đã vạch rõ từ nhiều năm rằng người ta đã nhiều lần toan tính biến những quốc gia Phi Châu thành "những bộ phận của một cổ máy, những chiếc răng cưa trên một bánh xe khổng lồ. Ðiều này thường cũng đúng trong lãnh vực truyền thông xã hội, được điều hành bởi những trung tâm chủ yếu ở bắc bán cầu, không luôn luôn để ý đến những ưu tiên và những vấn đề của các quốc gia này, cũng như không tôn trọng những bản sắc văn hóa của họ".[57] Tương tự như thế, các Giám Mục Á Châu nhấn mạnh đến "những ảnh hưởng bên ngoài đè nặng trên các nền văn hóa Á Châu. Những dạng thức cư xử mới đang nổi lên như là hệ lụy của phương tiện truyền thông đại chúng [...] Kết cuộc là những khía cạnh tiêu cực của các phương tiện truyền thông và kỹ nghệ giải trí đang đe dọa các giá trị truyền thống, đặc biệt sự thánh thiêng của hôn nhân và sự bền vững của gia đình". [58]

63. Ðức tin Công Giáo của nhiều người hiện nay đang bị thách đố bởi sự sinh sôi nẩy nở của những phong trào tôn giáo mới, một vài trong số đó có chiều hướng theo chủ nghĩa cơ yếu, trong khi một số khác xem ra đề xuất một nền linh đạo vô thần. Ðiều này, một mặt, là phản ứng con người chống lại một xã hội cá nhân, tiêu thụ và duy vật, nhưng cũng là phương tiện khai thác sự yếu đuối của những người đang sống trong cảnh nghèo khổ và bên lề xã hội, những người sống cho qua ngày đoạn tháng giữa những đau khổ lớn lao của kiếp người và đang tìm kiếm những giải pháp tức thời cho các nhu cầu của họ. Các phong trào tôn giáo này, không phải là không có kế hoạch nào đó, đến để lấp đầy một khoảng trống mà chủ nghĩa duy lý thế tục để lại trong lòng một nền văn hóa đề cao cá nhân. Chúng ta phải nhận ra rằng nếu một phần trong số những người đã được rửa tội thiếu nhận thức là mình thuộc về Giáo Hội, điều này cũng do những cơ cấu nào đó và bầu khí đôi khi lạnh nhạt ở một số giáo xứ và cộng đồng của chúng ta, hoặc một thái độ quan liêu khi xử lý những vấn đề, dù đơn giản hay phức tạp, trong đời sống của giáo dân. Ở nhiều nơi, cách tiếp cận hành chính chiếm ưu thế trên cách tiếp cận mục vụ, cũng như cách tập trung vào việc cử hành các Bí Tích mà không có những hình thức Phúc Âm Hóa khác.

64. Tiến trình thế tục hóa có chiều hướng rút gọn đức tin và Giáo Hội vào phạm vi riêng tư và cá nhân. Hơn nữa, khi hoàn toàn bác bỏ sự siêu việt, người ta đã sản sinh một sự suy thoái đạo đức càng lúc càng lớn mạnh, một nhận thức yếu kém về tội lỗi cá nhân và xã hội cũng như một sự tăng trưởng vững chắc của chủ nghĩa tương đối. Những sự việc này đã dẫn đến một nhận thức khái quát là mất phương hướng, đặc biệt trong các giai đoạn vị thành niên và thanh niên, là những giai đoạn rất dễ bị tổn thương khi thay đổi. Như các Giám Mục Hoa Kỳ đã vạch rõ thật đúng, trong khi Giáo Hội nhấn mạnh sự hiện hữu của những quy tắc luân lý khách quan có giá trị cho tất cả mọi người, thì lại "có những người trong nền văn hóa của chúng ta miêu tả những giáo huấn này là không đúng, nghĩa là, trái với những quyền cơ bản của con người. Những tuyên bố như thế thường đi theo từ một hình thức của chủ nghĩa tương đối luân lý được chắp nối, không phải không mâu thuẫn, đến một niềm tin vào các quyền tuyệt đối của cá nhân. Theo quan điểm này, Giáo Hội được quan niệm như cổ võ một thành kiến cá nhân và như can thiệp vào sự tự do cá nhân". [59] Chúng ta đang sống trong một xã hội bị lèo lái bởi thông tin, một xã hội dội bom bừa bãi vào chúng ta bằng những dữ liệu - tất cả được coi là quan trọng như nhau - dẫn đến một sự phiến diện trong lãnh vực phân định luân lý. Ðể trả lời, chúng ta cần một nền giáo dục dạy cách tư duy biết phản biện và khuyến khích phát triển những giá trị luân lý trưởng thành.

65. Bất chấp làn sóng chủ nghĩa thế tục đã quét sạch xã hội chúng ta, ở nhiều quốc gia - kể cả những nước Kitô Giáo là thiểu số - theo dư luận quần chúng, Giáo Hội Công Giáo được coi là một định chế khả tín, đáng tin cậy vì Giáo Hội liên đới và quan tâm đến những người nghèo khổ nhất. Hết lần này đến lần khác, Giáo Hội đã hành xử như trung gian trong việc giải quyết những vấn đề ảnh hưởng đến hòa bình, hòa hợp xã hội, đất đai, bảo vệ sự sống, nhân quyền và quyền công dân, vân vân. Các trường học và các đại học Công Giáo trên toàn thế giới đã đóng góp biết bao điều tốt đẹp! Nhưng thật là khó khăn để giúp mọi người thấy rằng khi chúng ta nêu lên những vấn đề khác ít được quần chúng chấp nhận, sở dĩ chúng ta đang làm như vậy vì chúng ta kiên vững trung thành với nhân phẩm và công ích.

66. Gia đình đang trải qua một cuộc khủng hoảng văn hóa sâu xa, như tất cả các cộng đồng và các mối dây liên kết xã hội. Trong trường hợp gia đình, tình trạng mong manh của những mối dây liên kết này thì đặc biệt nghiêm trọng bởi vì gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, ở đó chúng ta học sống chung với nhau bất chấp những khác biệt của người này với người khác và nương tựa vào nhau; gia đình cũng là nơi cha mẹ chuyển giao đức tin cho con cái. Hiện nay, hôn nhân có chiều hướng được coi như một hình thức thỏa mãn tình cảm chứ không gì khác, có thể được xây dựng theo bất kỳ cách thức nào hoặc thay đổi tùy ý. Nhưng sự đóng góp cần thiết của hôn nhân cho xã hội vượt trên những tình cảm và nhu cầu tiền bạc của vợ chồng. Như các Giám Mục Pháp đã dạy rằng hôn nhân không sinh ra "từ cảm xúc yêu thương, theo định nghĩa phù du, nhưng từ chiều sâu của bổn phận được đảm nhận bởi vợ chồng đồng thuận hội nhập vào một sự hiệp thông toàn diện của cuộc đời". [60]

67. Chủ nghĩa cá nhân của thời hậu hiện đại và kỷ nguyên toàn cầu hóa của chúng ta ủng hộ một cách sống làm suy yếu sự phát triển và ổn định của những mối quan hệ nhân vị và làm biến dạng các mối dây liên kết gia đình. Hoạt động mục vụ cần phải thể hiện rõ ràng hơn sự kiện theo đó mối quan hệ của chúng ta với Cha của chúng ta đòi hỏi và khuyến khích một sự hiệp thông chữa lành, thúc đẩy và tăng cường mối dây liên kết hỗ tương giữa người với người. Trong thế giới chúng ta, đặc biệt trong vài quốc gia, những hình thức chiến tranh và xung đột khác nhau đang tái xuất hiện, tuy nhiên chúng ta, là người Kitô hữu, vẫn một mực kiên vững trong ý định của chúng ta là kính trọng tha nhân, chữa lành những vết thương, bắc những nhịp cầu nối kết, tăng cường những mối quan hệ và "mang gánh nặng cho nhau" (Gl 6: 2). Ngày nay cũng vậy, những hiệp hội đa dạng để bảo vệ quyền lợi và theo đuổi những mục đích cao cả đang được thiết lập. Ðây là dấu chỉ cho thấy nhiều người muốn góp phần vào sự phát triển văn hóa và xã hội.

Những thách đố đối với việc hội nhập đức tin vào văn hóa

68. Nền tảng Ki-tô giáo lâu đời của một số dân tộc - hầu hết các dân tộc Tây Phương - là một thực tại sống động. Ở đây, chúng ta gặp thấy, đặc biệt giữa những người túng thiếu nhất, một tài nguyên luân lý bảo tồn những giá trị của một nền nhân bản Ki-tô giáo đích thật. Khi thấy thực tại bằng con mắt đức tin, chúng ta không thể không nhận ra những gì Chúa Thánh Thần đang gieo. Chúng ta tỏ ra thiếu tin tưởng vào hoạt động tự do và hào phóng của Chúa Thánh Thần khi nghĩ rằng những giá trị Ki-tô giáo vắng bóng ở nơi mà một số lượng lớn dân chúng đã được rửa tội và diễn tả niềm tin và sự liên đới của họ với người khác theo nhiều cách thế đa dạng. Ðiều muốn nói nhiều hơn là "hạt giống Lời Chúa", bởi vì Lời Chúa có liên hệ đến đức tin Ki-tô giáo chân chính, đức tin này có những cách diễn tả riêng của nó và những phương tiện riêng của nó để bày tỏ mối quan hệ của nó với Giáo Hội. Chúng ta không thể nào bỏ qua tầm quan trọng bao la của nền văn hóa được ghi dấu ấn đức tin; trước nhưng cuộc tấn công dữ dội của chủ nghĩa thế tục đương thời, nền văn hóa được Phúc Âm hóa, đối với tất cả những giới hạn của nó, có nhiều tài nguyên chứ không đơn thuần là một tổng số các tín hữu. Một nền văn hóa bình dân được Phúc Âm hóa chứa đựng những giá trị đức tin và tình liên đới có khả năng thúc đẩy sự phát triển của một xã hội công bằng hơn và khả tín hơn cũng như sở hữu sự khôn ngoan đặc thù mà chúng ta phải thừa nhận với lòng biết ơn.

69. Phải Phúc Âm hóa các nền văn hóa để hội nhập Tin Mừng vào văn hóa. Trong những đất nước thuộc truyền thống Công Giáo, lệnh truyền này có nghĩa khuyến khích, cổ vũ và củng cố sự phong phú vốn có rồi. Trong những đất nước thuộc các truyền thống tôn giáo khác, hay những đất nước bị thế tục hóa sâu xa, lệnh truyền này có nghĩa gây ra những tiến trình mới để Phúc Âm hóa nền văn hóa, thâm chí dù những tiến trình này đòi hỏi kế hoạch dài lâu. Dù thế nào, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ trong tâm trí rằng chúng ta thường hằng được kêu gọi lớn lên. Trong trường hợp của những nền văn hóa bình dân thuộc các dân tộc Công Giáo, chúng ta có thể thấy những nhược điểm cần phải được Tin Mừng chữa lành: thượng tôn nam giới, nạn nghiện ngập, bạo lực trong gia đình, tham dự Thánh Lễ thấp, tin vào thuyết định mệnh hoặc mê tín dị đoan dẫn đến việc bùa phép, vân vân. Lòng đạo đức bình dân tự nó có thể là khởi điểm để chữa lành và là sự giải thoát khỏi những nhược điểm này.

70. Cũng thật sự rằng đôi khi người ta nhấn rất mạnh đến những cách diễn tả bên ngoài và các truyền thống của vài nhóm, hay những mặc khải tự nhận là mặc khải tư thay thế tất cả mọi mặc khải khác, chứ không niềm hưng phấn của lòng đạo đức Ki-tô giáo. Có một loại Ki-tô giáo được hình thành bởi lòng mộ đạo phản ảnh một cuộc sống quá tình cảm cá nhân quả thật không xứng hợp với "lòng đạo đức bình dân" chân chính. Vài người cổ vũ những cách diễn tả này mà không quan tâm đến sự tiến bộ xã hội hay việc đào tạo các tín hữu, và trong một số trường hợp họ làm như thế chẳng qua chỉ vì mưu cầu lợi ích kinh tế hay đạt được quyền hành nào đó trên những người khác. Chúng ta cũng không thể bỏ qua sự kiện là trong những thập niên gần đây, cách thế những người Công Giáo chuyển giao đức tin Ki-tô giáo cho giới trẻ đã trở nên suy yếu. Không thể chối cãi rằng nhiều người cảm thấy thất vọng và không còn gắn bó với truyền thống Công Giáo nữa. Những bậc phụ huynh, số lượng này càng ngày càng đông, không đem con cái mình đến rửa tội hay dạy cho chúng biết cầu nguyện. Có một cuộc xuất hành nào đó hướng đến những cộng đồng đức tin khác. Những nguyên do của sự thất bại này bao gồm: thiếu cơ hội đối thoại trong gia đình, chịu ảnh hưởng các phương tiện truyền thông, chủ nghĩa tương đối chủ quan, chủ nghĩa tiêu thụ buông thả theo lòng ham muốn mua sắm, thiếu chăm sóc mục vụ giữa những người nghèo, không có những định chế đón tiếp, và khó khăn trong việc phục hồi sự gắn bó mầu nhiệm với đức tin trong một khung cảnh đa tôn giáo.

Những thách đố từ những nền văn hóa đô thị

71. Thành thánh Giêrusalem mới (x. Kh 21: 2-4) là đích điểm mà toàn thể nhân loại đang hướng đến. Thật kỳ lạ là Mạc Khải nói cho chúng ta biết rằng sự viên mãn của con người và của lịch sử được thực hiện trong một thành. Chúng ta cần phải nhìn vào những thành phố chúng ta với một cái nhìn chiêm niệm, một cái nhìn đức tin để thấy Thiên Chúa đang cư ngụ trong những mái ấm gia đình của chúng, trên những con đường và những quảng trường của chúng. Sự hiện diện của Thiên Chúa đồng hành với những cá nhân và những nhóm khi họ nổ lực thật sự để tìm thấy niềm khích lệ và ý nghĩa ở nơi cuộc đời của mình. Ngài cư ngụ ở giữa họ để thúc đấy sự liên đới, tình bằng hữu và lòng ước muốn điều thiện, chân lý và công bằng. Sự hiện diện này không phải được bày đặt ra, nhưng được tìm thấy và được phát hiện. Thiên Chúa không ẩn mình đối với những ai chân thành tìm kiếm Ngài, thậm chí dù họ làm như vậy với một thái độ dò dẫm, mơ hồ và không rõ ràng.

72. Trong những thành phố, trái với thôn quê, chiều kích tôn giáo được diễn tả bởi những lối sống khác nhau, những nhịp điệu hằng ngày được kết nối với những nơi chốn và những con người. Trong cuộc sống hằng ngày, dân thành thị thường phải đấu tranh để sinh tồn và cuộc đấu tranh này tự nó hàm chứa một sự hiểu biết sâu xa về cuộc sống kể cả một cảm thức tôn giáo sâu sắc. Chúng ta cần phải khảo sát điều này cách kỷ lưỡng hơn để mở ra một cuộc đối thoại như cuộc đối thoại của Chúa chúng ta với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng, nơi chị tìm đến để làm dịu cơn khát của mình (x. Ga 4: 7-26).

73. Những nền văn hóa mới thường hằng phát sinh trong những vùng dân cư mới và đông đúc này, nơi mà các Kitô hữu không còn là những người giải thích ý nghĩa hay những người tạo ra ý nghĩa như trước đây nữa. Thay vì đó, họ nhận được từ những nền văn hóa này những ngôn từ mới, những biểu tượng mới, những sứ điệp mới và những mẫu thức mới đề xuất những cách tiếp cận mới về cuộc sống, những cách tiếp cận này thường tương phản với Tin Mừng của Ðức Giê-su. Một nền văn hóa hoàn toàn mới đã chào đời và tiếp tục lớn lên trong các thành phố. Thượng Hội Ðồng Giám Mục đã ghi nhận rằng ngày nay, những thay đổi xảy ra trong những không gian rộng lớn này và nền văn hóa mà chúng tạo ra là địa điểm ưu tiên cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa. [61] Ðiều này thách thức chúng ta phải tưởng tượng ra những không gian và những khả thể mới cho lời cầu nguyện và sự hiệp thông hấp dẫn và có ý nghĩa hơn đối với dân cư thành thị. Chịu ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng, những vùng nông thôn đang bị những thay đổi văn hóa như vậy tác động, những thay đổi này cũng đang biến đổi lối sống của họ.

74. Ðiều mà người ta đòi hỏi là công cuộc Phúc Âm Hóa có khả năng giải chiếu ánh sáng trên những cách thức mới này liên hệ đến Thiên Chúa, tha nhân và thế giới chung quanh chúng ta, cũng như khơi nguồn hứng khởi cho những giá trị chính yếu. Công việc này phải đạt đến những nơi chốn, nơi mà chúng ta hình thành những chuyện kể và mẫu thức mới để đem Lời của Ðức Giê-su đến tận tâm hồn sâu thẳm nhất của các dân thành thị chúng ta. Các thành phố vốn đa văn hóa; trong những thành phố lớn, người ta gặp thấy một màng lưới kết nối trong đó những nhóm người chia sẻ một trí tưởng tượng và những giấc mơ chung về cuộc sống, những người này tạo nên những tác động hỗ tương giữa người với người, những nền văn hóa mới, những thành phố vô hình. Các hình thức văn hóa phụ đa dạng cùng tồn tại bên cạnh nhau, nhưng thường thực hành sự phân biệt và bạo lực. Giáo Hội được mời gọi phục vụ một cuộc đối thoại khó khăn. Mặt khác, có những dân thị thành có phương tiện cần thiết để phát triển cuộc sống cá nhân và gia đình của mình, nhưng cũng có nhiều người "không phải dân thị thành", "dân bán thị thành" và "dân thị thành còn lại". Các thành phố tạo nên một môi sinh thường hằng phức tạp, bởi vì trong khi chúng cống hiến cho cư dân những khả năng vô tận, thì chúng cũng đưa ra cho nhiều người những chướng ngại ngăn trở việc phát triển đầy đủ cuộc sống của họ. Sự tương phản này gây ra nỗi đau thấm thía. Ở nhiều nơi trên thế giới, các thành phố là cảnh trí diễn ra những cuộc biểu tình tập thể, ở đó hàng ngàn người kêu gọi sự tự do, đòi hỏi có tiếng nói trong đời sống công cộng, công lý và muôn vàn những đòi hỏi khác nữa mà nếu không được hiểu đúng, thì không thể dùng bạo lực trấn áp để buộc họ phải câm lặng.

75. Chúng ta không thể giả vờ như không biết sự kiện là trong các thành phố xảy ra nạn buôn bán người, nạn buôn bán ma túy, nạn lạm dụng và bóc lột trẻ vị thành niên, nạn bỏ rơi người già và bệnh tật, các hình thức tham nhũng đa dạng và hoạt động tội phạm. Ðồng thời, các thành phố đáng lẽ ra là những nơi gặp gỡ và liên đới thì thường lại trở thành những nơi cô lập và ngờ vực lẫn nhau. Những căn nhà và các vùng lân cận được xây lên để cô lập và bảo vệ chứ không để kết nối và hòa nhập. Việc công bố Tin Mừng sẽ là nền tảng cho việc khôi phục phẩm giá của đời sống con người trong những bối cảnh này, vì Ðức Giê-su ước mong đổ tràn sự sống dồi dào trên các thành phố của chúng ta (x. Ga 10:10). Một nhận thức đầy đủ và thống nhất về đời sống con người mà Tin Mừng đề nghị là phương thuốc tốt nhất cho những căn bệnh của thành phố chúng ta, thậm chí cho dù chúng ta phải nhận ra rằng một chương trình Phúc Âm Hóa đồng dạng và cứng nhắc không thích hợp với thực tại phức tạp này. Nhưng việc sống cuộc sống nhân bản cho thật sung mãn và việc chạm trán mỗi thách đố như chất men của nhân chứng Tin Mừng trong mỗi nền văn hóa và trong mỗi thành phố sẽ làm cho chúng ta trở thành những Ki-tô hữu tốt hơn và sinh hoa trái trong thành phố chúng ta.

 

II. Những Cám Dỗ Mà Những Người Làm Việc Mục Vụ Phải Ðối Mặt

76. Tôi hết lòng biết ơn những ai dấn thân trong Giáo Hội và cho Giáo Hội. Ở đây tôi không muốn bàn luận thêm nữa những hoạt động của những người làm việc mục vụ khác nhau, từ các Giám Mục xuống cho đến những người phục vụ cách khiêm tốn và âm thầm nhất. Ðúng hơn, tôi muốn suy nghĩ về những thách đố mà tất cả họ phải đối mặt trong bối cảnh của nền văn hóa toàn cầu hóa hiện nay của chúng ta. Tuy nhiên, trước hết tôi phải công bằng mà nói rằng sự đóng góp của Giáo Hội trong thế giới ngày nay thật là bao la. Dù cảm thấy đau lòng và xấu hổ vì tội lỗi của một số thành viên Giáo Hội và vì tội lỗi của chính mình, chúng ta không bao giờ được phép quên đi tất cả những Kitô hữu đã hiến dâng cuộc đời mình trong tình yêu: họ giúp đỡ quá nhiều người để những người ấy được chữa lành hoặc được chết trong bình an ở các trạm xá. Họ hiện diện bên cạnh những người bị nô lệ bởi những nạn nghiện ngập khác nhau ở những nơi nghèo nhất trên trái đất. Họ hiến thân cho việc giáo dục trẻ em và thanh niên. Họ chăm sóc những người già cả không ai đoái hoài tới. Họ tìm cách thông truyền những giá trị trong những môi trường thù nghịch. Họ tận tâm tận lực theo nhiều cách khác nhau để bày tỏ tình yêu bao la dành cho nhân loại mà Thiên Chúa nhập thể đã khơi nguồn hứng khởi. Tôi tỏ lòng biết ơn những tấm gương cao đẹp của nhiều Kitô hữu, những người hân hoan dâng hiến cuộc đời và thời gian của họ. Chứng từ này an ủi và nâng đỡ tôi khi tôi nổ lực vượt qua tính vị kỷ mà hiến mình nhiều hơn nữa.

77. Mặc dù thế, như những trẻ em của thời đại này, tất cả chúng ta bị tác động một cách nào đó bởi nền văn hóa toàn cầu hóa ngày nay, nền văn hóa này, trong khi dâng hiến cho chúng ta những giá trị và những khả năng mới, cũng có thể hạn chế, điều kiện hóa và cuối cùng làm hại chúng ta. Tôi biết rằng chúng ta cần phải tạo ra những không gian ở đó những người làm mục vụ có thể được giúp đỡ và chữa lành, "những nơi mà đức tin vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sống lại được đổi mới, những nơi mà những vấn đề sâu xa nhất và những nỗi ưu tư hàng ngày được chia sẻ, những nơi mà sự phân định sâu xa hơn về những kinh nghiệm và đời sống của chúng ta được đảm nhận trong ánh sáng Tin Mừng, nhằm mục đích hướng những quyết định cá nhân và xã hội đến những điều tốt đẹp". [62] Ðồng thời, tôi xin mời gọi chú ý đến một vài chước cám dỗ đặc thù có ảnh hưởng đến những người làm mục vụ.

Trả lời có với những thách đố của nền linh đạo truyền giáo

78. Ngày nay, chúng ta gặp thấy nhiều người làm mục vụ, kể cả những người nam cũng như người nữ được thánh hiến, họ bận lòng quá đáng về tự do cá nhân và sự thư giản của mình đến độ xem tác vụ của mình chỉ là phần phụ của đời sống mình, như thử không phải là một phần thuộc căn tính thật sự của mình. Ðồng thời, đời sống tâm linh được đồng hóa với một vài thực hành tôn giáo có thể mang đến cho mình một niềm an ủi nào đó, nhưng không khuyến khích gặp gỡ người khác, dấn thân vào thế giới hay say mê công cuộc Phúc Âm Hóa. Do đó, người ta có thể nhận thấy ở nơi nhiều tác nhân của công cuộc Phúc Âm Hóa, dù họ có cầu nguyện, một chủ nghĩa cá nhân rất mạnh, một cuộc khủng hoảng căn tính và bầu nhiệt huyết nguội lạnh. Ðây là ba tệ nạn tự cung cấp nhiên liệu cho nhau.

79. Ðôi khi nền văn hóa truyền thông của chúng ta và vài giới trí thức truyền tải sứ điệp Giáo Hội với một cái nhìn hoài nghi và yếm thế. Kết quả là, nhiều người làm mục vụ, dù họ có cầu nguyện, phát triển một loại mặc cảm khiến họ tương đối hóa hoặc che giấu căn tính và những niềm xác tín Ki-tô giáo của mình. Ðiều này sản sinh một vòng luẩn quẩn. Rốt cuộc họ không cảm thấy hạnh phúc với những bạn đồng môn và với sứ vụ của mình; họ không toàn tâm toàn lực thi hành sứ vụ Phúc Âm Hóa của mình và điều này làm yếu đi sự dấn thân của mình. Cuối cùng, họ bóp nghẹt niềm vui truyền giáo bằng cách quá bận tâm là nên giống mọi người và có được những gì mọi người đều có. Công cuộc Phúc Âm Hóa này quả thật bị bó buộc, và họ dâng hiến ít năng lực và thời gian rất hạn chế cho công cuộc này.

80. Những người làm mục vụ quả thật có thể rơi vào chủ nghĩa tương đối, dù kiểu mẫu linh đạo đặc thù của họ như thế nào đi nữa hay nếp gấp tư duy của họ như thế nào đi nữa, chủ nghĩa này cho thấy thậm chí còn nguy hiểm hơn chủ nghĩa tương đối đạo lý. Nó phải có liên hệ đến những quyết định sâu xa nhất và nội tại nhất định hướng nếp sống của họ. Chủ nghĩa tương đối thực tiển này hệ tại ở nơi việc hành xử như thể không có Thiên Chúa, đưa ra những quyết định như thể không có người nghèo, hoạch định những mục đích như thể không có tha nhân, làm việc như thể chưa có ai đón nhận Tin Mừng. Cần nhấn mạnh rằng thậm chí vài người rõ ràng có những xác tín đạo lý và tâm linh vững chắc thường hay rơi vào lối sống dẫn đến việc gắn bó với sự an toàn kinh tế, hoặc ước muốn quyền lực hay vinh quang trần thế bằng bất cứ giá nào, hơn là dâng hiến đời mình cho tha nhân trong sứ vụ. Chúng ta đừng để mình bị cướp mất lòng nhiệt thành truyền giáo!

Trả lời không với tính vị kỷ và sự lười biếng tâm linh

81. Ðôi khi chúng ta rất cần tính năng động truyền giáo để đem muối vào đời và ánh sáng vào trần gian, thì nhiều giáo dân sợ rằng họ bị đòi hỏi phải đảm nhận công việc tông đồ nào đó, nên tìm cách trốn tránh bất kỳ trách nhiệm nào để khỏi mất thời gian rảnh rỗi của mình. Chẳng hạn, ngày nay thật là khó để gặp thấy giảng viên giáo lý được đào tạo hẳn hòi lại sẵn lòng tiếp tục dạy giáo lý trong nhiều năm. Cũng xảy ra như vậy đối với các linh mục, các ngài tìm hết mọi cách để bảo vệ thời gian thư giản của mình. Ðiều này thường là do sự kiện là người ta cảm thấy một nhu cầu độc đoán để bảo vệ cho bằng được sự tự do cá nhân của mình, như thể nhiệm vụ Phúc âm Hóa là một chất độc nguy hiểm thay vì là một lời đáp trả hân hoan trước tình yêu của Thiên Chúa, Ðấng triệu tập chúng ta vào sứ vụ và làm cho công việc chúng ta được sinh hoa kết quả. Một số người không chịu dấn thân trọn vẹn cho công việc truyền giáo, rốt cuộc họ sống trong tình trạng tê liệt và lười biếng.

82. Vấn đề không luôn luôn là người ta hoạt động quá mức, nhưng đúng hơn người ta đảm nhận hoạt động cách tồi tệ, không có động lực thích đáng, không có nền linh đạo thâm nhập vào hoạt động và tạo niềm thích thú cho hoạt động. Do đó, công việc trở nên nhàm chán chứ không cần thiết, thậm chí đôi khi sinh bệnh. Thay vì một sự mệt mõi thỏa mãn và vui sướng, lại là một sự mệt nhọc căng thẳng, phiền toái, khó chịu và cuối cùng không thể kham nổi. Chứng bệnh lười biếng mục vụ này có thể do nhiều nguyên nhân. Một số người rơi vào chứng bệnh ấy vì họ lao mình vào những dự án phi thực tế và không hài lòng với những việc vừa sức mình. Còn một số người khác, vì họ thiếu kiên nhẫn trong tiến trình hoàn thiện tiệm tiến; họ muốn tất cả mọi sự từ trời rơi xuống. Còn một số người khác nữa, vì họ gắn bó với vài dự án và vài ước mơ hảo huyền về sự thành công. Cũng không thiếu một số người khác, vì họ đã đánh mất hợp đồng thật sự với dân chúng và không còn tha thiết thiết gì đến công việc của mình đến độ họ chỉ chăm chú dán mắt vào bản đồ chỉ đường chứ không chính cuộc hành trình. Những người khác nữa rơi vào chứng bệnh này vì họ không có khả năng chờ đợi, họ muốn chi phối nhịp điệu của cuộc sống. Ngày nay, sự nôn nóng muốn có kết quả ngay khiến cho những người làm mục vụ khó lòng dung thứ bất cứ điều gì bốc mùi bất đồng, thất bại, phê phán, thập giá.

83. Do đó, mối đe dọa lớn nhất dần dần lộ diện: "chủ nghĩa thực dụng ảm đạm của đời sống thường ngày trong Giáo Hội, trong đó mọi việc xem ra diễn tiến bình thường, nhưng thực tế, đức tin đang suy sup và thoái hóa thành tâm trí hẹp hòi". [63] Một khoa tâm lý nấm mồ thật sự phát triển và dần dần biến các Kitô hữu thành những xác ướp trong viện bảo tàng. Vỡ mộng với thực tại, với Giáo Hội và với chính mình, họ trải qua một cơn cám dỗ thường hằng là bám víu vào nỗi buồn mơ hồ, không có hy vọng, cơn cám dỗ này nắm chặt tâm hồn tựa như "thứ bùa chú quý giá nhất của quỷ".[64] Dù được mời gọi tỏa chiếu ánh sáng và thông truyền sự sống, cuối cùng họ bị vướng mắc vào những điều chỉ tạo ra bóng tối và sự chán chường nội tâm, và tiêu hủy dần dần bầu nhiệt huyết đối với công việc tông đồ. Về tất cả điều này, tôi lập lại: chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất niềm vui loan báo Tin Mừng!

Trả lời không với chủ nghĩa bi quan vô bổ

84. Niềm vui Tin Mừng là niềm vui mà không ai và không gì có thể lấy mất đi được khỏi chúng ta (x. Ga 16, 22). Những tệ nạn của thế giới chúng ta - và những tệ nạn của Giáo Hội - không phải là những lời bào chữa để biện mình cho việc suy giảm sự dấn thân và nguội lạnh lòng nhiệt tình của chúng ta. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào chúng như những thách đố có thể giúp chúng ta lớn lên. Với đôi mắt đức tin, chúng ta có thể thấy ánh sáng mà Chúa Thánh Thần luôn luôn tỏa chiếu giữa đêm tối, đừng bao giờ quên rằng "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội" (Rm 5: 20). Ðức tin của chúng ta bị thách đố để phân định rượu có thể được biến đổi từ nước như thế nào và lúa có thể mọc lên giữa cỏ dại như thế nào. Năm mươi năm sau Công Ðồng Vaticanô II, chúng ta khốn khổ vì những phiền toái của thời đại mình và mất đi tinh thần lạc quan ngây thơ; tuy nhiên, chúng ta càng thực tiển hơn, điều đó không muốn nói rằng chúng ta ít tin tưởng vào Chúa Thánh Thần hơn hoặc ít quảng đại hơn. Theo chiều hướng này, chúng ta có thể nghe một lần nữa những lời của Chân Phước Gioan XXIII, vào ngày đáng nhớ, ngày 11 tháng 10 năm 1962: "Ðôi khi chúng ta phải nghe, với nhiều ân hận, tiếng nói của những người, dù được lòng nhiệt thành đốt cháy, thiếu nhận thức thận trọng và điều độ. Trong thời hiện đại này, họ không thấy bất cứ điều gì ngoài những dối trá và phá hoại#Chúng ta cảm thấy rằng chúng ta buộc phải không tán thành với các ngôn sứ loan báo điều bất hạnh này, họ luôn tiên báo tai họa, như thể ngày tận thế sắp đến gần rồi. Vào thời đại chúng ta, ơn Quan Phòng đang dẫn chúng ta đến một trật tự mới về những mối quan hệ giữa người với người, những mối quan hệ này, bằng những nổ lực con người và thậm chí vượt trên tất cả những triển vọng, trực chỉ đến sự hoàn thành kế hoạch cao vời và vô phương dò thấu của Thiên Chúa, trong đó mọi sự, thậm chí những trở lực của con người, dẫn đến điều tốt lành lớn lao hơn cho Giáo Hội". [65]

85. Một trong những cám dỗ nghiêm trọng hơn dập tắt dũng khí và bầu nhiệt huyết đó là tinh thần chủ bại, tinh thần này biến chúng ta thành những kẻ bi quan, bất mãn và vỡ mộng, "những kẻ chỉ biết nhìn đời bằng cặp kính màu đen". Không ai có thể ra trận nếu không nắm chắc phần thắng. Nếu chúng ta bắt tay vào việc mà thiếu lòng tin, chúng ta đã thua một nữa cuộc chiến rồi và chôn vùi tài năng của mình. Trong khi ý thức cách đau đớn những khiếm khuyết của mình, chúng ta phải tiến bước chứ không chịu đầu hàng, ghi nhớ trong tâm trí mình những lời Chúa đã nói với thánh Phao-lô, "Ơn sủng của Thầy đã đủ cho con rồi vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2Cor 12: 9). Cuộc khải hoàn Ki-tô giáo luôn luôn là Thánh Giá, đồng thời cũng là một cờ hiệu chiến thắng, vì thế người ta mang Thánh Giá này với tấm lòng nồng nàn trìu mến để chống lại những cuộc tấn công của ma quỷ. Thần dữ chủ bại là anh em của tên cám dỗ muốn tách lúa ra khỏi cỏ dại trước thời của nó; đó là thành quả của việc thiếu tin tưởng do từ tâm trạng xao xuyến và thái độ ích kỷ.

86. Trong vài nơi, việc sa mạc hóa tâm linh đã rõ ràng lộ diện, vì một số xã hội cố gắng xây dựng mà không có Thiên Chúa hoặc nhổ tận gốc rễ Kitô giáo của mình. Ở những nơi đó "thế giới Kitô giáo đang trở nên cằn cỗi và kiệt quệ như một vùng đất đã bị khai thác quá mức đến nỗi biến thành sa mạc".[66] Trong các đất nước khác, việc chống đối Ki-tô giáo bằng bạo lực bắt ép người Kitô hữu phải che dấu đức tin của mình ngay tại quê hương yêu dấu của mình. Ðây là một loại đau khổ khác của sa mạc. Nhưng gia đình và sở làm việc cũng có thể là nơi khô cằn, tuy nhiên ở đó đức tin phải được gìn giữ và phải được thông truyền. Nhưng "chính khởi đi từ kinh nghiệm về sa mạc này, từ sự trống rỗng này, mà chúng ta có thể khám phá niềm vui của đức tin, tầm quan trọng sống còn của nó đối với chúng ta, nam cũng như nữ. Trong sa mạc, chúng ta tái khám phá giá trị của điều gì là thiết yếu để sống. Quả thật, trong thế giới ngày nay có vô vàn dấu chỉ, thường được diễn tả cách mặc nhiên hay tiêu cực, về cơn khát Thiên Chúa, đối với ý nghĩa tối hậu của cuộc đời. Và trong sa mạc, người ta cần những người có đức tin, những người, bằng mẫu gương của chính đời sống họ, vạch rõ con đường về Ðất Hứa và giữ niềm hy vọng sinh động". [67] Trong những hoàn cảnh này, chúng ta được mời gọi là những nguồn nước trường sinh từ đó những người khác có thể uống. Ðôi khi điều này trở thành Thánh Giá nặng nề, nhưng chính từ Thánh Giá, từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người, mà Chúa chúng ta đã hiến mạng sống mình cho chúng ta như nguồn nước trường sinh. Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất niềm hy vọng!

Trả lời có với những mối quan hệ mới được Chúa Kitô đem đến

87. Ngày nay, khi các mạng lưới và các phương tiện truyền thông của con người đã thực hiện những tiến bộ chưa từng có, chúng ta cảm nhận sự thách đố là gặp thấy và chia sẻ sự huyền nhiệm của cuộc sống chung, là kết thân và gặp gỡ, là mở rộng vòng tay thân ái đón nhận nhau và nương tựa vào nhau, là bước vào con nước ngập tràn, tuy hỗn loạn, để có thể thực sự trải nghiệm tình bằng hữu, đồng hội đồng thuyền, cuộc hành hương thánh. Những triển vọng lớn lao hơn cho việc truyền thông thật sự biến thành những triển vọng lớn lao hơn cho việc gặp gỡ và liên đới với hết mọi người. Nếu chúng ta có thể bước theo con đường này, sẽ là tốt đẹp, an ủi, giải thoát và chan chứa hy vọng biết bao! Ra khỏi chính mình và chung bước với người khác thật là lành mạnh cho chúng ta. Tự đóng khép mình là nếm chất độc cay đắng trong chính mình, nhân loại sẽ trở nên tồi tệ hơn vì mỗi lựa chọn ích kỷ của chúng ta.

88. Lý tưởng Kitô giáo luôn luôn là lời mời gọi chúng ta khắc phục tính đa nghi ngờ vực, nỗi sợ hãi đánh mất đời sống riêng tư của mình, đó là tất cả những thái độ tự vệ mà thế giới ngày nay áp đặt trên chúng ta. Nhiều người tìm cách thoát khỏi người khác và ẩn núp vào cuộc sống tiện nghi riêng của mình, hoặc trong nhóm nhỏ bạn thân, từ bỏ khía cạnh hiện thực xã hội của Tin Mừng. Cũng như một số người muốn một Ðức Kitô thuần túy thiêng liêng, không bằng xương bằng thịt và không Thánh Giá, họ cũng muốn những mối liên hệ giữa người với người được trang bị bởi những thiết bị tinh vi, bởi những màn ảnh và những hệ thống có thể mở hay tắt bằng mệnh lệnh. Trong khi đó, Tin Mừng thường hằng bảo với với chúng ta rằng chúng ta phải liều mình gặp gỡ trực diện với người khác mà sự hiện diện thể lý của họ chất vấn chúng ta, với nỗi đau khổ và những cầu xin của họ, với niềm vui của họ lan sang chúng ta trong một sự tương tác thân tình và liên lỉ giữa người với người. Ðức tin chân thật vào Con Thiên Chúa nhập thể không thể nào tách rời khỏi việc tự hiến, khỏi tư cách hội viên trong cộng đồng, khỏi sự phục vụ, khỏi sự hòa giải với người khác. Con Thiên Chúa qua việc nhập thể đã triệu tập chúng ta vào cuộc cách mạng đầy lòng nhân ái.

89. Sự cô lập, một phiên bản của thuyết nội tại, có thể được diễn tả ở nơi sự độc lập giả tạo không có chỗ cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, ở nơi tính hiện thực của tôn giáo, sự cô lập cũng có thể mặc lấy hình thức của chủ nghĩa tiêu thụ tinh thần xứng hợp với chủ nghĩa cá nhân không lành mạnh của chính mình. Việc trở về sự thánh thiêng và việc truy tìm nền linh đạo dấu ấn thời đại riêng của chúng ta là những hiện tượng mập mờ. Ngày nay, sự thách đố của chúng ta không phải là chủ nghĩa vô thần mà là nhu cầu phải trả lời cách thích đáng cho cơn khát Thiên Chúa của nhiều người, kẻo họ tìm cách thỏa mãn nỗi khao khát này bằng những giải pháp xa lánh hoặc bằng một Ðức Giê-su không bằng xương bằng thịt, Người không đòi hỏi chúng ta bất cứ điều gì liên quan đến tha nhân. Nếu những người này không gặp thấy ở nơi Giáo Hội một nền linh đạo có thể chữa lành họ, giải thoát họ và tuôn đổ sự sống và bình an trên họ, đồng thời triệu tập họ vào sự hiệp thông huynh đệ và thành quả truyền giáo, thì họ sẽ còn tiếp nhận những giải pháp chẳng làm cho cuộc sống của họ thật sự nhân bản và cũng chẳng làm sáng danh Thiên Chúa.

90. Những hình thức đích thật của tâm tình tôn giáo bình dân thì nhập thể, bởi vì chúng sinh ra từ cuộc nhập thể của đức tin Kitô giáo trong nền văn hóa bình dân. Vì lý do này, chúng đòi hỏi mối liên hệ cá nhân, không với những năng lực hay quyền năng tâm linh mơ hồ, nhưng với Thiên Chúa, với Ðức Kitô, với Ðức Maria, với các thánh. Những tâm tình mộ đạo này là bằng xương bằng thịt, chúng có diện mạo. Chúng có khả năng cổ vũ những mối liên hệ chứ không cho phép cuộc đào tẩu. Trong những thành phần khác nhau của xã hội chúng ta, chúng ta thấy con người càng ngày càng bị cuốn hút vào những hình thức đa dạng của một "nền linh đạo về sự phúc lợi" phân ly khỏi bất kỳ đời sống cộng đồng nào, hay của một "khoa thần học về sự thịnh vượng" tách biệt khỏi trách nhiệm đối với anh chị em của mình, hay của những kinh nghiệm phi nhân vị không gì khác hơn là một hình thức quy hướng về mình.

91. Một thách đố quan trọng chính là chúng ta sẽ không bao giờ gặp thấy bất kỳ giải pháp nào nếu chúng ta chạy trốn khỏi mối liên hệ của chính mình với Thiên Chúa cũng như từ chối dấn thân phục vụ người khác. Ngày nay điều này thường hằng xảy ra khi các tín hữu tìm cách trốn tránh hay giữ khoảng cách với tha nhân, hoặc âm thầm trốn chạy từ nơi này đến nơi khác hay từ công việc này đến công việc khác, chứ không tạo ra những mối dây liên hệ sâu xa và vững chắc với nguwòi khác. "Imaginatio locorum et mutatio multos fefellit" (nghĩa là sự tưởng tượng và đổi chỗ đã lừa dối nhiều người) [68] Ðây là một phương thuốc giả hiệu phá hoại tâm hồn và đôi khi cả thể xác nữa. Chúng ta cần phải giúp người khác nhận ra rằng cách thế duy nhất là học cách gặp gỡ người khác với thái độ đúng đắn, nghĩa là chấp nhận họ và coi họ là những người bạn đồng hành mà không có bất kỳ cưỡng kháng trong lòng. Tốt hơn nữa là học tìm gặp Chúa Giêsu ở khuôn mặt của người khác, ở nơi tiếng nói của họ, ở nơi những lời cầu xin của họ. Và học chịu đau khổ trong vòng tay của Ðức Giêsu chịu đóng đinh hễ khi nào chúng ta bị đả kích một cách bất công hay gặp phải sự vô ơn bội nghĩa, mà không bao giờ chán nãn vì chúng ta quyết định sống tình huynh đệ. [69]

92. Quả thật, ở đó chúng ta thấy mình được chữa lành thật sự, bởi vì cách thức chúng ta liên đới với người khác thật sự chữa lành chúng ta chứ không làm suy nhược chúng ta, đây là một tình huynh đệ huyền nhiệm, một tình huynh đệ chiêm niệm. Chính tình yêu huynh đệ giúp chúng ta thấy sự cao cả linh thánh của người thân cận, gặp thấy Thiên Chúa ở nơi mỗi con người, dung thứ những phiền toái của cuộc sống chung bằng cách bám chặt vào tình yêu Thiên Chúa, mở rộng tấm lòng và tìm kiếm hạnh phúc cho tha nhân như Cha trên trời làm. Ở đây và lúc này, nhất là ở nơi mà chúng ta là "đàn chiên bé nhỏ" (Lc 12: 32), các môn đệ của Chúa được mời gọi sống như một cộng đồng để là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian (x. Mt 5: 13-16). Họ được mời gọi làm chứng về một cách sống chung thường hằng mới, trung thành với Tin Mừng. [70] Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất cộng đồng!

Trả lời không với thế tục tâm linh

93. Thế tục tâm linh nấp sau dáng vẻ mộ đạo và thậm chí yêu mến Giáo Hội, nó hệ tại ở nơi việc tìm kiếm vinh quang cho con người và phúc lợi cho mình chứ không là vinh quang cho Thiên Chúa. Ðó là điều Chúa khiển trách người Pharisêu: "Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?" (Ga 5: 44). Ðây là một cách thế tinh vi để tìm "lợi ích cho mình, chứ không tìm lợi ích cho Ðức Giêsu Kitô" (Ph 2: 21). Thế tục tâm linh này mặc lấy nhiều hình thức, tùy thuộc vào những loại người và những nhóm người mà nó xâm nhập dần dần. Vì nó dựa vào cung cách bề ngoài có học thức, nó không luôn luôn được liên kết với tội lỗi bên ngoài; mọi việc xem ra phải là như vậy. Nhưng nếu như nó xâm nhâp vào Giáo Hội, "nó còn vô cùng gây tai họa hơn bất kỳ thế tục nào khác chỉ đơn thuần luân lý". [71]

94. Tính thế tục này có thể được đổ đầy nhiên liệu bằng hai cách có mối liên hệ hỗ tương sâu xa. Cách thứ nhất là sức hấp dẫn của thuyết ngộ đạo, một đức tin thuần túy chủ quan mà mối quan tâm duy nhất của nó là một kinh nghiệm nào đó hay một loạt các ý tưởng và vài mẫu thông tin được coi là an ủi và soi sáng, nhưng cuối cùng giam kín đối tượng trong những tư tưởng và cảm xúc riêng của mình. Cách thứ hai là chủ thuyết tân Pelagus của những người chỉ tin vào những quyền năng của mình và cảm thấy mình trổi vượt trên những người khác bởi vì mình tuân giữ một số qui luật hay vì mình vẫn một mực trung thành với một kiểu mẫu Công Giáo riêng biệt từ xa xưa. Một đạo lý được cho là lành mạnh hay một kỷ luật dẫn đến một chủ nghĩa ưu tú độc tài chỉ biết nghĩ đến cái đúng của mình, nhờ đó thay vì rao giảng Tin Mừng, người ta phân tích và xếp loại người khác, và thay vì mở rộng cửa cho ân sủng, người ta làm cạn kiện những năng lực của mình vào việc kiểm tra và kiểm chứng. Trong cả hai trường hợp, người ta không thực sự quan tâm đến Chúa Giêsu Kitô hoặc người khác. Ðây là những biểu hiện của một học thuyết nội tại đặt con người làm trung tâm (immanentisme anthropocentrique). Thật không thể tưởng tượng được rằng lực đẩy loan báo Tin Mừng đích thật có thể trồi lên từ những hình thức kém chất lượng của Kitô giáo.

95. Tính thế tục gây hại này lộ rõ ở nơi một số thái độ xem ra đối nghịch nhau, tuy nhiên tất cả đều có chung một kỳ vọng là "thao túng không gian của Giáo Hội". Ở nơi một số người, chúng ta thấy mối bận tâm phô trương đối với phụng vụ, đạo lý và uy tín của Hội Thánh, nhưng không có bất kỳ mối quan tâm gì đến việc Tin Mừng có tác động thực sự trên dân Thiên Chúa và những nhu cầu cụ thể của thời hiện tại. Theo cách này, đời sống Giáo Hội biến thành một tác phẩm của viện bảo tàng hoặc điều gì đó như là vật sở hữu của vài người ưu tuyển. Ở nơi những người khác, thế tục tâm linh này ẩn núp sau sự quyến rũ đầy những thành tích xã hội và chính trị, hoặc sau tính tự hào về khả năng điều hành các công việc thực tiển, hoặc sau nỗi ám ảnh về những chương trình tự lực cánh sinh. Nó cũng có thể được thể hiện ra ở nơi mối quan tâm là được người khác nhìn thấy, ở nơi cuộc sống xã hội đầy vẻ hào nhoáng bên ngoài như những cuộc họp mặt, tiệc tùng, tiếp tân. Nó cũng có thể dẫn đến tình trạng tâm lý nghề nghiệp, bận rộn với việc điều hành, thống kê, lịch trình và lượng giá, mà những người được thụ hưởng chính không phải là dân Thiên Chúa, mà là Giáo Hội như một định chế. Ấn tín của Ðức Kitô nhập thể, chịu đóng đinh và sống lại, không hiện diện; những nhóm người thân tín và ưu tuyển được hình thành, người ta không cố công ra đi tìm kiếm những người ở xa hay đám đông bao la đang khao khát Ðức Kitô. Bầu nhiệt huyết loan báo Tin Mừng được thay thế bởi đời sống hưởng thụ trống rỗng, tự mãn và buông thả.

96. Lối tư duy này cũng nuôi dưỡng thói hư danh của những người bằng lòng có một số ít quyền hành và thà là vị tướng của đạo quân bại trận hơn là một người lính trơn trong một đơn vị vẫn kiên cường chiến đấu. Bao lần chúng ta ước mơ những đề án tông đồ vĩ đại, được hoạch định kỷ lưỡng, chẳng khác gì những tướng bại trận! Như vậy, chúng ta từ chối lịch sử của chúng ta với tư cách là Giáo Hội, một lịch sử vẻ vang vì đúng là lịch sử của hy sinh, của những hy vọng và những đấu tranh hàng ngày, của một cuộc đời tận tụy trong việc phục vụ và trung thành với công việc, bởi vì tất cả mọi công việc đều đòi hỏi "đổ mồ hôi sôi nước mắt". Trái lại, chúng ta hoang phí thời giờ vào chuyện chỉ ngồi đó mà bàn luận "chúng ta cần phải làm gì" - theo tiếng Tây Ban Nha, tôi gọi điều này tội "nên làm" - tương tự như chuyện các bậc thầy tâm linh và các chuyên gia mục vụ đứng trên cao mà truyền những chỉ thị xuống, còn chính mình thì không buồn động ngón tay. Chúng ta nuông chiều trí tưởng tượng vô tận của mình mà không tiếp xúc với cuộc sống và những khó khăn thực sự của dân mình.

97. Những ai đã rơi vào tinh thần thế tục này thì tự cho mình trên kẻ khác và khinh thường kẻ khác, họ bác bỏ lời ngôn sứ của anh chị em mình, họ làm mất uy tín những ai nêu lên những thắc mắc, họ quen thói vạch lá tìm sâu ở nơi anh chị em mình và chăm chút bộ dạng bên ngoài của mình. Họ chỉ mở lòng ra cho một chân trời hạn hẹp của tính thường tình và tư lợi của mình, do đó họ cũng không biết rút ra bài học từ những tội lỗi của mình cũng không chân thành mở rộng tấm lòng tha thứ. Ðây là một sự hư hỏng khủng khiếp ngụy trang dưới cái vẻ bên ngoài tốt lành. Chúng ta cần phải tránh điều này bằng cách làm cho Giáo Hội thường hằng ra khỏi chính mình, quy hướng sứ vụ của Giáo Hội vào Ðức Giê-su Ki-tô và dấn thân cho người nghèo. Xin Thiên Chúa cứu thoát chúng ta khỏi một Giáo Hội thế tục với những cạm bẫy tâm linh và mục vụ bề ngoài! Thế tục tâm linh ngột ngạt này chỉ có thể được chữa lành nhờ hít thở bầu khí trong lành của Chúa Thánh Thần, Ðấng giải thoát chúng ta khỏi thói quy hướng về mình, khoắc trên mình một tâm tình tôn giáo bên ngoài không có Thiên Chúa. Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất Tin Mừng!

Trả lời không với chiến tranh giữa chúng ta

98. Biết bao nhiêu cuộc chiến tranh xảy ra trong Dân Thiên Chúa và trong các cộng đồng khác nhau của chúng ta! Trong những vùng lân cận của chúng ta và ở sở làm việc, biết bao nhiêu cuộc chiến tranh mà người ta gây ra do thói tham lam và tính đố kỵ, ngay cả giữa người Ki-tô hữu! Thế tục tâm linh dẫn đưa một số Kitô hữu đến chiến tranh với những Kitô hữu khác nếu cản đường tìm kiếm quyền lực, uy thế, thú vui và sự bảo đảm kinh tế của mình. Một số người thậm chí không bằng lòng sống như một thành viên của cộng đồng Giáo Hội, nhưng trang bị một tinh thần loại trừ, tạo nên "phe nhóm trong lòng cộng đồng". Thay vì thuộc về toàn thể Giáo Hội trong tất cả muôn hình vạn trạng phong phú của nó, họ thuộc về nhóm này hay nhóm nọ tự cho là mình khác biệt hay đặc biệt.

99. Thế giới đang bị rách nát tả tơi vì chiến tranh và bạo lực, và bị thương tích bởi chủ nghĩa cá nhân phổ biến chia rẻ người này với người khác, đặt con người vào vị thế chống đối nhau trong khi theo đuổi phúc lợi của riêng mình. Trong những quốc gia khác nhau, những xung đột và những chia rẽ từ quá khứ đang trồi lên. Tôi đặc biệt cầu xin các Ki-tô hữu trong các cộng đồng trên khắp thế giới dâng hiến một chứng từ rạng ngời và hấp dẫn về sự hiệp thông huynh đệ. Hãy cho mọi người thán phục cách thế anh chị em ân cần chăm sóc nhau, cách thế anh chị em khuyến khích nhau và đồng hành với nhau: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13: 35). Ðây là lời cầu nguyện tha thiết của Chúa Giê-su lên cùng Chúa Cha: "Ðể tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con" (Ga 17:21). Hãy coi chừng chước cám dỗ của thói ghen tuông đố kỵ! Tất cả chúng ta đồng hội đòng thuyền và hướng đến cùng một bến bờ! Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn cho chúng ta để chúng ta hãnh diện về những ân ban của mỗi người, những ân ban đó cũng thuộc về mọi người.

100. Những người bị tổn thương vì những chia rẽ trong lịch sử thật khó chấp nhận lời mời gọi tha thứ và hòa giải mà chúng ta đưa ra, bởi vì họ nghĩ rằng chúng ta đang cố tình làm ngơ nỗi đau của họ hay yêu cầu họ quên đi ký ức và những lý tưởng của họ. Nhưng nếu họ nhìn thấy những chứng từ của các cộng đồng huynh đệ và hòa giải chân thực, họ sẽ gặp thấy chứng từ đó lấp lánh và hấp dẫn. Tôi luôn cảm thấy rất đau lòng khi khám phá ra rằng làm thế nào một số cộng đồng Ki-tô hữu và thậm chí những người được thánh hiến, có thể dung thứ những hình thức đa dạng của hận thù, chia rẽ, vu oan giá họa, trả thù, đố kỵ và ước muốn áp đặt một số ý tưởng của mình với bất cứ giá nào, thậm chí kể cả bách hại tựa như săn bắt phù thủy. Chúng ta sẽ Phúc Âm hóa ai nếu chúng ta hành xử như thế?

101. Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu luật tình yêu. Thật tốt lành biết bao khi có luật này! Thật tốt lành biết mấy khi chúng ta yêu thương nhau, trên hết mọi sự! Vâng, trên hết mọi sự! Lời khuyên nhủ của thánh Phao-lô trực tiếp gởi đến mỗi người chúng ta: "Ğừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác" (Rm 12: 21). Và thêm: "Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí" (Gl 6: 9). Tất cả chúng ta đều có những điều mình thích và những điều mình không thích, và có lẽ chính vào thời điểm này chúng ta đang tức giận với một ai đó. Ít ra chúng ta hãy thân thưa với Chúa: "Lạy Chúa, con tức giận với người này kẻ nọ. Con cầu nguyện cho anh ấy và chị ấy". Cầu nguyện cho người mà chúng ta tức giận là một bước tiến thật đẹp trong tình yêu, và là một hành vi Phúc Âm Hóa. Chúng ta hãy làm như vậy hôm nay! Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất lý tưởng huyng đệ!

Những thách đố khác của Giáo Hội

102. Nói cách đơn giản, giáo dân là đa số dân Thiên Chúa đông đảo. Tiểu số những thừa tác viên chức thánh đang phục vụ họ. Giáo dân mỗi ngày mỗi ý thức hơn về căn tính và sứ vụ của mình trong Giáo Hội. Chúng ta có thể cậy nhờ nhiều người giáo dân, mặc dù vẫn chưa đủ, những người có một nhận thức thâm căn cố đế về cộng đồng và một lòng trung thành lớn lao với các tác vụ bác ái, dạy giáo lý và cử hành đức tin. Ðồng thời, sự kiện người giáo dân ý thức rõ ràng về trách nhiệm của mình trên nền tảng bí tích Rửa Tội và bí tích Thêm Sức của mình không xem ra giống như nhau ở mọi nơi. Trong vài trường hợp, chính vì những người giáo dân chưa được đào tạo cần thiết để đảm nhận những trọng trách. Trong những trường hợp khác, chính vì trong các Giáo Hội địa phương, người giáo dân đã không tìm thấy chỗ đứng của mình để có tiếng nói và hoạt động, do bởi chế độ giáo sĩ trị quá mức không cho họ đưa ra quyết định. Thậm chí nếu nhiều giáo dân hiện nay tham gia vào những thừa tác vụ giáo dân, sự tham gia này không được phản chiếu ở nơi việc thấm nhập các giá trị Kitô giáo vào các khu vực xã hội, chính trị và kinh tế. Sự tham gia này thường vẫn bị trói buộc vào những tác vụ trong Giáo Hội mà không có một sự dấn thân thực sự trong việc áp dụng Tin Mừng vào việc biến đổi xã hội. Việc đào tạo giáo dân và công cuộc Phúc Âm Hóa thuộc đời sống chuyện nghiệp và trí thức biểu thị một thách đố mục vụ quan trọng.

103. Giáo Hội nhận biết sự đóng góp không thể thiếu của nữ giới cho xã hội nhờ độ nhạy bén, trực giác và một số kỷ năng đặc biệt của họ, mà nam giới không thể bằng. Theo tôi, chẳng hạn như mối quan tâm đặc biệt của người phụ nữ đối với tha nhân được diễn tả cách đặc thù, chung nhất, ở nơi tình mẫu tử. Tôi sẵn lòng nhìn nhận rằng nhiều người phụ nữ chia sẻ trách nhiệm mục vụ với các linh mục, giúp hướng dẫn dân chúng, gia đình và các nhóm, đồng thời dâng hiến những đóng góp mới vào việc suy tư thần học. Nhưng chúng ta vẫn cần tạo ra những cơ hội rộng lớn hơn để sự hiện diện của nữ giới càng ngày càng rõ nét hơn trong Giáo Hội. Bởi vì "người ta cần thiên tài nữ giới bằng tất cả cách diễn tả trong đời sống của xã hội, sự hiện diện của nữ giới cũng phải được bảo vệ nơi làm việc" [72] và trong những bối cảnh đa dạng, nơi những quyết định quan trọng được thực hiện, cả trong Giáo Hội lẫn trong các cơ cấu xã hội.

104. Những đòi hỏi phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của phụ nữ dựa vào niềm xác tín vững chắc rằng nam cũng như nữ đều bình đẳng trong phẩm giá đặt ra cho Hội Thánh những vấn đề thách đố sâu xa không thể lãng tránh được. Chức linh mục dành cho nam giới, như một dấu chỉ của Ðức Ki-tô Phu Quân, Ðấng hiến mạng mình trong Bí Tích Thánh Thể, một vấn đề không được đem ra thảo luận, nhưng có thể gây nên bất đồng đặc biệt nếu quyền ban bí tích được đồng nhất với quyền hành cách khái quát. Phải nhớ rằng khi chúng ta nói về quyền ban bí tích "chúng ta ở trong phạm vi chức năng, chứ không phạm vi phẩm giá và sự thánh thiện". [73] Chức linh mục thừa tác là một phương tiện được Chúa Giêsu sử dụng để phục vụ dân Người, nhưng phẩm giá cao quý của chúng ta xuất phát từ bí tích Rửa Tội, bí tích mà tất cả mọi người đều có thể đạt được. Việc linh mục đồng hình đồng dạng với Ðức Ki-tô là Ðầu - tức là nguồn chính yếu của ân sủng - không hàm ý đề cao vị linh mục lên trên tất cả những người khác. Trong Giáo Hội, các chức năng "không giúp cho một người cao trọng hơn những người khác". [74] Thực ra, một phụ nữ, Ðức Mẹ Maria, còn quan trọng hơn các Giám Mục. Ngay cả khi chức năng của chức linh mục thừa tác được kể là "phẩm trật", chúng ta phải nhớ rằng "chức năng này được hoàn toàn xếp đặt thứ tự theo sự thánh thiện của các chi thể Ðức Kitô".[75] Chìa khóa và trọng điểm của chức năng không phải là quyền hành được hiểu như quyền thống trị, nhưng quyền năng quản trị bí tích Thánh Thể; đây là nguồn gốc năng quyền của chức linh mục, luôn luôn là để phục vụ dân chúng. Ðiều này đưa ra một thách đố lớn cho các mục tử và các thần học gia, là những người có nhiệm vụ giúp nhận biết đầy đủ hơn những gì điều này đòi hỏi có liên quan đến vai trò khả thi của phụ nữ khi đưa ra những quyết định quan trọng trong các lãnh vực khác nhau của đời sống Giáo Hội.

105. Mục vụ giới trẻ, như được tổ chức theo truyền thống, cũng đã chịu tác động của những thay đổi xã hội. Giới trẻ thường không tìm thấy những câu trả lời cho những nỗi bận lòng của họ, những nhu cầu của họ, những vấn đề của họ và những vết thương của họ trong những cơ cấu thông thường. Với tư cách những người trưởng thành, chúng ta thấy khó mà kiên nhẫn lắng nghe những người trẻ, đánh giá cao những nỗi bận lòng và những đòi hỏi của họ, và nói với họ bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. Cùng vì lý do đó, những nỗ lực của chúng ta trong lãnh vực giáo dục không đem lại những kết quả mong muốn. Chúng ta có thể xem các đoàn thể và các phong trao được giới trẻ hình thành như công trình của Chúa Thánh Thần, Ðấng khai mở những lối đi mới để đáp ứng những kỳ vọng của họ và nỗ lực tìm kiếm của họ để khám phá nền linh đạo sâu xa, cũng như một cảm thức chân thật hơn trong việc mình thuộc về Giáo Hội. Tuy nhiên, vẫn còn một nhu cầu để đảm bảo rằng các đoàn thể này tham gia cách tích cực vào toàn bộ nỗ lực mục vụ của Giáo Hội.[76]

106. Thậm chí nếu như thật sự không luôn luôn dể dàng để tiếp cận giới trẻ, thì tiến bộ đã được thực hiện trong hai lãnh vực: một nhận thức rằng toàn thể cộng đồng được mời gọi để rao giảng Tin Mừng cho giới trẻ và giáo dục giới trẻ và một nhu cầu cấp bách là phải để cho giới trẻ thực hành quyền lãnh đạo lớn hơn. Chúng ta nên nhận ra rằng bất chấp cuộc khủng hoảng hiện nay về sự dấn thân và những mối quan hệ cộng đồng, nhiều người trẻ đang đoàn kết lại trước những vấn đề của thế giới chúng ta và đang đảm nhận những hình thức đa dạng của phong trào hoạt động tích cực và công việc thiện nguyện. Một số người trẻ dự phần vào đời sống Giáo Hội với tư cách là những thành viên của những nhóm phục vụ và đề xuất những sáng kiến truyền giáo đa dạng ở tại các giáo phận của họ và ở những nơi khác. Thật đẹp biết bao khi thấy rằng giới trẻ là những "nhà rao giảng đường phố", hân hoan đem Ðức Giê-su đến mọi đường phố, mọi công trường và mọi ngóc ngách trên trái đất!

107. Nhiều nơi đang trải nghiệm cái chết của ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến. Ðiều này thường do thiếu bầu nhiệt huyết tông đồ có sức lây nhiễm trong các cộng đồng thiếu vắng niềm hăng say và sức hấp dẫn. Nơi nào có sức sống, lòng nhiệt thành, niềm khao khát đem Ðức Kitô đến cho người khác, thì nơi đó ơn gọi đích thực sẽ phát sinh. Ngay cả trong các giáo xứ nơi mà các linh mục không dấn thân cách đặc biệt hay vui tươi, thì đời sống và lòng nhiệt thành huynh đệ của cộng đồng có thể đánh thức ở nơi giới trẻ niềm khao khát được tận hiến cho Thiên Chúa và cho công cuộc Phúc Âm Hóa. Ðiều này thật sự đặc biệt nếu một cộng đồng sống động như thế tha thiết cầu nguyện cho ơn gọi và cam đảm đề nghị cho giới trẻ con đường thánh hiến đặc biệt. Mặt khác, bất chấp tình trạng khan hiếm ơn gọi, chúng ta càng ý thức hơn rằng cần phải có một một tiến trình lựa chọn các ứng viên cho thiên chức linh mục tốt hơn. Các chủng viện không thể tiếp nhận các ứng viên căn cứ vào bất cứ một động lực nào, đặc biệt là khi những động lực ấy liên quan đến tình trạng bấp bênh về tình cảm, theo đuổi quyền lực, vinh quang con người và phúc lợi kinh tế.

108. Như tôi đã kể ra ở trên, tôi đã không tìm cách đưa ra một chuẩn đoán đầy đủ, nhưng tôi mời gọi các cộng đồng bổ sung và phong phú hóa những viễn cảnh này dựa trên những nhận thức của họ về các thách đố trực diện với cộng đồng của họ và các cộng đồng lân cận với họ. Tôi hy vọng rằng, khi làm như vậy, họ sẽ nhận ra rằng khi nào cố gắng đọc ra các dấu chỉ thời đại, thật là hữu ích khi để tâm lắng nghe giới trẻ và những bậc lão thành. Cả hai biểu thị nguồn hy vọng cho mọi người. Những bậc lão thành mang theo với mình ký ức và sự khôn ngoan từng trải, như một lời cảnh báo cho chúng ta đừng dại dột dẫm lại những vết xe sai lầm thời quá khứ của chúng tôi. Những người trẻ kêu gọi chúng ta đổi mới và loan truyền niềm hy vọng, vì họ biểu thị những hướng đi mới cho nhân loại và hướng chúng ta đến tương lai, chúng ta đừng bám víu vào nỗi nhớ thương những cơ cấu và tập quán không còn ban sự sống trong thế giới ngày nay.

109. Những thách đố hiện nay là để vượt qua. Chúng ta phải thực tế, nhưng đừng đánh mất niềm vui, dũng khí và sự dấn thân chan chứa hy vọng! Chúng ta đừng để cho mình bị cướp mất sinh lực truyền giáo!

 

Chương 3

Việc Công Bố Tin Mừng

 

110. Sau khi đã xem xét một số thách đố thời nay, giờ đây tôi xin nói về nhiệm vụ mà chúng ta đảm đương trong mọi thời và ở mọi nơi, vì "không thể có công cuộc Phúc Âm Hóa thật nếu không có việc loan báo một cách rõ ràng Ðức Giê-su là Chúa", và nếu như không "ưu tiên giới thiệu Ðức Giê-su Ki-tô trong hết mọi hoạt động Phúc Âm Hóa". [77] Khi nhìn nhận những mối quan tâm của các Giám Mục Á châu, Ðức Gioan Phaolô II đã nói với các ngài rằng nếu Giáo Hội "phải hoàn thành thiên mệnh mà Chúa đã quan phòng cho mình, thì ưu tiên số một của các hiền huynh sẽ phải là Phúc Âm Hóa - tức rao giảng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh cứu độ của Ðưc Giê-su Ki-tô một cách vui tươi, kiên nhẫn và tiệm tiến". [78] Ðiều này cũng áp dụng cho tất cả mọi người.

 

I. Toàn Thể Dân Chúa Công Bố Tin Mừng

111. Công cuộc Phúc Âm Hóa là nhiệm vụ của Giáo Hội. Giáo Hội, như tác nhân của công cuộc Phúc Âm Hóa, không chỉ là một định chế có cơ cấu và phẩm trật; Giáo Hội tiên vàn là dân tiến bước trên con đường lữ hành hướng đến Thiên Chúa. Giáo Hội chắc chắn là một mầu nhiệm có cội nguồn ở nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, tuy nhiên lại hiện hữu cách cụ thể trong lịch sử như một dân vừa lữ hành vừa loan báo Tin Mừng mà không có bất kỳ định chế nào có thể diễn tả được, dù thiết yếu đến mấy đi nữa. Tôi xin được lưu lại một lúc theo cách hiểu Giáo Hội như vậy, mà nền tảng tối hậu của nó ở nơi sáng kiến tự do và nhân từ của Thiên Chúa.

Một dân cho tất cả mọi người

112. Ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta là công trình đầy lòng thương xót của Ngài. Không nỗ lực nào của con người, dù tốt lành đến mấy đi nữa, có thể giúp chúng ta xứng đáng với một ân ban lớn lao đến như thế. Nhờ ân sủng thuần khiết của Ngài, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta đến với Ngài và cho chúng ta được hiệp nhất với Ngài. [79] Ngài sai phái Thánh Thần của Ngài vào trong tâm hồn chúng ta để làm cho chúng ta trở thành con cái của Ngài bằng cách biến đổi chúng ta và cho chúng ta có khả năng đáp trả tình yêu của Ngài bằng cuộc sống của chúng ta. Giáo Hội được Ðức Giê-su Ki-tô sai đi như bí tích cứu độ được Thiên Chúa ban tặng. [80] Qua hoạt động loan báo Tin Mừng của mình, Giáo Hội hợp tác như một khí cụ của thiên ân, thiên ân này hoạt động không ngừng và vô phương dò thấu. Ðức Bênêđictô XVI đã phát biểu như vậy đúng vào lúc bắt đầu những suy tư của Thượng Hội Ðồng Giám Mục: "Ðiều quan trọng là luôn luôn biết rằng Lời Ðầu Tiên, sáng kiến thật, hoạt động thật đến từ Thiên Chúa, và chỉ bằng cách tháp nhập chúng ta vào sáng kiến thần linh này, chỉ bằng cách cầu xin sáng kiến thần linh này, chúng ta cũng sẽ trở nên - với Ngài và trong Ngài - những nhà loan báo Tin Mừng". [81] Nguyên tắc tối thượng của ân sủng phải là một ngọn hải đăng thường hằng soi sáng những suy tư của chúng ta về công cuộc Phúc Âm Hóa.

113. Ơn cứu độ này, mà Thiên Chúa đã thực hiện và Giáo Hội hân hoan công bố, dành cho tất cả mọi người, [82] và Thiên Chúa đã gặp thấy một cách thế để hiệp nhất Ngài với mỗi người trong mọi thời đại. Ngài đã chọn triệu tập họ lại như một dân chứ không như những cá thể cô lập. [83] Không ai có thể tự mình cứu mình hay bằng sức riêng của mình. Thiên Chúa hấp dẫn chúng ta bằng cách chiếu cố đến sự đan kết phức tạp của những mối liên hệ giữa người với người được kế thừa ở nơi đời sống của một cộng đồng nhân loại. Dân mà Thiên Chúa đã chọn và kêu gọi là chính Giáo Hội. Chúa Giê-su đã không bảo các Tông Ðồ hình thành một nhóm độc nhất và ưu tuyển. Chúa Giêsu đã nói: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ" (Mt 28: 19). Thánh Phaolô nói với chúng ta ở nơi dân Thiên Chúa, ở nơi Giáo Hội "không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp#nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Ki-tô" (Gl 3: 28). Với những ai cảm thấy xa cách Thiên Chúa và Giáo Hội, những người sợ hãi và lãnh đạm, tôi xin được nói điều này: Thiên Chúa, với sự tôn trọng và yêu thương, cũng đang kêu gọi anh chị em là thành phần của dân Ngài!

114. Là Giáo Hội đồng nghĩa là dân Thiên Chúa, phù hợp với kế hoạch lớn lao từ tình phụ tử của Ngài. Ðiều này muốn nói rằng chúng ta phải là men của Thiên Chúa giữa nhân loại. Ðiều ấy có nghĩa công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa và đem ơn cứu độ của Thiên Chúa vào trong thế giới của chúng ta, thế giới thường lầm đường lạc lối và cần được khích lệ, ban niềm hy vọng và tăng cường sức mạnh trên đường. Giáo Hội phải là nơi của lòng thương xót được ban tặng cách nhưng không, là nơi mọi người có thể cảm thấy được tay bắt mặt mừng, được yêu thương, tha thứ và khuyến khích để sống một đời sống tốt đẹp của Tin Mừng.

Một dân có nhiều diện mạo

115. Dân Thiên Chúa nhập thể ở nơi các dân tộc trần thế, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng của mình. Khái niệm văn hóa rất có ích giúp chúng ta hiểu được những cách diễn tả đa dạng về đời sống Ki-tô hữu hiện diện trong Dân Thiên Chúa. Dân này có liên quan đến lối sống của một xã hội nhất định, đến cách thức đặc biệt theo đó các thành viên liên hệ với nhau, với các loài thụ tạo khác và với Thiên Chúa. Ðược hiểu theo cách này, văn hóa bao gồm toàn thể cuộc sống của một dân tộc. [84] Mỗi dân tộc, trong dòng lịch sử của mình, phát triển nền văn hóa của mình với quyền tự chủ hợp pháp. [85] Ðiều này là do sự kiện con người "tự bản tính cần đến đời xã hội" [86] và luôn luôn tồn tại khi quy chiếu đến xã hội, ở đó họ gặp thấy một cách thế cụ thể trong mối giao tiếp của mình với thực tại. Con người luôn luôn được định vị trong một nền văn hóa: "bản tính và văn hóa liên kết với nhau hết sức chặc chẽ". [87] Ân sủng giả định văn hóa, và thiên ân nhập thể trong văn hóa của những người lãnh nhận nó.

116. Kitô giáo đã trải qua hai ngàn năm, có vô số người đã lãnh nhận ơn đức tin, đã làm cho ơn đức tin được đơm bông kết trái trong đời sống hàng ngày của mình và chuyển giao nó bằng ngôn ngữ thuộc nền văn hóa riêng của mình. Hễ khi nào một cộng đồng lãnh nhận sứ điệp cứu độ, Chúa Thánh Thần phong phú hóa nền văn hóa của họ bằng quyền năng biến đổi của Tin Mừng. Lịch sử Giáo Hội cho thấy rằng Ki-tô giáo không đơn giản chỉ có một cách thức diễn tả văn hóa duy nhất, nhưng đúng hơn, "vẫn hoàn toàn chân thật với chính mình, bằng một lòng trung thành kiên vững với công việc công bố Tin Mừng và truyền thống Giáo Hội, Ki-tô giáo cũng sẽ phản ảnh những diện mạo khác nhau của các nền văn hóa và của các dân tộc trong đó nó được đón nhận và bén rễ". [88] Ở nơi tính đa dạng của các dân tộc, những dân tộc đã kinh qua thiên ân, mỗi thiên ân phù hợp với nền văn hóa của dân tộc mình, Giáo Hội diễn tả Công Giáo tính đích thực của mình và trưng ra "vẻ đẹp diện mạo muôn hình muôn vẻ của mình". [89] Trong những tập quán Ki-tô giáo của một dân tộc được Phúc Âm hóa, Chúa Thánh Thần trang điểm Giáo Hội, bày tỏ những khía cạnh Mặc Khải mới của Giáo Hội và ban cho Giáo Hội một gương mặt mới. Qua việc hội nhập văn hóa, Giáo Hội "dẫn đưa các dân tộc cũng như các nền văn hóa riêng của họ vào trong chính cộng đồng của Giáo Hội", [90] vì "mỗi nền văn hóa dâng hiến những giá trị và những hình thức tích cực có thể phong phú hóa cách thức mà Tin Mừng được rao giảng, được hiểu và được sống". [91] Theo cách này, "Giáo Hội đảm nhận những giá trị của các nền văn hóa khác nhau, và trở thành 'sponsa ornata monilibus suis', 'cô dâu lộng lẫy điểm trang bằng những đồ trang sức quý giá của mình'" (Is 61: 10). [92]

117. Khi được hiểu cách đúng đắn, tính đa dạng văn hóa không là mối đe dọa cho sự hiệp nhất của Giáo Hội. Chúa Thánh Thần, Ðấng được Chúa Cha và Chúa Con sai đến, biến đổi tâm hồn chúng ta và làm cho chúng ta có khả năng gia nhập vào sự hiệp thông hoàn hảo của Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi mà tất cả đều tìm thấy sự hiệp nhất của mình. Chính Ðấng ấy vun đắp sự hiệp thông và sự hòa hợp của Dân Thiên Chúa. Cũng chính Chúa Thánh Thần là sự hòa hợp đó, chính xác như Ngài là mối dây liên kết tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con. [93] Chính Ngài là Ðấng phát sinh tính đa dạng phong phú của những ân ban, đồng thời tạo nên sự hiệp nhất không bao giờ đồng dạng nhưng một sự hòa hợp muôn hình vạn trạng và quyến rũ. Công cuộc Phúc Âm Hóa hân hoan nhìn nhận kho tàng đa dạng này mà Chúa Thánh Thần tuôn đổ trên Giáo Hội. Chúng ta sẽ không thừa nhận sự hợp lý của Mầu Nhiệm Nhập Thể, nếu như chúng ta nghĩ về Kitô giáo như là đơn văn hóa và đơn điệu. Thật ra một số nền văn hóa kết hợp chặt chẽ với công việc rao giảng Tin Mừng và với sự phát triển tư tưởng Kitô giáo, vì thế sứ điệp mặc khải không đồng hóa với bất kỳ nền văn hóa nào trong số các nền văn hóa ấy; nội dung của sứ điệp thì siêu văn hóa. Vì vậy, trong công cuộc Phúc Âm Hóa các nền văn hóa mới hoặc các nền văn hóa chưa chấp nhận sứ điệp Kitô giáo, không nhất thiết phải áp đặt một hình thức văn hóa đặc thù nào, cho dù văn hóa ấy có đẹp đẽ và cổ kính thế nào đi nữa, vào Tin Mừng. Sứ điệp mà chúng ta công bố luôn luôn có một lớp áo văn hóa nào đó, nhưng đôi khi trong Hội Thánh, chúng ta rơi vào tình trạng thần thánh hóa nền văn hóa riêng của mình một cách vô ích, và quả thật bày tỏ sự cuồng tín chứ không là lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng đích thật.

118. Các Giám Mục Châu Ðại Dương đã yêu cầu Giáo Hội "khai triển một sự hiểu biết và trình bày chân lý của Ðức Kitô đang hoạt động từ các truyền thống và các văn hóa của miền", cũng như đã kêu gọi "tất cả các nhà truyền giáo làm việc trong sự hòa hợp với các Kitô hữu bản xứ ngõ hầu bảo đảm rằng đức tin và đời sống của Giáo Hội được diễn tả bằng những hình thức chính đáng xứng hợp với từng nền văn hóa". [94] Chúng ta không thể đòi hỏi các dân tộc của mỗi lục địa phải diễn tả đức tin Ki-tô giáo của họ, rập khuôn theo các biểu thức mà các quốc gia Châu Âu đã phát triển vào thời điểm đặc thù của lịch sử mình, bởi vì đức tin không thể bị giới hạn vào sự hiểu biết và cách thức diễn tả của bất kỳ một nền văn hóa duy nhất nào. [95] Một sự kiện không thể nào chối cãi là không một nền văn hóa độc nhất nào có thể thể tát cạn mầu nhiệm cứu chuộc của chúng ta nơi Ðức Ki-tô.

Tất cả chúng ta là những môn đệ truyền giáo

119. Ở nơi tất cả những người đã được rửa tội, từ người đầu tiên đến người cuối cùng, quyền năng thánh hóa của Chúa Thánh Thần đang hoạt động, thúc đẩy chúng ta dự phần vào công cuộc Phúc Âm Hóa. Dân Thiên Chúa là thánh nhờ việc xức dầu này làm cho họ bất khả ngộ trong đức tin ("in credendo"). Ðiều này muốn nói rằng Dân Thiên Chúa không lầm lạc trong đức tin, thậm chí cho dù họ không thể gặp thấy những ngôn từ để giải thích đức tin đó. Chúa Thánh Thần hướng dẫn họ trong sự thật và dẫn đưa họ đến ơn cứu độ. [96] Như một phần mầu nhiệm yêu thương của Ngài dành cho nhân loại, Thiên Chúa phú cho toàn thể các tín hữu một bản năng đức tin - sensus fidei - giúp họ phân định điều gì thực sự đến từ Thiên Chúa. Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ban cho các Kitô hữu một sự đồng bản tính (connaturalité) với những thực tại thần linh và ơn khôn ngoan giúp họ có khả năng hiểu biết những thực tại qua trực giác, ngay cả khi họ thiếu ngôn từ cần thiết để diễn tả chúng cách chính xác.

120. Nhờ bí tích Rửa Tội của mình, tất cả thành viên của Dân Thiên Chúa trở thành những môn đệ truyền giáo (x. Mt 28:19). Mọi người đã được rửa tội, bất kể vị thế của họ trong Giáo Hội hay trình độ giáo dục đức tin của họ, đều là những tác nhân của công cuộc Phúc Âm Hóa, và thật là thiếu sót khi hình dung một kế hoạch Phúc Âm Hóa được các chuyên viên thực hiện trong khi các tín hũu còn lại chỉ là những người tiếp nhận thụ động. Công cuộc Tân Phúc Âm Hóa kêu gọi mỗi người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải dự phần vào. Mỗi người Ki-tô hữu có bổn phận, ở đây và bây giờ, phải dấn thân cách tích cực vào công cuộc Phúc Âm Hóa; quả thật, bất kỳ ai đã thật sự kinh qua tình yêu cứu độ của Thiên Chúa thì không cần được huấn luyện nhiều thời gian và dài lâu để ra đi và công bố tình yêu đó. Mỗi người Ki-tô hữu là một nhà truyền giáo theo mức độ mà người ấy đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa nơi Ðức Giê-su Ki-tô; chúng ta không còn nói rằng chúng ta là "những môn đệ" và "những nhà truyền giáo", nhưng đúng hơn, chúng ta mãi mãi là "những môn đệ truyền giáo". Nếu chúng ta không xác tín, hãy nhìn vào những môn đệ tiên khởi đó, những người này, ngay sau khi gặp gỡ ánh mắt của Ðức Giê-su, hân hoan ra đi công bố: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Mê-si-a" (Ga 1: 41). Người phụ nữ Samaria đã trở thành nhà truyền giáo ngay sau khi nói chuyện với Ðức Giê-su và nhiều người Samaria đã tin vào Chúa Giêsu "vì lời người phụ nữ làm chứng" (Ga 4: 39). Thánh Phao-lô cũng vậy, sau cuộc gặp gỡ của thánh nhân với Ðức Giêsu Kitô, "lập tức rao giảng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa" (Cv 9:20). Vì thế, chúng ta còn chờ đợi gì?

121. Dĩ nhiên, tất cả chúng ta đều được mời gọi trưởng thành trong công việc của chúng ta như những nhà truyền giáo. Ðồng thời chúng ta cũng muốn được huấn luyện tốt hơn để tình yêu của mình được đào sâu hơn và lời chứng của mình cho Tin Mừng được rõ ràng hơn. Theo nghĩa này, chúng ta phải để cho người khác thường hằng Phúc Âm hóa mình. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta phải hoãn lại sứ mạng loan báo Tin Mừng; đúng hơn, mỗi người chúng ta phải tìm thấy những cách thế thông truyền Ðức Giê-su dù chúng ta đang ở đâu đi nữa. Tất cả chúng ta được kêu gọi dâng hiến cho tha nhân một chứng từ minh nhiên cho tình yêu cứu độ của Chúa, Ðấng bất chấp sự bất toàn của chúng ta dâng hiến cho chúng ta mối thân tình của Người, Lời của Người, sức mạnh của Người và ý nghĩa cho cuộc đời chúng ta. Trong lòng mình, anh chị em biết rằng đời sống sẽ là rất khác nếu không có Ngài; điều gì anh chị em đã ngộ ra, điều gì đã giúp cho anh chị em sống và ban cho anh chị em niềm hy vọng, chính là điều anh chị em cũng cần phải thông truyền cho những người khác. Tình trạng bất toàn của chúng ta không phải là một lý do đưa ra để thoái thác; trái lại, sứ vụ là một niềm hưng phấn thường hằng không phải để mình vẫn cứ ù lỳ trong tình trạng tầm thường nhưng để tiếp tục lớn lên. Chứng từ đức tin mà mỗi Kitô hữu được mời gọi dâng hiến, khiến chúng ta phải thốt lên cùng với thánh Phao-lô: "Không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt; bởi lẽ chính tôi đã được Ðức Giê-su Ki-tô chiếm đoạt" (Pl 3: 12-13).

Sức mạnh loan báo Tin Mừng của việc đạo đức bình dân

122. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng các dân tộc khác nhau, trong số đó Tin Mừng đã được hội nhập văn hóa, là những chủ thể tập thể chủ động hay những tác nhân của công cuộc Phúc Âm Hóa. Bởi lẽ mỗi dân tộc là người sáng tạo nền văn hóa riêng của mình và là nhân vật chính của lịch sử riêng mình. Văn hóa là một thực tại năng động mà một dân tộc thường hằng tái tạo; mỗi thế hệ chuyển giao cho thế hệ sau một loạt những cách thế tiếp cận những hoàn cảnh sống khác nhau, thế hệ này đến phiên mình phải công thức hóa lại văn hóa này khi họ đương đầu với những thách đố riêng của mình. Là con người có nghĩa "đồng lúc vừa là con vừa là cha của nền văn hóa mà người ta thuộc về". [97] Một khi Tin Mừng được hội nhập vào văn hóa của một dân tộc, vào tiến trình chuyển giao văn hóa của dân tộc đó, thì dân tộc đó cũng chuyển giao đức tin bằng những hình thức mới mãi; vì lý do này tầm quan trọng của công cuộc Phúc Âm Hóa được hiểu như cuộc hội nhập văn hóa. Bằng việc thể hiện thiên ân thành đời sống riêng của mình và phù hợp với thiên khiếu riêng của mình, mỗi thành phần của Dân Chúa làm chứng cho đức tin mà họ đã lãnh nhận và phong phú hóa đức tin bằng những cách diễn tả mới và hùng hồn. Người ta có thể nói rằng "một dân tộc liên tục Phúc Âm hóa chính mình". [98] Ở đó tồn tại tầm quan trọng đặc biệt của việc đạo đức bình dân, một cách diẽn tả chân thực về hoạt động truyền giáo bộc phát của Dân Thiên Chúa. Ðây là một tiến trình tiếp diễn và phát triển mà Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của tiến trình này. [99]

123. Tâm tình đạo đức bình dân giúp chúng ta có khả năng thấy được cách thế đức tin, một lần được lãnh nhận, hiện thân trong một nền văn hóa và thường hằng được chuyển giao. Trước kia, lòng đạo đức bình dân đã bị khinh thường, nay đã được đánh giá cao trong những thập niên sau Công Ðồng. Trong Tông Huấn Evangelii Nuntiandi, Ðức Phao-lô VI đã đem lại một động lực có tính quyết định trong lãnh vực này. Trong Tông Huấn đó, Ðức Thánh Cha đã phát biểu rằng lòng đạo đức bình dân "biểu lộ niềm khao khát Thiên Chúa mà chỉ những người nghèo hèn và những người đơn sơ mới có thể nhận biết được" [100] và rằng "Khi cần bày tỏ lòng tin nó có thể khiến người ta sống quảng đại và hy sinh đến mức anh hùng". [101] Gần chúng ta hơn, Ðức Bê-nê-đic-tô XVI, khi nói về Châu Mỹ Latinh, đã vạch ra rằng lòng đạo đức bình dân là một "kho tàng quý báu của Giáo Hội Công Giáo" trong đó "chúng ta thấy linh hồn của các dân tộc Mỹ Châu La-tin". [102]

124. Văn Kiện Aparecida mô tả sự phong phú mà Chúa Thánh Thần đổ tràn ở nơi tâm tình đạo đức bình dân bằng những sáng kiến nhưng không của Ngài. Ở lục địa thân yêu này, nơi mà nhiều Ki-tô hữu diễn tả đức tin của mình qua lòng đạo đức bình dân, các Giám Mục cũng quy chiếu đến lòng mộ đạo này như "nền linh đạo bình dân" hay "khoa thần bí dân gian". [103] Nó thật sự là "một nền linh đạo nhập thể trong văn hóa của những người hèn mọn". [104] Nó cũng không trống rỗng nội dung; đúng hơn, nó khám phá và diễn tả nội dung đó bằng những biểu tượng chứ không bằng lý luận, và trong hành vi đức tin dấu nhấn được đặt trên "tin vào Thiên Chúa" ("credere in Deum") hơn trên "tin Thiên Chúa" ("credere Deum"). [105] Chính là "một cách thế chính đáng để sống đức tin, một cách thế để cảm thấy là phần tử của Hội Thánh và là cách thế để là những nhà truyền giáo". [106] Lòng đạo đức bình dân mang theo với mình ân sủng để là một nhà truyền giáo, để ra đi khỏi chính mình và lên đường hành hương: "Cùng nhau hành trình đến các thánh địa và tham dự vào các biểu hiện khác của việc đạo đức bình dân, cũng dắt theo con cái của mình hay mời gọi những người khác, tự nó là một cử chỉ loan báo Tin Mừng". [107] Chúng ta đừng tìm cách kiềm chế hay liều điều chỉnh quyền năng truyền giáo này!

125. Ðể hiểu thực tại này, chúng cần phải tiếp cận nó với cái nhìn chăm chú của vị Mục Tử Nhân Lành, Ðấng không tìm cách để phán xét, nhưng để yêu thương. Chỉ từ mối đồng cảm chân thực phát sinh từ tình yêu chúng ta mới có thể đánh giá cao cuộc sống thần học hiện diện ở nơi tâm tình đạo đức của các dân tộc Ki-tô giáo, đặc biệt ở giữa những người nghèo hèn của các dân tộc này. Tôi nghĩ về đức tin kiên vững của những bà mẹ, vừa chăm sóc những đứa con đau ốm của mình, mặc dù chỉ thuộc qua loa kinh Tin Kính, tay vừa lần tràng hạt Mân Côi; hay đặt tất cả hy vọng của mình vào một ngọn nến lung linh trong căn nhà tồi tàn, miệng lâm râm đọc kinh Kính Mầng để xin Mẹ phù hộ; hoặc ánh mắt trìu mến ngước nhìn lên Chúa Giê-su chịu đóng đinh. Bất cứ ai yêu mến dân thánh của Thiên Chúa sẽ không nhìn thấy những hành động này là cách diễn tả của việc tìm kiếm Thiên Chúa thuần túy nhân bản. Chúng là biểu hiện một cuộc sống thần học được nuôi dưỡng bởi tác động của Chúa Thánh Thần, nhờ Ðấng ấy Thiên Chúa đổ tình yêu của mình vào lòng chúng ta (x. Rm 5: 5).

126. Nền tảng của việc đạo đức bình dân, như thành quả của việc hội nhập Tin Mừng vào văn hóa, là một quyền năng tích cực của việc loan báo Tin Mừng mà chúng ta không được đánh giá thấp: làm như thế là không nhận ra công việc của Chúa Thánh Thần. Trái lại, chúng ta được mời gọi đẩy mạnh và tăng cường công việc thần linh đó, ngõ hầu đào sâu tiến trình hội nhập văn hoá không bao giờ chấm dứt. Những cách diễn tả của lòng đạo đức bình dân có nhiều điều để dạy chúng ta; đối với những ai có khả năng đọc chúng, chúng là địa điểm thần học đòi hỏi chúng ta phải chú ý, đặc biệt vào lúc chúng ta đang mong đợi công cuộc Tân Phúc Âm Hóa.

Người với người

127. Ngày nay, trong khi Giáo Hội tìm cách trải nghiệm cuộc canh tân truyền giáo sâu xa, có một loại rao giảng trở thành nhiệm vụ của mỗi người chúng ta như là trách nhiệm hàng ngày. Ðó là mang Tin Mừng đến cho những người mà chúng ta gặp, dù họ là những người thân cận của chúng ta hay những người hoàn toàn lạ. Ðây là việc rao giảng thân mật xảy ra trong cuộc chuyện trò, đó cũng là chuyến viếng thăm của nhà truyền giáo đến một gia đình. Là một môn đệ có nghĩa là luôn luôn trong tư thế sẵn sàng mang tình yêu của Chúa Giê-su đến cho người khác và điều này có thể xảy ra bất ngờ, ở bất cứ nơi nào, trên đường phố, nơi quảng trường, trong lúc làm việc, trong một cuộc hành trình.

128. Trong việc rao giảng này, luôn luôn với thái độ tôn trọng và tử tế, bước đầu tiên là một cuộc đối thoại cá nhân, khi người kia nói và chia sẻ niềm vui của mình, niềm hy vọng của mình và nỗi bận lòng của mình dành cho những người thân yêu của mình, hay biết bao nhu cầu tâm sự khác. Chỉ sau đó, chúng ta mới có thể nêu ra Lời Chúa, có thể bằng cách đọc một câu Kinh Thánh hay kể một câu chuyện, nhưng luôn luôn ghi nhớ trong tâm trí mình sứ điệp cơ bản: tình yêu đích thân của Thiên Chúa, Ðấng đã trở thành người, Ðấng đã hiến mình cho chúng ta, Ðấng đang sống và ban tặng cho chúng ta ơn cứu độ của Người và tình bằng hữu của Người. Sứ điệp này phải được chia sẻ với thái độ khiêm tốn như một chứng từ của người luôn luôn sẵn sàng học hỏi, với nhận thức rằng sự điệp thì quá phong phú và quá thâm sâu đến mức luôn luôn vượt quá sự hiểu biết của mình. Ðôi lúc sứ điệp có thể được trình bày trực tiếp, đôi lúc bằng chứng từ hay cử chỉ cá nhân, hay theo cách thức mà Chúa Thánh Thần có thể đề nghị trong một hoàn cảnh đặc thù đó. Nếu tình hình thích hợp, cuộc gặp gỡ truyền giáo và huynh đệ này có thể được kết thúc bằng một lời cầu nguyện ngắn liên hệ đến những mối quan tâm mà người ấy vừa mới tâm sự. Theo cách này, người ấy sẽ trải nghiệm về việc mình được lắng nghe và được hiểu; người ấy sẽ biết rằng hoàn cảnh đặc thù của mình đã được đặt trước thánh nhân Thiên Chúa và Lời Chúa thật sự ngỏ lời với cuộc đời của mình.

129. Tuy nhiên, chúng ta không nên nghĩ rằng sứ điệp Tin Mừng phải luôn luôn được thông truyền bởi những cách diễn tả cố định phải học thuộc lòng hay bởi những ngôn từ đặc thù diễn tả một nội dùng tuyệt đối bất khả đổi thay. Sự thông truyền này xảy ra theo nhiều cách thức đến mức không thể mô tả hay liệt kê tất cả chúng, và dân Thiên Chúa, với nhiều cử chỉ và dấu chỉ của mình, là một chủ thể tập thể của Tin Mừng. Nếu Tin Mừng được gắn chặc vào trong một nền văn hóa, sứ điệp không còn được chuyển giao chỉ từ người này sang người khác. Trong các quốc gia mà Ki-tô hữu là thiểu số, các Giáo Hội địa phương không chỉ khuyến khích mỗi người đã được rửa tội công bố Tin Mừng, mà còn phải tích cực xúc tiến ít ra các hình thức hội nhập văn hóa mở đầu. Mục đích tối hậu phải là Tin Mừng. Một khi được rao giảng bằng những phạm trù thích hợp với mỗi nền văn hóa, Tin Mừng sẽ tạo nên một tổng hợp mới với nền văn hóa đặc thù đó. Ðây luôn luôn là một tiến trình tiệm tiến và đôi khi chúng ta có thể sợ hãi quá mức. Nhưng nếu chúng ta để cho những nghi nan ngờ vực và những nỗi sợ hãi kiềm chế dũng khí của mình, thay vì sáng tạo, chúng ta sẽ vẫn thoải mái mà không thực hiện bất kỳ một tiến bộ nào. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ không tích cực dự phần vào những tiến trình lịch sử, nhưng chỉ là những khách bàng quang trong khi Giáo Hội càng lúc càng sa lầy vào tình trạng ao tù nước đọng của đình đốn trì trệ.

Các đặc sủng để phục vụ sự hiệp thông loan báo Tin Mừng

130. Chúa Thánh Thần cũng phong phú hóa toàn thể Giáo Hội loan báo Tin Mừng bằng những đặc sủng khác nhau. Những đặc sủng này nhằm đổi mới và vun đắp Giáo Hội. [108] Các đặc sủng không phải là một di sản được canh phòng cẩn mật và được ủy thác cho một nhóm nhỏ để bảo vệ; đúng hơn, chúng là những ân ban của Chúa Thánh Thần được hòa nhập vào thân thể Giáo Hội, được thu hút vào trung tâm là Ðức Kitô, và rồi được hướng vào niềm hưng phấn loan báo Tin Mừng. Một dấu chỉ chắc chắn về tính chính thống của một đặc sủng là đặc tính Giáo Hội của nó, nó có khả năng hòa nhập vào đời sống dân Thiên Chúa vì phúc lợi của mọi người. Một điều gì thật sự mới được Chúa Thánh Thần gây nên không cần che khuất các ân ban khác và các nền linh đạo khác để chứng tỏ mình. Một đặc sủng càng hướng về trọng tâm Tin Mừng thì việc thực thi nó sẽ càng có tính Giáo Hội hơn. Chính ở nơi sự hiệp thông, dù thật là đau đớn, mà một đặc sủng được coi là chân chính và sinh hoa kết trái cách nhiệm mầu. Dựa trên lời đáp trả của mình trước sự thách đố này, Giáo Hội có thể là một khuôn mẫu của hòa bình trên thế giới.

131. Những khác biệt giữa những cá nhân và cộng đồng đôi khi có thể cho thấy là bất tiện, nhưng Chúa Thánh Thần, Ðấng là nguồn mạch của sự đa dạng này, có thể rút ra từ mọi sự một điều tốt lành và biến nó thành một phương tiện hấp dẫn cho công cuộc Phúc Âm Hóa. Sự đa dạng luôn luôn phải được ơn phù trợ của của Chúa Thánh Thần hòa giải; chỉ có Ngài mới có thể tạo nên sự đa dạng, sự đa phức và sự hóa nhiều, đồng thời tạo nên sự hiệp nhất. Khi chúng ta tự mình khao khát sự đa dạng, chúng ta tự nhốt kín mình, trở nên độc quyền và gây chia rẽ. Cũng vậy, khi nào chúng ta cố gắng tạo nên sự hiệp nhất trên nền tảng của những tính toán phàm trần của chúng ta, rốt cuộc chúng ta áp đặt sự đồng đạng theo kiểu đồng phục. Ðiều này chẳng hữu ích gì cho sứ mạng của Giáo Hội.

Văn hóa, tư tưởng và giáo dục

132. Công bố sứ điệp Tin Mừng cho những nền văn hóa khác nhau cũng cần phải công bố sứ điệp Tin Mừng cho những nhóm người chuyên nghiệp, khoa học và học thuật. Ðiều này có nghĩa là một cuộc gặp gỡ giữa đức tin, lý trí và khoa học nhằm mục đích phát triển những cách tiếp cận mới và những luận chứng mới về những vấn đề của sự khả tín, một khoa hộ giáo đầy sáng tạo [109], khoa này muốn khuyến khích mọi người mở rộng lòng mình hơn nữa cho Tin Mừng. Khi một số phạm trù của lý trí và khoa học được tiếp nhận vào việc công bố sứ điệp, các phạm trù này sau đó trở thành công cụ của công cuộc Phúc Âm Hóa; nước hóa thành rượu. Bất cứ điều gì được tiếp nhận thì không chỉ được cứu chuộc mà còn trở thành một công cụ của Chúa Thánh Thần để soi sáng và đổi mới thế giới.

133. Mối bận tâm của các nhà truyền giáo là đến với mọi người hay Tin Mừng được công bố cho tất cả mọi nền văn hóa, thì mối bận tâm này vẫn chưa đủ. Thần học - không đơn giản là thần học mục vụ - trong cuộc đối thoại với các khoa học khác và các kinh nghiệm con người thì rất quan trọng để chúng ta phân định cách thức tốt nhất hầu có thể đem sứ điệp Tin Mừng đến những bối cảnh và những nhóm người thuộc văn hóa khác nhau. [110] Dấn thân vào công cuộc Phúc Âm Hóa, Giáo Hội đánh giá cao và khuyến khích đặc sủng của các nhà thần học và các nỗ lực trí tuệ của họ trong việc thúc đẩy cuộc đối thoại với thế giới của các nền văn hóa và của các khoa học. Tôi kêu gọi các nhà thần học thực thi nhiệm vụ này như một phần sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ phải luôn luôn nhớ rằng Giáo Hội và thần học hiện hữu để loan báo Tin Mừng, chứ không chỉ hài lòng với một thứ thần học bàn giấy.

134. Các trường đại học là những môi trường nổi bật để phối hợp và phát triển sự dấn thân loan báo Tin Mừng này theo cách thức liên ngành và hợp nhất. Các trường Công Giáo luôn luôn cố gắng kết hợp công tác giáo dục với công việc công bố Tin Mừng cách rõ ràng, đó là một đóng góp rất có giá trị cho công cuộc Phúc Âm hóa nền văn hóa, ngay cả trong các quốc gia và các thành phố nơi mà những hoàn cảnh thù nghịch thách đố chúng ta sử dụng khả năng sáng tạo lớn lao hơn trong việc tìm kiếm những phương pháp thích hợp. [111]

 

II. Bài Giảng

135. Bây giờ chúng ta hãy chú ý đến việc rao giảng trong phụng vụ, công việc đòi hỏi các vị mục tử phải xem xét cách nghiêm túc. Tôi xin được chú ý cách đặc biệt, thậm chí có phần tỉ mỉ, đến bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng, bởi vì có rất nhiều người bày tỏ mối bận tâm của mình về thừa tác vụ quan trọng này và chúng ta không thể đơn giản giả vờ như không hay biết. Bài giảng là tiêu chuẩn để thẩm định sự gần gũi và khả năng thông truyền của vị mục tử với dân mình. Chúng ta biết rằng các tín hữu rất coi trọng bài giảng; và cả họ lẫn những thừa tác viên chức thánh chịu khổ sở vì những bài giảng: giáo dân chịu khổ sở vì phải lắng nghe các bài giảng (thiếu chất lượng) và giáo sĩ chịu khổ sở vì phải giảng những bài giảng như thế. Sự thể đến nông nỗi như vậy thật đáng buồn. Trên thực tế, bài giảng có thể là một kinh nghiệm mãnh liệt và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, một cuộc gặp gỡ đem lại niềm an ủi với Lời Chúa, một nguồn mạch thường hằng của việc canh tân và tăng trưởng.

136. Chúng ta hãy đổi mới sự tín nhiệm của mình khi rao giảng, dựa trên niềm xác tín rằng chính Thiên Chúa tìm cách đến với con người qua nhà giảng thuyết và Ngài sẽ phô bày quyền năng của Ngài qua những lời của con người. Thánh Phaolô quả quyết nhu cầu phải rao giảng, vì Chúa khao khát đến với người khác nhờ lời của chúng ta (x. Rm 10: 14-17). Nhờ Lời Người, Chúa chúng ta đã chinh phục tấm lòng của dân chúng. Dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người (x. Mc 1: 45). Nhiều người rất đổi ngạc nhiên khi nghe giáo huấn của Người (x. Mc 6: 2) và họ nhận thức rằng Người nói với họ như một Ðấng có uy quyền (x. Mc 1: 27). Nhờ lời của mình, các Tông Ðồ, những người Ðức Kitô đã thiết lập "để ở với Người và để Người sai đi rao giảng" (Mc 3: 14), đã thu nạp mọi dân nước vào Giáo Hội (x. Mc 16: 15, 20).

Bối cảnh phụng vụ

137. Thật là thích đáng để nhớ rằng "việc công bố Lời Chúa trong phụng vụ, đặc biệt trong cộng đồng Thánh Thể, không phải là thời gian dành để suy niệm và dạy giáo lý mà là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, một cuộc đối thoại trong đó những kỳ công cứu độ được công bố và những đòi hỏi của Giao Ước được liên tục phát biểu lại". [112] Bài giảng có một tầm quan trọng đặc biệt do bối cảnh Thánh Thể của nó; nó vượt qua tất cả mọi hình thức của một bài giáo lý như là đỉnh điểm trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài dẫn đến sự hiệp thông bí tích. Bài giảng một lần nữa đảm nhận cuộc đối thoại mà Thiên Chúa đã thiết lập rồi với dân Ngài. Nhà thuyết giảng phải biết tâm hồn của cộng đồng mình để nhận ra ở đâu lòng khao khát Thiên Chúa của cộng động thì sống động và cháy bỏng, cũng như ở đâu cuộc đối thoại đó, trước đây chan chứa yêu thương, đã bị cản trở và bây giờ không thể sinh hoa kết quả.

138. Bài giảng không thể là một hình thức giải trí như những hình thức giải trí được các phương tiện truyền thông trình bày, nhưng nó phải thực sự ban sự sống và ý nghĩa cho Thánh Lễ. Bài giảng là một thể loại đặc biệt, vì nó là việc rao giảng được định vị trong khuôn khổ của một cuộc cử hành phụng vụ; do đó nó phải ngắn gọn và tránh hình thức của một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình. Một nhà thuyết giảng chắc hẳn có khả năng giữ được sự chú ý của thính giả trong một giờ, nhưng trong trường hợp này những lời của ông trở nên quan trọng hơn việc cử hành đức tin. Nếu bài giảng kéo dài quá lâu, nó sẽ ảnh hưởng đến hai yếu tố đặc trưng của việc cử hành phụng vụ: sự cân đối của việc cử hành phụng vụ và nhịp điệu của việc cử hành phụng vụ. Khi việc rao giảng xảy ra trong bối cảnh phụng vụ, nó là một phần lễ vật được dâng lên Chúa Cha và là trung gian của ân sủng mà Ðức Ki-tô đổ ra trong suốt Thánh Lễ. Bối cảnh này đòi hỏi bài giảng phải hướng dẫn cộng đồng và nhà thuyết giảng đến sự hiệp thông làm thay đổi đời sống với Ðức Ki-tô trong Bí Tích Thánh Thể. Ðiều này muốn nói rằng những lời của nhà giảng thuyết phải được xem xét cẩn thận, ngỏ hầu Chúa, chứ không phải thừa tác viên của Người, sẽ là trung tâm của sự chú ý.

Một cuộc nói chuyện của một người mẹ

139. Chúng ta đã nói rằng Dân Thiên Chúa, nhờ tác động thường hằng nội tại của Chúa Thánh Thần, Phúc Âm hóa chính mình luôn mãi. Nguyên tắc này gợi lên cho các nhà thuyết giảng những hàm ý gì? Nguyên tắc này nhắc nhở chúng ta rằng Giáo Hội là một bà mẹ, vì thế Giáo Hội giảng dạy theo cung cách như một bà mẹ nói chuyện với con mình, biết rằng đứa con tin rằng tất cả những gì mẹ giảng dạy nhằm mưu cầu lợi ích cho mình vì chúng biết rằng chúng được mẹ yêu thương. Hơn nữa, một người mẹ tốt lành có thể nhận ra tất cả những gì Thiên Chúa đang thực hiện ở nơi con cái mình, lắng nghe những quan tâm của chúng và học hỏi từ chúng. Tinh thần yêu thương ngự trị trong một gia đình và hướng dẫn cả mẹ lẫn con trong cuộc đối thoại của họ, ở đó người ta dạy và học, sửa chữa và đề cao những điều tốt. Cũng tương tự như thế trong một bài giảng. Cũng một Chúa Thánh Thần, Ðấng linh hứng các sách Tin Mừng và hoạt động trong Giáo Hội, cũng linh hứng nhà thuyết giảng để lắng nghe đức tin của Dân Thiên Chúa và tìm gặp cách thế rao giảng thích hợp ở mỗi Thánh Thể. Quả thật, bài giảng Ki-tô giáo gặp thấy ở nơi tâm hồn của dân và nền văn hóa của họ một nguồn nước hằng sống giúp nhà thuyết giảng biết mình phải nói gì và phải nói điều đó như thế nào. Cũng như tất cả chúng ta đều thích người khác nói với mình bằng tiếng mẹ đẻ của mình, cũng vậy trong đức tin, chúng ta cũng muốn người ta nói bằng "văn hóa của mẹ", bằng giọng nói quê quán của mình (x. 2Mac 7: 21, 27), và chúng ta sẵn lòng lắng nghe hơn. Ngôn ngữ này là một loại âm nhạc khơi nguồn hứng khởi cho lòng dũng cảm, sức mạnh và niềm phấn chấn.

140. Bối cảnh này, vừa có tính cách mẫu tử vừa có tính cách Giáo Hội, trong đó cuộc đối thoại giữa Chúa với dân Người xảy ra, phải được sự thân tình của nhà thuyết giảng khích lệ, giọng nói ấm áp của ngài, cung giọng khiêm tốn của ngài, những cử chỉ toát lên niềm vui của ngài. Ngay cả bài giảng đôi khi hơi thiếu sức hấp dẫn, nếu chan chứa tinh thần mẫu tử và Giáo Hội này, thì bài giảng ấy sẽ luôn luôn sản sinh nhiều hoa trái, tựa như những lời khuyên bảo buồn chán của một bà mẹ mang lại kết quả, đúng thời đúng buổi, trong lòng con cái của bà.

141. Chúng ta chỉ còn biết thán phục những phương tiện mà Chúa đã sử dụng để đối thoại với dân Người, để mặc khải mầu nhiệm của Người cho mọi người, để thu hút giới bình dân bằng những giáo huấn và những yêu sách cao vời của Người. Tôi tin rằng bí mật nằm ở nơi ánh mắt chan chứa yêu thương của Người nhìn vào dân chúng, vượt trên những yếu đuối và sa ngã của họ: "Hỡi đàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước Trời cho anh em" (Lc 12: 32); Chúa Giê-su rao giảng với tinh thần này. Hớn hở vui mừng trong Chúa Thánh Thần, Chúa Giê-su chúc tụng Chúa Cha là Ðấng đã lôi kéo những người bé mọn đến với Người: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn" (Lc 10: 21). Chúa thực sự vui thích nói chuyện với dân Người, thế nên nhà thuyết giảng phải nỗ lực thông truyền niềm vui như vậy cho thính giả của mình.

Những lời đốt cháy lòng người

142. Ðối thoại không chỉ thông truyền chân lý, nhưng còn xuất phát từ niềm vui thích được nói và còn phong phú hóa những ai diễn tả tình yêu cho nhau qua trung gian của những lời nói. Ðây là một sự phong phú không hệ tại ở nơi các sự vật nhưng ở nơi những người chia sẻ bản thân mình cho nhau trong cuộc đối thoại. Một bài giảng thuần túy về luân lý hoặc về tín lý hay về chú giải Thánh Kinh làm giảm bớt sức thông truyền từ tấm lòng này sang tấm lòng khác, sức thông truyền này xảy ra trong bài giảng và sở hữu một tính cách hầu như bí tích: "Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Ðức Ki-tô" (Rm 10: 17). Trong bài giảng, chân lý cùng chung nhịp bước tay trong tay với sự thiện và sự mỹ. Trong bài giảng, nhà thuyết giảng không bàn đến những chân lý trừu tượng hay những lý lẽ lạnh lùng, nhưng thông truyền những hình ảnh đẹp được Chúa sử dụng để thôi thúc người tín hữu thực thi điều thiện. Ký ức của người tín hữu, giống như của Ðức Maria, phải tuôn tràn những điều kỳ diệu của Thiên Chúa. Tâm hồn của họ, vui mừng và hy vọng khi thực thi tình yêu mà mình đã đón nhận, sẽ nhận thức rằng mỗi lời Kinh Thánh là một ân ban trước khi là một yêu sách.

143. Sự thách đố của một bài giảng được hội nhập văn hóa hệ tại ở nơi việc công bố một tổng hợp chứ không những ý tưởng hoặc những giá trị rời rạc. Tổng hợp của bạn ở đâu thì lòng của bạn ở đó. Sự khác biệt giữa việc làm cho dân chúng được sáng tỏ bằng một tổng hợp và việc làm cho dân chúng được sáng tỏ bằng những ý tưởng rời rạc. Ðiều này cũng tương tự như sự khác biệt giữa tình trạng buồn chán và sự nhiệt tình rung động lòng người. Nhà thuyết giảng có một nhiệm vụ tuyệt vời nhưng khó khăn là kết hợp những tấm lòng chan chứa tình yêu, đó là tấm lòng của Chúa và tấm lòng của dân Người. Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài tăng cường thêm nữa Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài và thắt chặc thêm nữa mối dây liên hệ yêu thương. Trong suốt bài giảng, người tín hữu giữ lòng mình im lặng để lắng nghe Thiên Chúa nói. Chúa và dân Ngài nói trực tiếp với nhau bằng hằng ngàn cách mà không cần bất kỳ trung gian nào. Nhưng trong bài giảng cả Thiên Chúa lẫn dân Ngài đều muốn một ai đó phục vụ như một khí cụ và diễn tả tâm tình của mình để rồi sau đó mỗi bên chọn cách thức để cuộc chuyện trò được tiếp tục. Lời Chúa tự bản chất là một trung gian và đòi hỏi không chỉ hai người đối thoại, nhưng cũng một người trung gian, người này trình bày đúng như những gì mà Lời muốn nói, vì xác tín rằng "chúng tôi không rao giảng chính mình, nhưng Ğức Giêsu Kitô là Chúa; còn chúng tôi chỉ là đầy tớ của anh chị em vì Chúa Giêsu" (2Cor 4: 5).

144. Nói từ tấm lòng có nghĩa là lòng chúng ta không chỉ bừng cháy, nhưng cũng còn được khai sáng bởi sự toàn vẹn của Mặc Khải và bởi con đường mà Lời Chúa đã hành trình trong lòng của Giáo Hội và của các tín hữu xuyên suốt lịch sử. Như vòng tay yêu thương mà Chúa Cha đã ôm chúng ta khi chúng ta được rửa tội vào lúc còn bé, căn tính Ki-tô giáo này khiến lòng chúng ta ao ước, như những đứa con hoang đàng - và những đứa con yêu dấu trong lòng của Ðức Ma-ri-a - một vòng tay khác, vòng tay của Chúa Cha đầy lòng xót thương, Ðấng đang chờ đợi ôm chúng ta trong vinh quang. Giúp các tín hữu của chúng ta cảm thấy rằng họ sống giữa hai vòng tay này là một nhiệm vụ khó khăn nhưng đẹp đẽ của người rao giảng Tin Mừng.

 

III. Chuẩn Bị Bài Giảng

145. Việc chuẩn bị bài giảng là một nhiệm vụ quá quan trọng đến mức chúng ta phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu, cầu nguyện, suy niệm và sáng tạo mục vụ. Với trọn một tấm lòng yêu mến, tôi muốn dừng lại vài giây phút để đưa ra một phương pháp chuẩn bị bài giảng. Một số người hẳn là gặp thấy vài đề nghị này là hiển nhiên, nhưng tôi cho rằng thật hữu ích để đưa ra những đề nghị này như một cách nhấn mạnh rằng cần phải dành thời gian có chất lượng cho thừa tác vụ cao quý này. Một số vị mục tử lập luận rằng công việc chuẩn bị như thế là bất khả thi vì một số lượng công việc bao la mà mình phải thực hiện; tuy nhiên, tôi mạo muội yêu cầu rằng mỗi tuần vị mục tử dâng hiến một phần thời giờ cá nhân và cộng đồng đủ cho nhiệm vụ này, thậm chí nếu phải bớt thời gian dành cho những hoạt động quan trọng khác. Lòng tín thác vào Chúa Thánh Thần, Ðấng hoạt động suốt bài giảng, không chỉ đơn thuần thụ động, mà năng động và sáng tạo. Nó đòi hỏi rằng chúng ta hiến dâng thân mình cùng với tất cả mọi khả năng của mình như những công cụ (x. Rm 12: 1) mà Thiên Chúa có thể sử dụng. Một nhà thuyết giảng mà không chuẩn bị thì không "thuộc thần khí"; người ấy bất lương và vô trách nhiệm đối với những ân ban mà mình đã nhận được.

Lòng tôn kính đối với chân lý

146. Bước đầu tiên đó là, sau khi cầu khẩn Chúa Thánh Thần, chúng ta phải tập trung mọi chú ý vào bản văn Thánh Kinh, bản văn này phải là nền tảng cho bài giảng của chúng ta. Hễ khi nào chúng ta dừng lại và cố tìm hiểu sứ điệp của một bản văn đặc thù, chúng ta đang thể hiện "lòng tôn kính đối với chân lý". [113] Ðây là một tấm lòng khiêm tốn nhận biết rằng Lời Chúa luôn luôn vượt trên chúng ta và chúng ta không phải là "những vị thầy, cũng không phải là những chủ nhân của Lời, nhưng là những người quản thủ, những người loan tin và những người phục vụ Lời". [114] Thái độ cung kính đầy khiêm hạ và lòng kính trọng Lời Chúa như vậy được diễn tả qua việc dành thời giờ để nghiên cứu Lời Chúa với một sự cẩn trọng lớn lao nhất và với một nỗi sợ hãi thánh thiện ngỏ hầu chúng ta không bóp méo Lời Chúa. Ðể giải thích một bản văn Thánh Kinh, chúng ta cần phải kiên nhẫn, gạt hết mọi ưu tư khác sang một bên và dành hết cho Lời Chúa thời giờ, niềm thích thú và sự chú ý trọn vẹn của chúng ta. Chúng ta cần phải dẹp sang một bên bất kỳ nỗi bận tâm cấp bách nào khác và tạo ra cho mình một môi trường toàn tâm toàn ý vào Lời Chúa. Thật là vô ích khi cố gắng đọc một bản văn Thánh Kinh nếu như tất cả những gì chúng ta đang mong chờ chỉ là những kết quả nhanh chóng, dể dàng và ngay tức khắc. Việc chuẩn bị cho một bài giảng đòi hỏi tình yêu. Chúng ta chỉ dành thời giờ cho những sự việc hay những người chúng ta yêu mến; còn ở đây, chúng ta đang nói về một vị Thiên Chúa mà chúng ta yêu mến, một vị Thiên Chúa mong muốn được nói chuyện với chúng ta. Vì tình yêu này, chúng ta có thể dành thời giờ nhiều bao nhiều tùy nhu cầu của mình, tựa như mỗi người môn đệ đích thật, "Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe" (1Sam 3: 9).

147. Trước tiên, chúng ta cần phải chắc chắn rằng mình hiểu đúng ý nghĩa của những lời mà mình đọc. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây một điều có vẻ hiển nhiên, nhưng không luôn luôn được chiếu cố đến: bản văn Thánh Kinh mà chúng ta nghiên cứu đã có từ hai ngàn hay ba ngàn năm, ngôn từ của nó rất khác với ngôn từ chúng ta nói ngày nay. Thậm chí nếu chúng ta nghĩ là chúng ta hiểu những ngôn từ được dịch sang ngôn ngữ của mình, điều này không có nghĩa là chúng ta hiểu đúng những gì tác giả thánh muốn nói. Những phương tiện khác nhau được khoa phân tích văn chương cung cấp thì ai cũng biết: chú ý đến các từ ngữ được lặp đi lặp lại hay được nhấn mạnh, nhận ra cấu trúc và tuyến phát triển đặc biệt của một văn bản, khảo sát vai trò mà các nhân vật đóng, vv.... Nhưng mục tiêu của chúng ta không phải hiểu tất cả mọi tiểu tiết của một bản văn, mục đích quan trọng nhất của chúng ta là phát hiện sứ điệp chính yếu của bản văn, sứ điệp đem lại cấu trúc và sự thống nhất cho bản văn. Nếu nhà thuyết giảng không nổ lực như vậy, thì bài giảng chắc hẳn sẽ không có sự thống nhất và thứ tự lớp lang; những gì người ấy phải nói sẽ chỉ là chất đống một mớ ý tưởng rời rạc chẳng khơi nguồn hứng khởi cho ai. Sứ điệp trọng tâm là điều thánh ký đã muốn thông truyền trước hết; điều này kêu gọi nhận ra không chỉ những ý tưởng của thánh ký nhưng còn hiệu quả mà thánh ký đã muốn sản sinh ra. Nếu một bản văn được viết ra để an ủi, thì không nên sử dụng nó để sửa lỗi; nếu bản văn được viết ra để khuyên nhủ, thì không nên sử dụng nó để dạy tín lý; nếu bản văn được viết để dạy một điều gì về Thiên Chúa, thì không nên sử dụng nó để giải thích dài dòng những tư tưởng thần học khác nhau; nếu bản văn được viết để mời gọi cầu nguyện hay truyền giáo, thì đừng sử dụng nó để nói về những tin tức thời sự.

148. Tất nhiên là để hiểu đúng ý nghĩa của sứ điệp trọng tâm của một bản văn, chúng ta cần phải đặt nó vào trong mối liên hệ với giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh như được Giáo Hội chuyển giao. Ðây là một nguyên tắc quan trọng trong việc giải thích Kinh Thánh, tức là nhận ra rằng Chúa Thánh Thần đã linh hứng không chỉ một phần, mà còn toàn bộ Kinh Thánh, và rằng trong một số lãnh vực, dân chúng càng ngày càng hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa dựa trên kinh nghiệm cá nhân của mình. Nguyên tắc này cũng tránh những giải thích sai lạc hoặc không đầy đủ, mâu thuẩn với những giáo huấn khác của toàn bộ Kinh Thánh. Nhưng nguyên tắc này không muốn nói rằng chúng ta có thể làm suy yếu điểm nhấn rõ ràng và đặc biệt của bản văn mà chúng ta được kêu gọi rao giảng. Một trong những khuyết điểm của một bài giảng tẻ nhạt và thiếu hiệu quả chính xác là nó không có khả năng truyền đạt quyền năng nội tại của bản văn đã được công bố.

Cá nhân hóa Lời Chúa

149. Nhà thuyết giảng "trước hết phải phát triển mối thân quen của mình với Lời Chúa. Kiến thức về những khía cạnh ngữ học hay chú giải dù chắc chắn cần thiết nhưng chưa đủ. Người ấy cần phải tiếp cận Lời Chúa bằng một tấm lòng vâng phục và cầu nguyện, ngỏ hầu Lời Chúa thấm đẫm những ý nghĩ và tâm tình của mình và sản sinh một quan điểm mới trong lòng mình". [115] Thật là tốt cho chúng ta để đổi mới lòng nhiệt thành của chúng ta mỗi ngày và mỗi tuần trong khi chúng ta chuẩn bị bài giảng, xét mình để thấy phải chăng chúng ta càng ngày càng yêu mến Lời Chúa mà chúng ta rao giảng. Chúng ta cũng đừng quên rằng "mức độ thánh thiện của thừa tác viên tăng hay giảm có ảnh hưởng thực sự đến việc công bố Lời Chúa". [116] Như thánh Phaolô quả quyết: "chúng tôi cứ vậy mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Ğấng thử luyện tâm hồn chúng tôi" (1Tx 2: 4). Nếu chúng ta có một ước muốn sống động là người đầu tiên nghe Lời Chúa mà chúng ta có bổn phận rao giảng, niềm ước muốn này chắc chắn sẽ được thông truyền đến dân Thiên Chúa: "Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra" (Mt 12: 34). Các bài đọc Chúa Nhật sẽ vang vọng với tất cả vẻ huy hoàng của chúng trong lòng dân chúng, nếu chúng đã âm vang như vậy trước tiên trong lòng vị mục tử của họ.

150. Chúa Giêsu đã nỗi giận với những người tự nhận mình là thầy, họ đòi hỏi người khác nhiều, dạy Lời Chúa nhưng không để cho Lời Chúa khai sáng mình: "Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào" (Mt 23: 4). Thánh Gia-cô-bê Tông Ðồ khuyên: "Thưa anh em, đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn" (Gcb 3: 1). Bất cứ ai muốn rao giảng phải là người đầu tiên để cho Lời Chúa khuấy động sâu xa tận đáy lòng mình và để cho Lời Chúa nhập thể trong đời sống hằng ngày của mình. Theo cách này, việc rao giảng sẽ hệ tại ở nơi hoạt động ấy, rất mãnh liệt và rất hiệu quả đó, đó là "thông truyền cho những người khác điều mà mình đã chiêm niệm rồi". [117] Vì tất cả những lý do này, trước khi chuẩn bị những gì chúng ta sẽ thực sự nói khi rao giảng, chúng ta cần để cho Lời Chúa thâm nhập mình trước khi thâm nhập người khác như vậy, vì Lời Chúa là Lời hằng sống và linh nghiệm, như lưỡi gươm "xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người" (Dt 4: 12). Ðiều này có một tầm quan trọng mục vụ lớn lao. Ngày nay cũng vậy, người ta thích lắng nghe các nhân chứng hơn: họ "khao khát tính xác thực"... và "kêu mời các nhà loan báo Tin Mừng hãy nói về Thiên Chúa mà chính các ngài biết và thân quen, như thử các ngài đang thấy Ngài". [118]

151. Không ai đòi đỏi chúng ta phải là vô tỳ vết, nhưng mỗi ngày mỗi lớn lên, mỗi ngày mỗi tiến bộ trên con đường Tin Mừng; chúng ta không bao giờ được buông xuôi. Ðiều cốt yếu chính là nhà thuyết giảng phải xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương mình, Ðức Giê-su Ki-tô đã cứu mình, và tình yêu của Người luôn luôn là tiếng nói tối hậu. Gặp gỡ một vẻ đẹp như thế, người ấy sẽ thường cảm thấy rằng cuộc sống của mình không làm vinh danh Thiên Chúa như phải đạo, vì thế người ấy sẽ chân thành ước muốn đáp trả cách tròn đầy hơn một tình yêu cao cả như vậy. Tuy nhiên, nếu người ấy không dâng hiến thời giờ để nghe Lời Chúa với một tấm lòng rộng mở, nếu người ấy không cho phép Lời Chúa chạm đến đời sống mình, thách đố mình, thúc bách mình, và nếu người ấy không dâng hiến thời giờ để cầu nguyện với Lời Chúa, lúc đó, người ấy quả thật sẽ là một ngôn sứ giả hiệu, một kẻ lừa đảo, một kẻ mạo danh. Nhưng khi nhận biết sự nghèo nàn của mình và ước muốn lớn lên trong sự dấn thân của mình, người ấy sẽ luôn luôn có khả năng từ bỏ chính mình cho Ðức Ki-tô và nói như thánh Phê-rô đã nói: "Vàng bạc thì tôi không có; nhưng cái tôi có, tôi cho anh đây" (Cv 3: 6). Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, có tự do và có óc sáng tạo, những người để cho Lời Chúa bước vào chính tâm hồn của mình, rồi sau đó mới chuyển giao cho những người khác. Sứ điệp của Chúa Ki-tô phải thực sự thâm nhập và chiếm hữu nhà thuyết giảng, không chỉ trí tuệ mà cả toàn bộ bản thân của người ấy. Chúa Thánh Thần, Ðấng linh hứng Lời Chúa, "Ngày nay cũng như thuở ban đầu của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần hoạt động trong mỗi nhà loan báo Tin Mừng, nếu họ để Ngài chiếm hữu và hướng dẫn, Ngài đặt trên môi miệng họ những lời mà một mình họ không thể tìm ra". [119]

Ðọc trong Thánh Thần

152. Có một cách thế đặc biệt để lắng nghe điều Chúa muốn nói với chúng ta ở nơi Lời của Người và để cho Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta. Ðó là cách thế mà chúng ta gọi là "lectio divina". Nó hệ tại ở nơi việc đọc Lời Chúa trong thời điểm cầu nguyện để Lời Chúa khai sáng và đổi mới chúng ta. Việc đọc Kinh Thánh trong cầu nguyện này không phải là điều gì đó tách rời khỏi việc nghiên cứu mà nhà thuyết giảng đảm nhận để xác minh sứ điệp trọng tâm của bản văn; trái lại, nó phải bắt đầu với việc nghiên cứu đó, và rồi tiếp tục phân định sứ điệp đó nói với đời sống của mình như thế nào. Việc đọc một văn bản trong Thánh Thần phải bắt đầu với nghĩa đen của bản văn. Nếu không, chúng ta sẽ dễ dàng làm cho văn bản nói những gì chúng ta nghĩ là thuận tiện, hữu ích cho chúng ta như thử khẳng định những quyết định trước đây của mình, hợp với những mẫu thức tư duy của mình. Cuối cùng, điều này tương tự như sử dụng một sự vật thánh nhằm mưu cầu tư lợi của mình và rồi truyền đạt sự nhầm lẫn này sang dân Thiên Chúa. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng đôi khi "chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sánh láng" (2Cor 11: 14).

153. Trong sự hiện diện của Thiên Chúa, vừa đọc bản văn vừa suy niệm, thật là tốt để hỏi, chẳng hạn như: "Lạy Chúa, bản văn này nói với con điều gì? Chúa muốn con thay đổi điều gì trong đời con qua bản văn này? Ðiều gì làm cho con bối rối trong bản văn này? Tại sao con không quan tâm đến điều này?" Hay có thể, "Tôi gặp thấy điều gì làm tôi vui thích trong bản văn này? Lời này là thế nào mà nó đánh động tôi? Ðiều gì hấp dẫn tôi? Tại sao điều đó hấp dẫn tôi?" Khi chúng ta nỗ lực lắng nghe Chúa, những cám dỗ thường hay nổi lên. Một trong những cám dỗ này chỉ đơn thuần là cảm thấy bối rối hay nặng nề và quay lưng lại; một cám dỗ khác rất phổ biến là nghĩ về những gì văn bản muốn nói đến người khác và vì thế tránh áp dụng bản văn này vào chính cuộc sống của chính mình. Cũng có thể xảy ra là chúng ta bắt đầu tìm kiếm những lời bào chữa để làm loảng đi ý nghĩa rõ ràng của bản văn. Hay chúng ta có thể tự hỏi phải chăng Thiên Chúa đang đòi hỏi mình qua mức, Ngài đòi hỏi một quyết định mà chúng ta chưa sẵn sàng thực hiện. Ðiều này khiến nhiều người mất hứng thú khi gặp gỡ Lời Chúa; nhưng chước cám dỗ này hẳn là mời gọi chúng ta cần phải quên rằng không ai kiên nhẫn hơn Thiên Chúa là Cha chúng ta và không ai hiểu và sẵn lòng chờ đợi hơn Ngài. Ngài luôn luôn mời gọi chúng ta tiến thêm một bước, nhưng không đòi hỏi một lời đáp trả trọn vẹn nếu chúng ta chưa sẵn lòng. Ngài đơn giản đòi hỏi chúng ta phải nghiêm chỉnh nhìn vào đời sống mình và chân thành trình diện mình trước thánh nhan Ngài, phải sẵn sàng tiếp tục lớn lên và cầu xin Ngài những gì chúng ta tự mình chưa thể hoàn thành.

Lắng nghe dân chúng

154. Nhà thuyết giảng cũng cần lắng nghe dân chúng và khám phá những gì mà người tín hữu cần phải nghe. Nhà thuyết giảng phải chiêm niệm Lời Chúa, nhưng cũng phải chiêm niệm dân mình. Theo cách này, người ấy học biết "những khát vọng, những phong phú và giới hạn của dân chúng, những cách cầu nguyện, yêu thương, những lối nhìn cuộc đời và thế giới, là điều phân biệt cuộc tụ họp này hoặc cuộc tụ họp khác của con người", trong khi chú ý đến "những con người hiện thực, sử dụng ngôn ngữ của họ, những dấu chỉ và những biểu tượng của họ, trả lời những câu hỏi mà họ nêu lên". [120] Nhà thuyết giảng cần phải có khả năng kết nối sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với một hoàn cảnh của con người, với một kinh nghiệm kêu gào ánh sáng Lời Chúa. Mối quan tâm này không có gì liên quan đến sự khôn ngoan hay sự tính toán, nhưng thuộc về tôn giáo và mục vụ một cách sâu xa. Tự căn bản, mối quan tâm này là "một sự nhạy bén tâm linh thực sự, chúng ta sẽ đọc ra sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố" [121] và điều này còn nhiều hơn là đơn giản tìm gặp một điều gì thú vị để nói. Ðiều mà chúng ta đang tìm kiếm là "điều Chúa phải nói trong tình huống này hay tình huống đặc biệt khác". [122] Công việc chuẩn bị bài giảng thật sự trở thành một bài thực tập trong việc phân định theo Tin Mừng, trong đó chúng ta cố gắng nhận ra - trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần - "một lời mời gọi mà Thiên Chúa đã làm vang vọng trong chính tình huống lịch sử. Trong tình huống này, và cũng qua đó, Thiên Chúa kêu gọi người tín hữu". [123]

155. Trong nỗ lực này, chúng ta hẳn là chỉ cần nghĩ về kinh nghiệm bình thường nào đó của con người chẳng hạn như cuộc đoàn tụ vui vẻ, một thời điểm thất vọng, nỗi sợ hãi cô đơn, lòng trắc ẩn trước những đau khổ của người khác, sự bất ổn về tương lai, mối quan tâm dành cho một người thân yêu, vân vân. Tuy nhiên, chúng ta cần phải có một độ nhạy bén mỗi ngày mỗi rộng mở hơn và sâu sắc hơn trước những gì thật sự ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác. Chúng ta cũng hãy ghi nhớ trong tâm trí rằng đừng bao giờ trả lời cho những câu hỏi mà không ai nêu lên. Cũng không thích hợp để nói về những tin tức thời sự để khêu gợi sự quan tâm của người nghe; chúng ta có chương trình truyền hình cho những tin tức này rồi. Tuy nhiên, có thể bắt đầu với một sự kiện hay một câu chuyện nào đó ngỏ hầu Lời Chúa có thể vang dội cách mãnh liệt ở nơi lời kêu gọi hoán cải, thờ phượng, dấn thân trong tình huynh đệ và tinh thần phục vụ, vân vân. Tuy nhiên, sẽ luôn luôn có một số người sẵn lòng lắng nghe những bình luận của nhà thuyết giảng về những chuyện thời sự, trong khi không để cho mình bị thách đố.

Nguồn liệu cho một bài giảng

156. Một số người nghĩ rằng họ có thể là những nhà thuyết giảng tốt vì họ biết những gì họ phải nói, nhưng họ không chú ý đến việc mình phải nói như thé nào, nghĩa là, cách thức cụ thể để xây dựng một bài giảng. Họ phàn nàn khi người ta không lắng nghe họ hay không đánh giá cao họ, nhưng có lẽ họ chưa bao giờ chịu khó bỏ nhiều công sức để gặp thấy cách thức trình bày sứ điệp cho thật thích hợp. Chúng ta nên nhớ rằng "tầm quan trọng hiển nhiên của nội dung Phúc Âm Hóa không được che khuất tầm quan trọng của những cách thức và phương tiện". [124] Nỗi bận lòng đến cách thức chúng ta rao giảng cũng là nỗi bận lòng hết sức tâm linh. Nỗi bận lòng này đòi hỏi một lời đáp trả trước tình yêu của Thiên Chúa bằng cách dốc hết những tài năng và khả năng sáng tạo của mình để phục vụ sứ mạng mà Ngài đã ủy thác cho mình; đồng thời, nỗi bận lòng này bày tỏ lòng yêu thương tinh tế và năng động dành cho người thân cận bằng cách từ chối ban tặng cho họ một sản phẩm kém chất lượng. Trong Kinh Thánh, chẳng hạn, chúng ta có thể gặp thấy lời khuyên làm thế nào chuẩn bị bài giảng ngỏ hầu đạt đến dân chúng tốt nhất: "Hãy nói cho gọn, ít lời, nhiều ý, làm như kẻ vừa quán triệt vấn đề, vừ biết nín thinh" (Hc 32: 8).

157. Chúng ta nên nhớ lại một số nguồn liệu thực tiển có thể làm cho bài giảng trở nên phong phú hơn và hấp dẫn hơn. Một trong những điều quan trọng nhất là học cách thức sử dụng những hình ảnh khi giảng, cách thức sử dụng ngôn ngữ hình tượng để lôi cuốn người nghe. Ðôi khi chúng ta sử dụng những ví dụ để làm sáng tỏ một điểm nào đó, nhưng những ví dụ này thường hấp dẫn trí óc; trái lại, những hình ảnh giúp cho người nghe tốt hơn trong việc đánh giá cao và chấp nhận sứ điệp chúng ta muốn thông truyền. Một hình ảnh hấp dẫn làm cho sứ điệp có vẻ thân quen, gần gũi, thực tế và liên hệ đến đời sống thường ngày. Một hình ảnh thành công có thể giúp người ta thưởng thức sứ điệp, đánh thức một ước muốn và đánh động ý chí hướng đến Tin Mừng. Một vị thầy cũ một lần kia đã nói với tôi, một bài giảng hay phải có "một tư tưởng, một tâm tình và một hình ảnh".

158. Ðức Phaolô VI đã nói rằng người tín hữu "kỳ vọng nhiều ở bài giảng và sẽ được rất nhiều lợi ích từ bài giảng, miễn là nó thì đơn giản, sáng sủa, trực tiếp, thích nghi tốt". [125] Sự đơn giản phải có liên hệ đến ngôn ngữ chúng ta sử dụng. Nó phải là ngôn ngữ mà người nghe hiểu được nếu không chúng ta có nguy cơ nói mà chẳng có ai nghe. Những nhà thuyết giảng thường sử dụng những ngôn từ mà họ đã học được trong tiến trình nghiên cứu và trong môi trường chuyên môn của họ, nhưng không phải là một phần ngôn từ mà thính giả của họ thường dùng. Có những từ ngữ thích hợp trong khoa thần học và khoa dạy giáo lý, nhưng ý nghĩa của những từ ngữ ấy đa số người Ki-tô hữu không hiểu. Nguy cơ lớn nhất mà nhà giảng thuyết gặp phải chính là họ quá quen thuộc với ngôn từ riêng của mình đến mức họ nghĩ rằng mọi người đều hiểu và sử dụng chúng cách tự nhiên. Nếu chúng ta muốn thích nghi với ngôn ngữ của người khác để Lời Chúa có thể đạt đến họ, chúng ta cần phải dự phần vào cuộc sống của họ và bận tâm đến họ. Sự đơn giản và sự trong sáng là hai việc khác nhau. Ngôn từ của chúng ta có thể rất đơn giản nhưng bài giảng của chúng ta không trong sáng. Rốt cuộc, bài giảng có thể khó hiểu vì thiếu trật tự, thiếu luận lý, hay đề cập đến quá nhiều điều cùng một lúc. Do đó, chúng ta cần phải bảo đảm rằng bài giảng có một sự thống nhất về chủ đề, trình tự và kết nối rõ ràng giữa các câu, ngỏ hầu người nghe có thể dễ dàng theo dõi và nắm bắt được tuyến phát triển lập luận của nhà thuyết giảng.

159. Một đặc tính khác của một bài giảng tốt chính là tính tích cực của nó. Trong bài giảng, đừng quá bận tâm đến việc vạch ra những gì người ta không nên làm, nhưng đúng hơn đề nghị những gì chúng ta có thể làm tốt hơn. Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu phải kéo sự chú ý đến một điều tiêu cực nào đó, thì hãy cố nhắm đến một giá trị tích cực và hấp dẫn, nếu không chúng ta bị sa lầy vào những lời than phiền, than thở, chỉ trích hay quở trách. Một bài giảng tích cực đưa ra niềm hy vọng, nhắm đến tương lai, không để chúng ta bị vướng mắc vào trong những điều tiêu cực. Thật là tốt đẹp biết bao khi các linh mục, phó tế và giáo dân họp nhau lại theo định kỳ để cùng nhau khám phá những nguồn liệu có thể giúp cho bài giảng hấp dẫn hơn!

 

IV. Phúc Âm Hóa Và Hiểu Sâu Xa Hơn Lời Rao Giảng Ban Ðầu (kerygma)

160. Mệnh lệnh truyền giáo của Chúa bao gồm lời mời gọi lớn lên trong đức tin: "Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28: 20). Vì vậy, rõ ràng là lời công bố ban đầu cũng đòi hỏi cuộc đào tạo liên tục và sự trưởng thành luôn mãi. Công cuộc Phúc Âm Hóa nhắm đến một tiến trình của sự tăng trưởng, tiến trình này đòi hỏi phải coi trọng mỗi người và kế hoạch của Thiên Chúa cho cuộc sống của mỗi người. Tất cả chúng ta đều cần phải lớn lên trong Ðức Kitô. Công cuộc Phúc Âm Hóa phải thúc đẩy niềm ao ước của sự tăng trưởng này, ngỏ hầu mỗi người chúng ta có thể nói với trọn tấm lòng mình: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2: 20).

161. Thật là sai lầm khi thấy lời mời gọi tăng trưởng này độc nhất hay chủ yếu về mặt đào tào tín lý. Nó phải có liên quan đến việc "tuân giữ" mọi điều Chúa đã bày tỏ cho chúng ta như cách thức đáp trả tình yêu của Người. Cùng với các nhân đức, lời mời gọi này muốn nói trước tiên đến điều răn mới, điều răn đứng đầu và cao trọng nhất trong các điều răn, điều răn này xác định tốt nhất căn tính của chúng ta là môn đệ của Ðức Ki-tô: "Ðây là điều răn của Thầy: Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15: 12). Rõ ràng là hễ khi nào các thánh ký Tân Ước muốn trình bày trọng tâm của sứ điệp luân lý Ki-tô giáo, họ giới thiệu sự đòi hỏi cốt yếu của lòng yêu thương dành cho người thân cận của mình: "Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật...yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy" (Rm 13: 8, 10). Ðây là những lời của thánh Phao-lô, đối với thánh nhân điều răn yêu người không chỉ tóm gọn Lề Luật mà còn cấu thành trọng tâm và mục đích của Lề Luật: "Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Gl 5: 14). Ngỏ lời với các cộng đoàn của mình, thánh Phao-lô trình bày cuộc sống của người Ki-tô hữu như một cuộc hành trình lớn lên trong tình yêu: "Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết" (1Tx 3: 12). Thánh Gia-cô-bê cũng khuyên nhủ người Ki-tô hữu hãy chu toàn "luật Kinh Thánh đưa lên hàng đầu: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Gcb 2: 8), để không thiếu sót bất kỳ điều răn nào.

162. Mặt khác, tiến trình đáp trả và lớn lên này luôn luôn đến sau ân sủng của Thiên Chúa, vì lệnh truyền đầu tiên của Chúa Giê-su là: "Làm phép rửa cho họ nhân danh#." (Mt 28: 19). Ân ban nhưng không của Chúa Cha, nhờ đó chúng ta trở thành con cái của Ngài, và quyền ưu tiên của thiên ân này (x. Ep 2: 8-9, 1Cor 4: 7) giúp chúng ta có khả năng đón nhận ơn thánh hóa thường hằng, điều này làm vui lòng Thiên Chúa và làm cho Ngài được vinh danh. Theo cách này, chúng ta được phép thay hình đổi dạng nơi Ðức Kitô qua cuộc sống tuân "theo Thần Khí" (Rm 8: 5).

Việc dạy giáo lý thuở ban đầu và hiệp nhiệm

163. Giáo dục và dạy giáo lý nhằm phục vụ việc tăng trưởng này. Chúng ta sở hữu rồi một số lượng văn kiện Huấn Quyền và những tài liệu hổ trợ về việc dạy giáo lý được Tòa Thánh và các Hội Ðồng Giám Mục khác nhau phát hành. Tôi đặc biệt nghĩ về Tông Huấn Catechesi tradendae (1979), sách Hướng Dẫn Chung về việc Dạy Giáo Lý (1997) và các văn kiện khác mà nội dung của chúng không cần phải nhắc lại ở đây. Tôi xin được đưa ra vài nhận định ngắn mà tôi tin là có ý nghĩa đặc biệt.

164. Cũng trong việc dạy giáo lý, chúng ta đã tái khám phá vai trò cơ bản của lời loan báo đầu tiên hay còn được gọi là "kerygma", lời loan báo này phải là trọng tâm của tất cả mọi hoạt động loan báo Tin Mừng và tất cả mọi nỗ lực canh tân Giáo Hội. Kerygma là lời công bố đầu tiên về Ba Ngôi. Ngọn lửa của Chúa Thánh Thần được ban dưới dạng thức các ngôn ngữ và dẫn chúng ta đến niềm tin tin vào Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng, qua cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người, mặc khải và thông truyền cho cho chúng ta lòng thương xót vô hạn của Chúa Cha. Trên môi miệng của giáo lý viên phải luôn luôn vang đi vọng lại lời loan báo ban đầu tiên: "Ðức Giê-su Ki-tô yêu thương các em, Người đã hiến mạng sống của Người để cứu các em, và giờ đây Người đang sống bên cạnh các em mỗi ngày để soi sáng, tăng cường và giải thoát các em". Lời công bố này được gọi là "đầu tiên" không phải vì nó có mặt vào lúc bắt đầu và sau đó có thể bị quên hay bị thay thế bởi những điều khác quan trọng hơn. Lời công bố này là đầu tiên theo ý nghĩa chất lượng vì nó là là lời công bố chính yếu, lời công bố mà chúng ta có thể nghe đi nghe lại theo nhiều cách khác nhau, lời công bố mà chúng ta phải loan báo cách này hay cách khác xuyên suốt tiến trình dạy giáo lý, ở mỗi trình độ và mỗi thời điểm. [126] Cũng vì lý do này, "linh mục - như mỗi thành viên khác của Giáo Hội, càng ngày càng phải nhận thức rằng chính mình cần được Phúc Âm hóa liên tục". [127]

165. Chúng ta đừng nghĩ rằng trong việc dạy giáo lý, kerygma phải nhường chỗ cho việc đào tạo được cho là "vững chắc" hơn. Không có gì vững chắc hơn, sâu xa hơn, an toàn hơn, ít lời nhiều ý hơn và đầy khôn ngoan hơn lời công bố ban đầu đó. Toàn bộ đào tạo các Ki-tô hữu hệ tại ở việc càng ngày càng hội nhập sâu xa hơn vào kerygma, lời công bố này được suy nghĩ sâu xa và thường hằng soi sáng công việc dạy giáo lý, nhờ đó giúp chúng ta có khả năng thấu hiểu hơn ý nghĩa của mỗi chủ đề mà công việc dạy giáo lý bàn đến. Sứ điệp này có khả năng đáp ứng niềm khát vọng về sự vô hạn trong cõi lòng của mỗi người. Tính trọng tâm của kerygma đòi hỏi nhấn mạnh những yếu tố đó vẫn còn rất thiết yếu cho ngày nay: nó phải diễn tả tình yêu cứu độ của Thiên Chúa trước bất kỳ bổn phận luân lý và tôn giáo của chúng ta; nó không phải áp đặt chân lý nhưng kêu mời sự tự do; nó được ghi dấu bởi niềm vui, sự khích lệ, sự sống động và sự quân bình hài hòa mà không thu hẹp việc giảng dạy vào một số tín lý đôi lúc được biện luận trên triết học hơn trên Tin Mừng. Ðiều này đòi hỏi người loan báo Tin Mừng vài thái độ để cổ vũ tấm lòng rộng mở trước sứ điệp: khả năng tiếp cận, tư thế sẵn sàng đối thoại, sự kiên nhẫn, sự chào đón thân tình chứ không lên án.

166. Một khía cạnh khác của việc dạy giáo lý được phát triển trong vài thập niên vừa qua là khai tâm hiệp nhiệm (l'initiation mystagogique). [128] Ðiều này về cơ bản phải có liên hệ đến hai sự việc: kinh nghiệm đào tạo tiệm tiến bao hàm toàn bộ cộng đồng và tái đề cao những dấu chỉ phụng vụ về việc khai tâm Ki-tô giáo. Nhiều thủ bản và nhiều chương trình chưa chú ý đầy đủ đến nhu cầu canh tân hiệp nhiệm này, đó là đảm nhận những hình thức rất khác nhau dựa trên sự phân định của mỗi cộng đồng về vấn đề giáo dục. Dạy giáo lý là công bố Lời Chúa và luôn tập trung vào Lời Chúa, tuy nhiên nó cũng đòi hỏi môi trường thích hợp và cách trình bày hấp dẫn, sử dụng các biểu tượng, đưa vào một tiến trình tăng trưởng rộng lớn hơn và hòa nhập mỗi chiều kích của con người vào trong cuộc hành trình nghe và đáp trong cộng đồng.

167. Mọi hình thức dạy giáo lý nên quan tâm tới "con đường thẩm mỹ" (via pulchritudinis). [129] Loan báo Ðức Kitô có nghĩa cho thấy rằng tin vào Người và đi theo Người không chỉ là một điều gì đó đúng và thật, nhưng cũng là điều gì đó đẹp, khả dĩ lấp đầy cuộc sống bằng một vẻ huy hoàng mới và một niềm vui sâu thẳm, ngay cả ở giữa những cảnh đời khó khăn. Do đó, mỗi biểu thức về thẫm mỹ đích thật chắc hẳn được nhìn nhận như một con đường dẫn đến một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu. Ðiều này chẳng có gì liên quan đến việc cổ vũ thuyết tương đối về cái mỹ,[130] nghĩa là thay vì che khuất mối dây bất khả phân ly giữa chân, thiện, mỹ, đúng hơn khôi phục lòng ngưỡng mộ vẻ đẹp như phương tiện chạm đến tâm hồn con người và giúp cho sự thật và sự thiện của Ðức Ki-tô có thể tỏa sáng trong tâm hồn con người. Như thánh Âu-gút-ti-nô nói, nếu chúng ta chỉ có thể yêu những gì đẹp, [131] thì Chúa Con nhập thể, với tư cách mặc khải cái mỹ vô hạn, là Ðấng tột bậc đáng yêu và lôi kéo chúng ta đến với Người bằng những mối dây yêu thương. Do đó, việc đào tạo theo via pulchritudinis phải là một phần nỗ lực của chúng ta để chuyển giao đức tin. Mỗi Giáo Hội địa phương nên khuyến khích việc sử dụng nghệ thuật trong công cuộc Phúc Âm Hóa, xây dựng trên những di sản tiền nhân, nhưng cũng nhờ đến những biểu thức đa dạng hiện nay để chuyển giao đức tin bằng "ngôn ngữ dụ ngôn" mới. [132] Chúng ta phải có đủ dũng khí để phát hiện những dấu chỉ mới, những biểu tượng mới, một thân thể mới để nhập thể và thông truyền Lời Chúa, và những hình thức đa dạng của cái mỹ được đánh giá trong những bối cảnh văn hóa khác nhau, kể cả những thể thức thẩm mỹ không theo quy ước, có lẽ chẳng có ý nghĩa bao nhiêu đối với những nhà truyền giáo, tuy nhiên có sức hấp dẫn đặc biệt đối với người khác.

168. Về bộ phận luân lý của việc dạy giáo lý, bộ phận thúc đẩy sự tăng trưởng trong sự trung thành với cách sống theo Tin Mừng, thật hữu ích để nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại sức hấp dẫn và lý tưởng của một cuộc đời khôn ngoan, trưởng thành và phong phú. Trong ánh sáng của sứ điệp tích cực đó, người ta có thể hiểu tốt hơn việc chúng ta loại bỏ những tệ nạn gây nguy hiểm cho đời sống đó. Thay vì những chuyên viên đưa ra những lời tiên đoán về những chuyện khủng khiếp hay những quan tòa quyết tâm nhỏ tận gốc rễ mọi đe dọa hay lầm lạc, chúng ta phải trông như những sứ giả vui tươi đề nghị những thách đố, như những người canh giữ điều thiện và điều mỹ, là những điều tỏ sáng trong đời sống trung thành với Tin Mừng.

Việc đồng hành cá nhân trong tiến trình tăng trưởng

169. Trong một nền văn minh chịu đau khổ cách nghịch lý vì tình trạng vô danh, và đồng thời quá bận tâm với những chi tiết về đời sống của những người khác, và có thói quen tò mò bệnh hoạn mà không biết xấu hổ, Giáo Hội phải nhìn vào những người khác bằng ánh mắt thân thiện hơn và cảm thông hơn mỗi khi cần thiết. Trong thế giới chúng ta, những thừa tác viên chức thánh và những người làm việc mục vụ khác có thể làm cho cái nhìn thân thiện và dịu dàng của Ðức Giê-su hiện diện. Giáo Hội sẽ phải truyền cho các thành viên của mình - các linh mục, tu sĩ và giáo dân - "nghệ thuật đồng hành" này, để dạy cho chúng ta biết cởi giày ra trước thánh địa của người khác (x. Xh 3: 5). Cuộc đồng hành này phải là kiên định và làm yên lòng, phản chiếu ánh mắt thân thiện và động lòng trác ẩn, cũng là ánh mắt chữa lành, giải thoát và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Ki-tô hữu.

170. Mặc dù nghe có vẻ hiển nhiên, việc đồng hành tâm linh phải dẫn đưa người khác mỗi ngày mỗi thân cận với Thiên Chúa hơn mãi, nơi Ngài chúng ta đạt được sự tự do đích thật. Một số người nghĩ họ được tự do nếu như họ có thể tránh được Thiên Chúa; họ không thấy rằng mình sống như một kẻ mồ côi, không nơi nương tựa, không mái ấm gia đình. Họ không còn là những người hành hương mà trở thành những kẻ phiêu bạt, luôn luôn xoay xở mà không đi đến đâu. Ðồng hành với họ sẽ phản tác dụng nếu nó trở thành một loại điều trị nâng đỡ tính vị kỷ của họ chứ không còn là một cuộc hành hương với Ðức Ki-tô đến Chúa Cha.

171. Ngày nay hơn bao giờ hết, chúng ta cần những người nam cũng như nữ, những người có kinh nghiệm về việc đồng hành với người khác, họ quen thuộc với tiến trình đòi hỏi sự thận trọng, sự hiểu biết, sự nhẫn nại và sự vâng phục Chúa Thánh Thần, ngỏ hầu họ có thể bảo vệ đàn chiên khỏi bầy sói dữ, chúng làm cho đàn chiên tan tác. Chúng ta cần phải thực hành nghệ thuật lắng nghe chứ không đơn giản nghe. Trong việc thông truyền, lắng nghe là mở rộng lòng mình để có thể tạo nên bầu khí thân tình, nếu không, sẽ không có một cuộc gặp gỡ tâm linh chân thực. Lắng nghe giúp chúng ta gặp thấy những cử chỉ và lời nói thích hợp để chúng ta không còn chỉ là những kẻ ngoài cuộc. Chỉ qua việc lắng nghe với thái độ tôn trọng và tấm lòng trác ẩn như vậy, chúng ta mới có thể hội nhập vào những lối ngõ của sự tăng trưởng, đánh thức khát vọng lý tưởng Kitô giáo: khao khát muốn đáp trả cách tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa và nguyện ước làm trổ sinh hoa trái những gì Thiên Chúa đã gieo trong cuộc đời của chúng ta. Nhưng điều này luôn luôn đòi hỏi lòng kiên nhẫn của những người biết rất rõ điều mà thánh Tôma nói với chúng ta: ai cũng có thể có ân sủng và đức ái, nhưng ngần ngại trong việc thực hành các nhân đức vì cố chấp trong "những xu hướng ngược lại". [133] Nói cách khác, tính thống nhất hữu cơ của các nhân đức luôn luôn và nhất thiết phải là ở trong thói quen ("in habitu"), cho dù các điều kiện có thể cản trở những hoạt động của những thói quen đạo đức đó. Vì vậy cần phải có "một khoa sư phạm giúp người ta từng bước một chiếm hữu trọn vẹn mầu nhiệm". [134] Ðể đạt được một mức trưởng thành, trong đó những cá nhân có thể thực hiện những quyết định thật sự tự do và có trách nhiệm, chúng ta cần nhiều thời gian và lòng kiên nhẫn. Như Chân Phước Phêrô Fabro thường nói: "Thời gian là sứ giả của Thiên Chúa".

172. Người nào đồng hành với những người khác đều phải nhận thức rằng hoàn cảnh của mỗi người trước thánh nhan Thiên Chúa và cuộc sống trong ân sủng của họ là những mầu nhiệm mà không ai có thể biết trọn vẹn từ bên ngoài. Tin Mừng bảo chúng ta sửa lỗi người khác và giúp họ lớn lên dựa trên những hành động của họ được mọi người công nhận là xấu (x. Mt 18: 15), nhưng không được đưa ra những lời phê phán về trách nhiệm và tội trạng của họ (x. Mt 7: 1; Lc 6: 37). Một người có khả năng đồng hành với những người khác như thế không bao giờ chịu thua cuộc trước những trường hợp thất vọng hay sợ hãi. Người ấy mời gọi người khác hãy tự chữa lành, tự đứng dậy, ôm thập giá vào lòng, bỏ tất cả lại đằng sau mà tiến bước về phía trước để công bố Tin Mừng. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm được người khác đồng hành và giúp đỡ, kinh nghiệm này sẽ dạy cho chúng ta biết kiên nhẫn và động lòng trắc ẩn với người khác, và gặp thấy cách thức đúng để chiếm được niềm tin tưởng của họ, sự cởi mở tấm lòng của họ và tư thế sẵn sàng lớn lên của họ.

173. Việc đồng hành tâm linh đích thật luôn luôn bắt đầu và thăng hoa trong bối cảnh phục vụ sứ vụ Phúc Âm Hóa. Mối liên hệ của thánh Phaolô với Timôthê và Titô cung cấp một thí dụ về việc đồng hành và việc đào tạo này xảy ra giữa hoạt động tông đồ. Khi ủy thác cho hai ông sứ vụ là ở lại mỗi thành phố để "hoàn thành những công việc tổ chức" (x. Tit 1: 5;. x. 1Tim 1: 3-5), thánh Phao-lô cũng đưa ra cho hai người những quy luật cho cuộc sống cá nhân của họ và hoạt động mục vụ của họ. Ðiều này thì biệt phân rất rõ nét với mọi loại đồng hành xâm nhập nào hay với cách sống tự mãn và cô lập nào. Các môn đệ truyền giáo đồng hành với các môn đệ truyền giáo.

Tập trung vào Lời Chúa

174. Không chỉ bài giảng phải được Lời Chúa nuôi dưỡng nhưng toàn bộ công cuộc Phúc Âm Hóa còn được đặt nền tảng trên Lời Chúa. Lời Chúa phải được lắng nghe, được suy niệm, được sống, được cử hành và được làm chứng. Kinh Thánh thực sự là nguồn mạch của công cuộc Phúc Âm Hóa. Do đó, chúng ta cần phải được huấn luyện trường kỳ trong việc nghe Lời Chúa. Giáo Hội không loan báo Tin Mừng nếu như Giáo Hội không thường hằng để cho mình được Phúc Âm hóa. Lời Chúa cần phải "ngày càng trở nên trung tâm điểm của mọi hoạt động trong Giáo Hội". [135] Lời Chúa được nghe và được cử hành, trước tiên trong Bí Tích Thánh Thể, nuôi dưỡng và tăng cường nội tâm các Kitô hữu và giúp họ có khả năng ban tặng lời chứng chân thực cho Tin Mừng trong cuộc sống hàng ngày của họ. Chúng ta đã vượt qua từ lâu vị thế đối chọi xưa kia giữa Lời Chúa và Bí Tích. Việc rao giảng Lời linh nghiệm và hiệu quả, chuẩn bị cho việc tiếp nhận Bí Tích, và trong Bí Tích Lời này đạt được tính hiệu quả tối đa của nó.

175. Việc nghiên cứu Kinh Thánh phải là một cánh cửa mở ra cho mọi tín hữu. [136] Lời Mặc Khải nhất thiết phải phong phú hóa tận căn việc dạy giáo lý của chúng ta và tất cả những nỗ lực của chúng ta để chuyển giao đức tin. [137] Công cuộc Phúc Âm Hóa đòi hỏi mối thân quen với Lời Chúa, điều này kêu gọi các giáo phận, các giáo xứ và các hội đoàn Công Giáo cung cấp một chương trình học hỏi Kinh Thánh nghiêm túc và liên tục, trong khi khuyến khích mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng đọc Kinh Thánh trong tâm tình cầu nguyện. [138] Chúng ta không tìm kiếm Thiên Chúa như một kẻ mù lòa, hay chờ đợi Thiên Chúa nói với mình trước, bởi vì "Thiên Chúa đã nói rồi, và không còn có bất cứ điều gì chúng ta cần phải biết mà Thiên Chúa đã không mặc khải cho chúng ta". [139] Chúng ta hãy đón nhận kho báu cao vời khôn ví của Lời Mặc Khải.

 

Chương 4

Chiều Kích Xã Hội

Của Công Cuộc Phúc Âm Hóa

 

176. Loan báo Tin Mừng chính là làm cho Vương Quyền Thiên Chúa hiện diện trong thế giới của chúng ta. Tuy nhiên, "không có một định nghĩa phiến diện nào có thể lột hết được thực tại phong phú phức tạp và sống động như công cuộc Phúc Âm Hóa. Ðịnh nghĩa như thế có nguy cơ làm phương hại và làm thực tại đó trở nên nghèo nàn". [140] Giờ đây tôi xin được chia sẻ mối quan tâm của tôi về chiều kích xã hội của công cuộc Phúc Âm Hóa, chính xác là vì nếu chiều kích này không được thực hiện đúng cách, có một mối nguy cơ thường hằng bóp méo ý nghĩa chân thực và toàn vẹn của sứ vụ Phúc Âm Hóa.

 

I. Những Ảnh Hưởng Cộng Ðồng Và Xã Hội Của Kerygma

177. Kerygma có một nội dung xã hội rõ nét: ở tận trung tâm Tin Mừng, có đời sống cộng đồng và sự tham gia với những người khác. Nội dung của lời công bố ban đầu có những ám chỉ luân lý tức khắc được tập trung vào đức ái.

Tuyên xưng đức tin và dấn thân vào xã hội

178. Tin vào Chúa Cha, Ðấng yêu thương tất cả mọi người bằng một tình yêu vô hạn, nghĩa là nhận ra rằng "Ngài ban cho họ một phẩm giá vô hạn". [141] Tin rằng Con Thiên Chúa đảm nhận xác phàm của chúng ta nghĩa là mỗi con người đã được đưa vào trong cung lòng của Thiên Chúa. Tin rằng Chúa Giêsu đã đổ máu mình vì chúng ta xóa đi bất kỳ sự nghi ngờ nào về tình yêu vô hạn, nhờ đó mỗi người trở nên cao quý. Ơn cứu chuộc của chúng ta có một chiều kích xã hội bởi vì "Thiên Chúa, nơi Ðức Ki-tô, cứu chuộc không chỉ từng người, mà còn cả những liên hệ xã hội vốn có giữa người với người". [142] Tin rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong mỗi người nghĩa là nhìn nhận rằng Ngài tìm cách thâm nhập vào mỗi hoàn cảnh của con người và vào tất cả mọi mối dây liên hệ xã hội: "Người ta có thể nói rằng Chúa Thánh Thần sở hữu một khả năng sáng tạo vô hạn, riêng biệt của trí tuệ thần linh, Ðấng biết cách tháo gỡ những vấn đề nan giải của con người, thậm chí phức tạp nhất và vô phương dò thấu" [143]. Công cuộc Phúc Âm Hóa cũng tìm cách hợp tác công trình giải phóng này của Chúa Thánh Thần. Chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của sự hiệp thông thần linh ấy, vì thế chúng ta không thể đạt được sự viên mãn hay ơn cứu độ chỉ bằng chính sức riêng của mình. Từ trung tâm Tin Mừng, chúng ta thấy sự kết nối mật thiết giữa công cuộc Phúc Âm Hóa và sự thăng tiến của con người, mà nhất thiết phải được diễn tả và phát triển ở nơi mỗi công việc Phúc Âm Hóa. Việc chấp nhận lời công bố ban đầu mời gọi chúng ta đón nhận tình yêu của Thiên Chúa và yêu lại Ngài bằng một tình yêu tự nó cũng là ân ban của Ngài, điều này nẩy sinh trong cuộc sống và hành động của chúng ta một đáp trả đầu tiên và cơ bản: ước muốn, tìm kiếm và bảo vệ điều thiện cho người khác.

179. Mối dây liên kết bất khả phân ly giữa việc tiếp nhận sứ điệp cứu độ và đức ái huynh đệ chân chính xuất hiện trong nhiều bản văn Kinh Thánh mà chúng ta sẽ suy niệm thấu đáo, để đánh giá cao tất cả những kết quả của chúng. Ðó là sứ điệp mà chúng ta coi đó là điều hiển nhiên và có thể lập đi lại lại gần như máy móc mà không cần phải bảo đảm chắc chắn rằng nó có một tác động thực sự trên đời sống của chúng ta và trong các cộng đồng của chúng ta. Ðiều này thật là nguy hiểm và tai hại biết bao, vì nó khiến chúng ta không còn biết kinh ngạc, hứng khởi và nhiệt thành để sống Tin Mừng của tình huynh đệ và công lý! Lời Chúa dạy rằng anh chị em của chúng ta là phần nối dài của cuộc nhập thể cho mỗi người chúng ta: "Mỗi lần các con làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25: 40). Cách thế chúng ta đối xử với người khác có một chiều kích siêu việt: "Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em" (Mt 7: 2). Cách đối xử này tương ứng với lòng thương xót mà Thiên Chúa đã bày tỏ cho chúng ta: "Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Ðấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại#Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Lc 6:36-38). Ðiều mà những bản văn này làm rõ ra là quyền ưu tiên tuyệt đối của "việc ra đi khỏi chính mình hướng đến anh chị em của mình", là một trong hai điều răn trọng nhất đặt nền móng cho mọi qui tắc luân lý và là dấu chỉ rõ ràng nhất để phân định sự tăng trưởng tâm linh đáp lại thiên ân hoàn toàn nhưng không. Vì lý do này, "phục vụ của đức ái cũng là một cấu tố của sứ mạng Giáo Hội và là một biểu thức không thể thiếu được về bản chất Giáo Hội". [144] Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo; Giáo Hội nẩy sinh vô vàn đức ái gây ấn tượng sâu sắc và lòng trắc ẩn để hiểu biết, giúp đỡ và khích lệ.

Nước Thiên Chúa và sự thách đố

180. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta nhận thức rõ rằng Tin Mừng không chỉ chú tâm đến mối liên hệ của mỗi người chúng ta với Thiên Chúa. Lời đáp trả yêu thương của chúng ta cho Thiên Chúa cũng không nên được coi như sự chất đống của những cử chỉ nho nhỏ của mỗi người đối với một số người đang túng thiếu, một loại "bác ái theo thực đơn", hay một loạt các hành động chỉ nhằm mục đích xoa dịu lương tâm của chúng ta. Tin Mừng quan tâm đến Nước Thiên Chúa (Lc 4: 43); nó nói về mến Chúa, Ðấng ngự trị trong thế giới của chúng ta. Ðến mức độ là Ngài ngự trị trong chúng ta, đời sống xã hội sẽ là một khung cảnh của tình huynh đệ, công lý, hòa bình và phẩm giá cho tất cả mọi người. Vì vậy, cả lời loan báo lẫn cuộc sống Ki-tô hữu có khuynh hướng tác động đến xã hội. Chúng ta đang tìm kiếm Nước Thiên Chúa: "Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho" (Mt 6: 33). Sứ vụ của Chúa Giê-su là khai mạc Nước của Cha Người, Người truyền cho các môn đệ hãy công bố tin vui: "Nước Trời đã đến gần" (Mt 10: 7).

181. Hiện diện rồi và đang tăng trưởng ở giữa chúng ta, Nước Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải dấn thân trọn vẹn và nhắc cho chúng ta nhớ nguyên tắc phân định mà Ðức Phao-lô VI đã áp dụng vào sự phát triển đích thật: "sự phát triển này phải trực chỉ đến mọi người và toàn thể con người". [145] Chúng ta biết rằng "công cuộc Phúc Âm Hóa sẽ không hoàn hảo nếu không để ý đến những liên hệ cụ thể và thường xuyên giữa Tin Mừng và đời sống, cá nhân và xã hội của con người". [146] Ðây là nguyên tắc về tính phổ quát nội tại của Tin Mừng, vì Chúa Cha mong muốn mọi người được cứu độ và kế hoạch cứu độ của Ngài hệ tại ở việc "quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Ðức Ki-tô" (x. Ep 1: 10). Nhiệm vụ của chúng ta là "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16: 15), vì "muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Ngài" (Rm 8: 19). Ở đây, "muôn loài thụ tạo" quy chiếu đến mọi khía cạnh của cuộc sống con người; do đó, "sứ vụ công bố Tin Mừng về Ðức Giê-su Ki-tô có một nơi đến phổ quát. Nhiệm vụ đức ái của sứ vụ này bao trùm tất cả mọi khía cạnh của đời sống, tất cả mọi cá nhân, tất cả mọi lãnh vực của đời sống cộng đồng, và tất cả mọi dân tộc. Không có gì thuộc về con người có thể xa lạ với sứ vụ". [147] Niềm hy vọng Kitô giáo đích thực, là niềm hy vọng tìm kiếm Vương Quốc cánh chung, luôn luôn tạo ra lịch sử.

Giáo Huấn Giáo Hội về các vấn đề xã hội

182. Giáo Huấn Giáo Hội liên quan đến những hoàn cảnh đột xuất tùy thuộc vào những khai triển mới và có thể mở ra để thảo luận, tuy nhiên chúng ta đành phải cụ thể - mà không giả định là đi vào chi tiết - vì sợ rằng những nguyên tắc xã hội quan trọng vẫn chỉ những khái quát không thách đố bất cứ ai. Cần phải rút ra những kết luận thực tế ngỏ hầu chúng "sẽ có một tác động lớn hơn đến các hoàn cảnh phức tạp hiện nay". [148] Khi chú ý đến những đóng góp của các ngành khoa học khác nhau, các vị mục tử có quyền đưa ra ý kiến về tất cả những gì tác động đến đời sống dân chúng, bởi vì nhiệm vụ Phúc Âm Hóa hàm ý và đòi hỏi sự thăng tiến toàn diện của mỗi con người. Không ai có thể yêu sách rằng tôn giáo phải được giới hạn trong lãnh vực riêng tư và tôn giáo tồn tại chỉ để chuẩn bị tâm hồn cho thiên đàng. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa muốn con cái Ngài được hạnh phúc cũng ở trong trần thế này, mặc dù họ được mời gọi đến sự viên mãn trong cõi đời đời, vì Ngài tạo ra tất cả mọi sự "cho chúng ta hưởng dùng" (1Tim 6: 17), cho mọi người hưởng dùng. Kế đến, việc hoán cải của Kitô hữu đòi hỏi xét lại cách đặc biệt những lãnh vực và những khía cạnh "có liên hệ đến trật tự xã hội và việc theo đuổi công ích". [149]

183. Vì thế, không ai có thể đòi hỏi tôn giáo phải bị hạ xuống hàng nội tâm thuộc đời sống cá nhân, không có bất kỳ ảnh hưởng nào trên đời sống xã hội và quốc gia, không có mối quan tâm nào đến sự lành mạnh của các định chế dân sự, không có quyền bày tỏ ý kiến về những biến cố tác động đến xã hội. Ai dám đòi khóa kín sứ điệp của thánh Phan-xi-cô At-si-di và của chân phước Tê-rê-xa Can-cut-ta vào trong nhà thờ và buộc sứ điệp này phải câm lặng được chứ? Chính các ngài đã không thể chấp nhận điều này. Một đức tin chân chính - đức tin không bao giờ thoải mái hay hoàn toàn cá nhân - luôn luôn đòi hỏi một ước muốn sâu xa nhằm thay đổi thế giới, chuyển giao các giá trị, làm hết mọi cách để làm cho trái đất này càng ngày càng tốt đẹp. Chúng ta yêu mến hành tinh xinh đẹp này, nơi Thiên Chúa đã đặt chúng ta vào, và chúng ta yêu mến gia đình nhân loại sinh sống ở đó, với tất cả những thảm kịch và những đấu tranh của nó, những hy vọng và những khát vọng của nó, những mạnh mẽ và những yếu nhược của nó. Trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta và tất cả chúng ta đều là anh chị em. Nếu thật sự "trật tự công bằng của xã hội và quốc gia là trách nhiệm trọng tâm của chính trị", thì Giáo Hội "không thể và không được phép đứng bên ngoài cuộc đấu tranh cho công lý". [150] Tất cả các Kitô hữu, kể cả các mục tử, được mời gọi bày tỏ mối quan tâm cho việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Ðiều này là cốt yếu, vì tư tưởng xã hội của Giáo Hội chủ yếu là tích cực: Giáo Hội đưa ra những đề nghị, hoạt động nhằm thay đổi, và theo nghĩa này, Giáo Hội thường hằng nhắm đến niềm hy vọng phát xuất từ tấm lòng yêu thương của Ðức Giê-su Ki-tô. Ðồng thời, Giáo Hội hiệp nhất "sự dấn thân của chính mình với sự dấn thân của các Giáo Hội địa phương và các cộng đồng Giáo Hội trong lãnh vực xã hội, cả trên bình diện suy tư tín lý lẫn trên bình diện thực hành". [151]

184. Ðây không phải lúc và nơi để xem xét thấu đáo nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng tác động đến thế giới ngày nay, trong số đó vài vấn đề tôi đã đề cập đến trong chương hai. Tông Huấn này không là một tài liệu xã hội, và để suy nghĩ về các chủ đề khác nhau, chúng ta có một công cụ rất thích hợp trong Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội mà tôi hết lòng khuyên anh chị em nên sử dụng và nghiên cứu. Ngoài ra, cả Giáo Hoàng lẫn Giáo Hội không độc quyền giải thích các thực tại xã hội hay đề ra những giải pháp cho các vấn đề hiện đại. Ở đây, tôi xin nhắc lại lời nhận xét sáng suốt của Ðức Phao-lô VI: "Ðối diện với những hoàn cảnh rất khác nhau như vậy, chúng tôi không thể nói lên một sứ điệp duy nhất và đề ra một giải pháp có giá trị phổ quát. Ðây không phải là tham vọng của chúng tôi, cũng không phải là sứ vụ của chúng tôi. Ðiều đó tùy thuộc vào các cộng đồng Ki-tô hữu để phân tích cách khách quan hoàn cảnh thích hợp với đất nước của họ". [152]

185. Trong phần dưới đây, tôi có ý định tập trung vào hai vấn đề lớn mà tôi cho là cơ bản vào thời điểm này trong lịch sử. Tôi sẽ bàn đến hai vấn đề này cách đầy đủ hơn bởi vì tôi tin rằng chúng sẽ định hướng tương lai của nhân loại. Hai vấn đề này trước hết là việc hòa nhập người nghèo vào xã hội, và thứ đến là hòa bình và đối thoại xã hội.

 

II. Việc Hòa Nhập Người Nghèo Vào Xã Hội

186. Ðức tin của chúng ta vào Ðức Kitô, Ðấng trở nên nghèo và luôn luôn thân cận với những người nghèo và những người bị ruồng bỏ, là nền tảng mối ưu tư của tôi đối với sự phát triển toàn diện của các thành viên xã hội bị lãng quên nhất.

Hiệp thông với Thiên Chúa, chúng ta nghe lời cầu xin

187. Mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đồng được kêu gọi là khí cụ của Thiên Chúa để giải thoát và thăng tiến người nghèo và để giúp họ có khả năng là một phần tử của xã hội cách trọn vẹn. Ðiều này đòi hỏi rằng chúng ta phải ngoan ngoãn và chú ý lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và đến cứu giúp họ. Chỉ một thoáng nhìn vào Kinh Thánh là đủ để cho chúng ta thấy Chúa Cha đầy lòng nhân ái của chúng ta muốn nghe tiếng kêu của người nghèo như thế nào: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi khổ đau của chúng. Ta xuống giải thoát chúng# Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi" (Xh 3: 7-8,10). Chúng ta cũng thấy Ngài bận lòng đến những nhu cầu của họ như thế nào: "Bấy giờ con cái Ít-ra-en kêu lên cùng Ðức Chúa, Ðức Chúa cho xuất hiện một vị cứu tinh" (Tl 3: 15). Nếu chúng ta, những khí cụ của Thiên Chúa để nghe người nghèo, giả điếc trước lời cầu xin này, chúng ta đối lập Thánh Ý của Chúa Cha với kế hoạch của Ngài; người nghèo "sẽ kêu lên Ðức Chúa tố cáo anh em, và anh em sẽ mang tội" (Ðnl 15: 9). Thiếu tình liên đới đối với những nhu cầu của họ tác động trực tiếp đến mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa: "Ai cay đắng trong lòng mà nguyền rủa con, thì Ðấng tạo thành ra nó sẽ nghe lời nó thỉnh nguyện" (Hc 4: 6). Câu hỏi xưa kia luôn luôn quay trở lại: "Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?" (1Ga 3: 17). Chúng ta cũng hãy nhớ thánh Gia-cô-bê Tông Ðồ đã nói về tiếng kêu của người bị áp bức một cách thẳng thắn như thế nào: "Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những người thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh" (Gcb 5: 4).

188. Giáo Hội đã nhận thức rằng nhu cầu chú ý đến lời cầu xin này tự nó phát sinh từ hành động giải phóng của ân sủng trong mỗi người chúng ta, vì thế, đây không là một vấn đề về sứ vụ dành riêng chỉ cho một số người: "Ðược Tin Mừng chan chứa lòng thương xót và tình yêu cho con người hướng dẫn, Giáo Hội nghe tiếng kêu khóc đòi công lý và có ý định đáp trả tiếng kêu đó bằng tất cả sức lực của mình". [153] Trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu lệnh truyền của Chúa Giê-su cho các môn đệ: "Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi" (Mc 6: 37): lệnh truyền này có nghĩa là hành động để loại bỏ những nguyên do cơ cấu của nạn nghèo đói và thăng tiến sự phát triển toàn diện của người nghèo, cũng như những hành vi liên đới nhỏ bé thường ngày khi chạm trán với những nhu cầu thực sự mà chúng ta gặp. Từ ngữ "tình liên đới" là một từ ngữ hơi sáo ngữ và đôi khi bị hiểu cách nghèo nàn, nhưng nó quy chiếu đến điều gì đó chứ không một vài hành vi rải rác của tấm lòng quảng đại. Từ ngữ này giả thiết tạo ra một não trạng mới, một não trạng biết tư duy dưới dạng cộng đồng về quyền ưu tiên của cuộc sống cho tất cả mọi người trên quyền tư hữu của cải bởi một số ít người.

189. Tình liên đới là một phản ứng bộc phát của những người nhận ra rằng chức năng xã hội của tài sản và việc sử dụng của cải cho hết mọi người là những thực thể đến trước tài sản tư. Quyền tư hữu của cải được biện minh bởi nhu cầu bảo vệ và gia tăng chúng, để chúng có thể phục vụ công ích tốt hơn; vì lý do này, chúng ta phải sống tình liên đới như quyết định trả lại cho người nghèo những gì thuộc về họ. Những xác tín và những tập quán của tình liên đới như vậy, khi được thực hành, mở đường cho những thay đổi cơ cấu khác và làm cho chúng khả thi. Thay đổi những cơ cấu mà không tạo ra những xác tín và những thái độ mới sẽ chỉ bảo đảm chắc chắn rằng cũng chính những cơ cấu đó, không sớm thì muộn, sẽ trở nên mục nát, áp bức và vô bổ

190. Ðôi khi chính là vấn đề nghe tiếng kêu của toàn thể các dân tộc, các dân tộc nghèo nhất của trái đất, bởi vì "hòa bình không chỉ dựa trên sự tôn trọng các quyền của con người, mà cũng trên sự tôn trọng các quyền của các dân tộc". [154] Thật đáng buồn, ngay cả nhân quyền có thể bị sử dụng để biện minh cho việc bảo vệ quyền lợi của cá nhân hay quyền lợi của những người giàu có hơn. Với sự tôn trọng thích đáng đối với nền độc lập và văn hóa của mỗi quốc gia, chúng ta đừng bao giờ quên rằng hành tinh này thuộc về toàn thể nhân loại và dành cho toàn thể nhân loại; sự kiện là một số người sinh ra ở những nơi có ít tài nguyên hay kém phát triển không thể biện minh cho sự kiện là họ phải sống với ít nhân phẩm hơn. Cần phải nhắc đi nhắc lại rằng "những người may mắn hơn nên khước từ một số quyền lợi của mình để đặt của cải của mình vào việc phục vụ tha nhân cách quảng đại hơn". [155] Nói cách thích đáng về những quyền lợi của mình, chúng ta cần mở rộng viễn cảnh của mình để nghe lời cầu xin của các dân tộc khác và các vùng khác ngoài những vùng của đất nước chúng ta. Chúng ta cần phải càng ngày càng liên đới với nhau hơn, là điều "cho phép tất cả mọi dân tộc trở thành những nhà kiến tạo vận mệnh của mình" [156] cũng như "mỗi con người được mời gọi tự triển nở". [157]

191. Ở mọi nơi và mọi cảnh huống, với sự giúp đỡ của các mục tử của mình, các Kitô hữu được mời gọi nghe tiếng kêu của người nghèo. Ðiều này đã được Hội Ðồng Giám Mục Ba Tây phát biểu cách hùng hồn: "Chúng tôi mong ước đảm nhận mỗi ngày những niềm vui và hy vọng, những khó khăn và buồn phiền của người dân Ba Tây, đặc biệt những người sống ở các vùng ngoại ô và nông thôn - không đất đai, không nhà cửa, thiếu thốn lương thực và săn sóc sức khỏe - các quyền lợi của họ bị vi phạm. Thấy cảnh nghèo khổ của họ, nghe tiếng kêu la của họ và biết những nỗi đau của họ, chúng tôi chướng tai gai mắt vì biết rằng có đủ thức ăn cho tất cả mọi người và nạn đói này là do sự phân phối của cải và lợi tức cách tồi tệ. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa bởi sự phung phí ở khắp nơi". [158]

192. Tuy nhiên, chúng ta ao ước còn hơn thế nữa, giấc mơ của chúng ta vỗ cánh bay cao hơn. Chúng ta không đơn giản nói về việc tất cả mọi người được bảo đảm ăn no mặc ấm xứng với phẩm giá của mình, nhưng cũng về việc mọi người đều được hưởng "phúc lợi và thịnh vượng". [159] Ðiều này muốn nói đến sự giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe, và trên hết là công ăn việc làm, bởi vì chính qua sự lao động tự do, sáng tạo, tham gia và hỗ trợ lẫn nhau mà con người diễn tả và nâng cao phẩm giá cho đời sống của mình. Một mức lương công bằng giúp cho họ có quyền sử dụng cách thích đáng tất cả những của cải khác được trù liệu cho việc sử dụng chung.

Trung thành với Tin Mừng để chúng ta không ngược xuôi vô ích

193. Chúng ta hiện thực bổn phận nghe tiếng kêu của người nghèo ở nơi bản thân mình khi chúng ta động lòng thương trước nỗi đau khổ của những người khác. Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa dạy chúng ta về lòng thương xót và để cho lời ấy vang dội trong đời sống của Giáo Hội. Tin Mừng nói với chúng ta: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" (Mt 5: 7). Thánh Gia-cô-bê Tông Ðồ dạy rằng lòng thương xót của chúng ta đối với tha nhân sẽ minh oan cho chúng ra vào ngày Phán Xét: "Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do. Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết xót thương. Còn ai thương xót, thì chẳng quan đến việc xét xử" (Gcb 2: 12-13). Ở đây, thánh Gia-cô-bê trung thành với truyền thống rất tinh tế của nền linh đạo Do thái vào thời hậu lưu đày, nền linh đạo này gán một giá trị cứu độ đặc biệt cho lòng thương xót: "Lập công chuộc tội, bằng cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo, may ra thời thịnh vượng của ngài sẽ được kéo dài thêm chăng" (Ðn 4: 24). Văn chương Minh Triết thấy việc bố thí là thực thi cách cụ thể lòng xót thương đối với những ai lâm cảnh túng thiếu: "Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi" (Tb 12: 9). Sách Huấn Ca cũng diễn tả tư tưởng này thậm chí rất sinh động: "Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi" (Hc 3: 30). Chúng ta gặp thấy một tổng hợp trong Tân Ước: "Trên hết, anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ vô vàn tội lỗi" (1Pr 4: 8). Chân lý này đã có ảnh hưởng rất lớn trên tư duy của các Giáo Phụ và đã giúp tạo ra sức đề kháng ngôn sứ như một nền văn hóa khác chống lại nền văn hóa ngoại giáo theo chủ nghĩa khoái lạc vị kỷ. Chúng ta có thể nhắc lại một thí dụ đơn giản: "Khi chúng ta gặp phải nguy cơ hỏa hoạn, chắc chắn là chúng ta chạy đến nước để cố sức dập tắt lửa#cũng thế, nếu tia lửa tội lỗi bén vào rơm, và vì thế chúng ta lo lắng, thì khi nào chúng ta có cơ hội thực hiện một công việc của lòng thương xót, chúng ta hãy vui mừng, như thử một nguồn nước phun trào để chúng ta có thể dập tắt ngọn lửa". [160]

194. Sứ điệp này thì quá rõ ràng và trực tiếp, quá đơn giản và hùng hồn đến mức không lời giải thích nào của Giáo Hội có quyền tương đối hóa nó. Suy tư của Giáo Hội trên những bản văn này không phải làm mờ đi hoặc làm yếu đi sức mạnh của chúng, nhưng cố thuyết phục chúng ta chấp nhận những lời khuyên bảo của chúng với dũng khí và bầu nhiệt huyết. Tại sao phức tạp hóa điều quá đơn giản? Có những khái niệm được sử dụng để thúc đẩy chúng ta tiếp xúc với những thực tại mà chúng tìm cách giải thích, chứ không làm cho chúng ta lánh xa những thực tại đó. Ðặc biệt, những lời khuyên Kinh Thánh ra sức kêu mời chúng ta đến tình huynh đệ, đến việc phục vụ khiêm tốn và đại lượng, đến công lý và lòng thương xót đối với người nghèo. Chúa Giê-su đã dạy chúng ta hãy nhìn vào tha nhân theo cùng một cung cách như vậy qua lời nói và hành động của Người. Vì thế, tại sao che khuất điều quá rõ ràng? Chúng ta không chỉ lo lắng vì sợ là mình bị sai lạc về tín lý, nhưng cũng vì sợ là mình không trung thành với lối sống đầy ánh sáng và sự khôn ngoan này. Vì "những người bênh vực tính chính thống đôi khi bị kết án là thụ động, buông xuôi hay đồng lõa với tội ác liên quan đến những hoàn cảnh bất công không thể chịu đựng nỗi và những thể chế chính trị muốn duy trì những hoàn cảnh ấy". [161]

195. Khi thánh Phaolô lên Giê-ru-sa-lem gặp các Tông Ðồ ở để phân định xem phải chăng ngài "ngược xuôi và đã ngược xuôi vô ích" (x. Gl 2: 2), các Tông Ðồ trình bày cho thánh nhân tiêu chuẩn chủ chốt của tính chính thống là không được quên những người túng thiếu (x. Gl 2:10). Nguyên tắc quan trọng này, ấy là các cộng đồng của Thánh Phaolô không được chiều theo lối sống vị kỷ của dân ngoại, ngày nay vẫn hợp thời khi mà xu hướng vị kỷ của dân ngoại này mỗi ngày mỗi gia tăng. Chúng ta không thể luôn luôn phản chiếu vẻ đẹp của Tin Mừng cách thích đáng, nhưng có một dấu chỉ mà chúng ta không bao giờ được thiếu: chọn lựa những người bé mọn, những người bị xã hội ruồng bỏ.

196. Ðôi khi chúng ta tỏ ra lòng chai dạ đá; chúng ta có thói quen hay quên, quá cuồng nhiệt và bị kích động bởi những khả năng tiêu thụ và tiêu khiển vô giới hạn mà xã hội hiện đại cung ứng. Ðiều này dẫn đến một loại vong thân trên mọi lãnh vực, vì "xã hội trở nên vong thân khi những hình thức của nó, như tổ chức xã hội, sản xuất, tiêu thụ, làm cho nó khó mà tự hiến và thiết lập tình liên đới giữa người với người hơn". [162]

Chỗ đứng đặc quyền của người nghèo trong Dân Thiên Chúa

197. Trong cung lòng của Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt dành cho người nghèo, đến mức Người tự ý "trở nên nghèo khó" (2 Cr 8: 9). Toàn bộ lịch sử cứu chuộc được đánh dấu bởi sự hiện diện của người nghèo. Ơn cứu độ này đã đến với chúng ta qua lời "xin vâng" được thốt lên bởi một thiếu nữ khiêm tốn, xuất thân từ một ngôi làng xa xôi nhỏ bé ở vùng ngoại vi của một đế quốc vĩ đại. Ðấng Cứu Thế đã được sinh ra trong chuồng bò, giữa những thú vật, như bao nhiêu con trẻ của những gia đình nghèo; Ngài được dâng trong đền thờ với hai con chim câu, lễ vật của những người không có khả năng dâng một con chiên (x. Lc 2: 24; Lv 5: 7); Người lớn lên trong một ngôi nhà của người lao động bình thường và làm việc với đôi bàn tay của mình để kiếm sống. Khi Người bắt đầu công bố Nước Thiên Chúa, đám người bị bóc lột đã theo Người, minh họa những lời của Người: "Thần Khí Chúa ngự trên Tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong Tôi, để Tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" (Lc 4: 18). Người bảo đảm với những ai vai mang gánh nặng của nỗi buồn phiền và bị đè bẹp bởi cảnh nghèo khổ rằng Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt dành cho họ trong cung lòng của Ngài: "Phúc cho anh em là những kẻ người nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em" (Lc 6: 20), và Người đã tự đồng hóa mình với họ: "Ta đói, các con đã cho Ta ăn", và đã dạy họ rằng lòng thương xót đối với tất cả những người này là chìa khóa mở cửa Thiên Ðàng (x. Mt 25: 35 tt).

198. Ðối với Giáo Hội, việc lựa chọn người nghèo chủ yếu là một phạm trù thần học chứ không là phạm trù văn hóa, xã hội học, chính trị hay triết học. Thiên Chúa bày tỏ cho người nghèo "lòng thương xót hàng đầu của Ngài". [163] Sự ưu tiên thần linh này có những kết quả trong đời sống đức tin của tất cả mọi Ki-tô hữu, bởi vì chúng ta được mời gọi hãy có "những tâm tình như chính Ðức Giê-su Ki-tô" (Pl 2: 5). Ðược điều này khơi nguồn hứng khởi, Giáo Hội đã lựa chọn người nghèo, sự lựa chọn này được hiểu như một "hình thức đặc biệt của tính ưu việt trong việc thực thi đức ái Ki-tô giáo, mà toàn thể truyền thống của Giáo Hội làm chứng". [164] Ðức Bênêđictô XVI đã dạy rằng sự lựa chọn này "tiềm ẩn trong đức tin Ki-tô giáo của chúng ta vào một vị Thiên Chúa, Ðấng trở nên nghèo khó vì chúng ta, để làm cho chúng ta được giàu có nhờ sự nghèo khó của Người". [165] Ðó là lý do tại sao tôi muốn một Hội Thánh nghèo và cho người nghèo. Người nghèo có nhiều điều để dạy chúng ta. Ðược dự phần không chỉ vào sensus fidei ("cảm thức đức tin"), nhưng cũng vào cảnh đời khốn khổ của mình, người nghèo biết Ðức Ki-tô chịu đau khổ. Chúng ta cần phải để họ Phúc Âm hóa chính mình. Công cuộc Tân Phúc Âm hóa là một lời mời gọi hãy nhận ra quyền năng cứu độ đang hoạt động trong cuộc sống của người nghèo và đặt người nghèo ở trung tâm con đường hành hương của Giáo Hội. Chúng ta được mời gọi hãy gặp thấy Ðức Ki-tô nơi họ, góp thêm tiếng nói của chúng ta cho những nguyên do của họ, nhưng cũng là bạn bè của họ, lắng nghe họ, phát ngôn cho họ và mở rộng vòng tay mà đón nhận nhận sự khôn ngoan nhiệm mầu mà Thiên Chúa mong muốn chia sẻ với chúng ta qua họ.

199. Việc dấn thân của chúng ta không chỉ hệ tại độc nhất ở nơi các hoạt động hay các chương trình thăng tiến và hỗ trợ; điều mà Chúa Thánh Thần động viên không phải là một sự hiếu động vô nề nếp, nhưng trên hết một sự chú tâm đến người khác "theo một nghĩa nào đó coi người khác như là một với chúng ta". [166] Sự chú tâm yêu thương này là khởi đầu của một mối quan tâm đích thực đối với con người của họ, điều này khơi nguồn hứng khởi cho tôi tìm kiếm điều thiện hảo cho họ cách có hiệu quả. Ðiều cần thiết là phải đánh giá cao người nghèo ở nơi sự tốt lành của họ, ở nơi kinh nghiệm sống của họ, ở nơi nền văn hóa của họ, và ở nơi những cách thế sống đức tin của họ. Tình yêu chân thật luôn luôn là chiêm niệm và cho phép chúng ta phục vụ người khác không vì hoàn cảnh bắt buộc hay vì tính kiêu căng tự phụ, nhưng vì nết đẹp của người ấy vượt trên và vượt ra ngoài những dáng vẻ bề ngoài. "Nhờ tình yêu chúng ta thấy người khác dễ thương, tình yêu này khiến chúng ta dâng tặng cho họ một điều gì đó cách nhưng không". [167] Người nghèo, khi được yêu thương, thì "được coi trọng như một báu vật", [168] và đây là điều làm cho việc chọn lựa người nghèo trở nên chân chính khác với bất kỳ ý thức hệ nào khác, khác với bất kỳ ý đồ nào nhằm lợi dụng người nghèo vì tư lợi hay vì lợi ích chính trị. Chỉ căn cứ trên sự thân cận đích thực và chân thành này, chúng ta mới có thể đồng hành với người nghèo cách thích đáng trên con đường giải phóng của họ. Chỉ điều này mới bảo đảm chắc chắn rằng "ở nơi mỗi cộng đồng Ki-tô hữu, những người nghèo mới cảm thấy như ở nhà mình. Cách tiếp cận này không phải là cách trình bày vĩ đại nhất và có hiệu quả nhất về Tin Mừng của Nước Thiên Chúa sao?" [169] Nếu không có sự lựa chọn người nghèo vào hàng ưu tiên, "việc công bố Tin Mừng, tự nó là một hình thức đức ái hàng đầu, có nguy cơ bị ngộ nhận hoặc bị muôn ngàn những lớp sóng ngôn từ trùng điệp nhận chìm khiến chúng ta hằng ngày bị phủ lấp trong xã hội truyền thông đại chúng ngày nay". [170]

200. Vì Tông Huấn này được ngỏ lời với các thành viên Giáo Hội Công giáo, tôi lấy làm tiếc mà nói rằng việc kỳ thị tồi tệ nhất mà những người nghèo phải chịu là thiếu sự quan tâm tinh thần. Ðại đa số người nghèo có một tấm lòng rộng mở đặc biệt trước đức tin; họ cần Thiên Chúa, và chúng ta buộc phải dâng tặng cho họ tình bằng hữu của Ngài, lời chúc phúc của Ngài, Lời của Ngài, việc cử hành các Bí Tích và một cuộc hành trình triển nở và sung mãn trong đức tin. Sự lựa chọn người nghèo mà chúng ta đặt lên hàng đầu chủ yếu phải thể hiện ra bằng một sự quan tâm đến đặc quyền và đặc lợi về tôn giáo của họ.

201. Không ai được nói rằng mình không thể gần gũi với người nghèo vì lối sống riêng của mình đòi hỏi chú ý hơn đến các địa hạt khác. Ðây là một lời bào chữa thường xuyên được nghe trong giới khoa bảng, kinh doanh hay chuyên nghiệp, và ngay cả những người của Giáo Hội. Thật ra ơn gọi và sứ vụ chính yếu của giáo dân là nỗ lực để các thực tại trần thế và mọi lãnh vực hoạt động của nhân loại có thể được Tin Mừng biến đổi, [171] vì thế, không ai trong chúng ta có thể nghĩ rằng mình được miễn trừ khỏi quan tâm đến người nghèo và công bằng xã hội: "Việc hoán cải tâm linh, cường độ mến Chúa và yêu người, lòng nhiệt thành đối với công lý và hòa bình, ý nghĩa Tin Mừng về người nghèo và sự nghèo khổ, đòi buộc tất cả mọi người". [172] Tôi e rằng những lời này cũng có thể gây ra bình luận hay tranh luận mà không có bất kỳ tác dụng thực tế nào. Tuy nhiên, tôi tin tưởng vào tấm lòng rộng mở và thái độ sẵn sàng của tất cả các Kitô hữu, và tôi xin anh chị em, với tư cách là một cộng đoàn, hãy tìm những cách thế sáng tạo để đón nhận lời kêu gọi canh tân này.

Nền kinh tế và sự phân phối lợi tức

202. Nhu cầu giải quyết những nguyên nhân cơ cấu của sự nghèo khổ không thể bị trì hoãn được, không chỉ vì lý do thực tiển và khẩn cấp cho một trật tự xã hội tốt đẹp, nhưng vì xã hội cần được chữa lành khỏi một căn bệnh khiến nó càng ngày càng suy nhược và gây bực bội khó chịu, và chỉ dẫn đến những cuộc khủng hoảng mới mà thôi. Những hoạch định phúc lợi, để đáp ứng một số nhu cầu khẩn cấp, phải được coi như chỉ là những giải pháp tạm thời. Chừng nào mà những vấn đề về người nghèo chưa được giải quyết tận căn bằng cách từ bỏ quyền tự chủ tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính, cũng như tấn công những nguyên nhân cơ cấu của sự bất bình đẳng, [173] thì không giải pháp nào sẽ được gặp thấy cho bất cứ vấn đề nào đối với những vấn đề của thế giới hay đối với vấn đề đó. Sự bất bình đẳng là căn nguyên của các tệ nạn xã hội.

203. Phẩm giá của mỗi con người và việc theo đuổi công ích phải là những mối quan tâm định hướng cho tất cả các chính sách kinh tế. Tuy nhiên, đôi khi, những chính sách này xem ra chỉ là phụ lục được đưa vào không gì khác chỉ để làm đầy một bài diễn văn chính trị thiếu vắng những triển vọng hay những kế hoạch phát triển toàn diện thật sự. Biết bao nhiêu lời nói chứng thực là khó chịu đối với hệ thống này! Nó thật khó chịu khi vấn đề đạo đức được nêu lên, khi tình liên đới toàn cầu được viện dẫn, khi sự phân phối của cải được kể ra, khi quy chiếu đến việc bảo vệ lao động và bênh vực phẩm giá của những người cô thân cố thế, khi ám chỉ đến một vị Thiên Chúa, Ðấng đòi hỏi một sự dấn thân cho công lý. Vào những lần khác, những vấn đề này được khai thác bởi những lời nói hoa mỹ khoa trương làm mất giá trị của chúng. Thái độ thờ ơ vô cảm trước những vấn đề như vậy làm cho đời sống và lời nói của chúng ta vô nghĩa. Thương mại là một ơn gọi, và là một ơn gọi cao quý, miễn là những ai dấn thân vào công việc này thấy mình bị thách đố bởi một ý nghĩa lớn hơn trong cuộc sống; điều này giúp cho họ thực sự có khả năng phục vụ công ích bằng cách nỗ lực gia tăng của cải trần thế này và làm cho chúng càng ngày càng đạt đến tất cả mọi người.

204. Chúng ta không còn có thể tin tưởng vào những sức mạnh và bàn tay vô hình của thị trường. Sự triển nở trong công lý đòi hỏi còn hơn cả sự phát triển kinh tế, trong khi giả thiết sự triển nở như thế: nó đòi những quyết định, những chương trình, các cơ chế và quy trình đặc biệt nhằm hướng đến việc phân phối lợi nhuận cách tốt hơn, việc tạo ra các nguồn công ăn việc làm và sự thăng tiến toàn diện của người nghèo vượt trên tâm lý phúc lợi. Tôi không đề nghị một chủ nghĩa dân túy (populism) vô trách nhiệm, nhưng nền kinh tế không còn có thể quay sang những phương thuốc, mà thật ra chất độc mới, chẳng hạn như nỗ lực tăng lợi nhuận bằng cách giảm số người lao động, qua đó tăng thêm những hạng người bị khai trừ.

205. Tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta thêm nhiều chính trị gia có khả năng đối thoại cách chân thành và hữu hiệu nhắm đến việc chữa lành những căn nguyên sâu xa nhất - chứ không hời hợt bề ngoài - của các tệ nạn trong thế giới chúng ta! Chính trị, dù thường bị phỉ báng, vẫn là một ơn gọi cao cả và là một trong những hình thức cao nhất của đức ái, chừng nào nó tìm kiếm công ích. [174] Chúng ta cần phải xác tín rằng đức ái "là nguyên tắc không chỉ về những mối liên hệ vi mô: với bạn bè, với các thành viên gia đình hay những nhóm nhỏ, nhưng cũng về những mối liên hệ vĩ mô: những liên hệ xã hội, kinh tế và chính trị". [175] Tôi nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng ta thêm nhiều chính trị gia, những người thật sự có tấm lòng biết cảm thương trước tình trạng xã hội, dân chúng, cuộc sống của người nghèo! Ðiều thiết yếu là các nhà lãnh đạo chính quyền và các nhà lãnh đạo tài chính có một tầm nhìn bao quát và mở rộng những chân trời của mình, làm việc để bảo đảm chắc chắn rằng tất cả công dân đều có công ăn việc làm, đều được hưởng sự giáo dục và sự chăm sóc sức khỏe xứng với phẩm giá của mình. Và tại sao chúng ta không ngước mắt trông lên Thiên Chúa để xin Ngài khơi nguồn hứng khởi cho các kế hoạch của họ? Tôi tin chắc rằng việc mở lòng ra với Ðấng siêu việt có thể hình thành một tâm thức chính trị và kinh tế mới có khả năng phá đổ bức tường phân cách giữa nền kinh tế và công ích xã hội.

206. Nền kinh tế, như chính từ ngữ này chỉ ra, phải là nghệ thuật nhằm đạt được một sự quản lý thích hợp ngôi nhà chung, tức là toàn thể thế giới. Mỗi quyết định kinh tế có ý nghĩa được thực hiện ở một phần của thế giới đều có những hậu quả ở những nơi khác; vì vậy không một chính phủ nào có thể hành động mà không quan tâm đến trách nhiệm được chia sẻ. Quả thật, càng ngày càng trở nên khó khăn để tìm ra những giải pháp địa phương đối với những vấn đề toàn cầu rộng lớn tràn ngập nền chính trị địa phương với những khó khăn phải giải quyết. Nếu chúng ta thật sự muốn đạt được một nền kinh tế thế giới lành mạnh, thì chúng ta cần, trong tình hình lịch sử này, một cách thế tương tác hiệu quả hơn, đó là tôn trọng chủ quyền của mỗi quốc gia, đảm bảo chắc chắn phúc lợi kinh tế cho tất cả các quốc gia chứ không chỉ cho một ít quốc gia.

207. Nếu bất cứ cộng đồng Giáo Hội nào nghĩ rằng nó có thể đi con đường riêng của mình cách thoải mái mà không bận tâm sáng tạo và hợp tác hiệu quả để giúp người nghèo sống xứng đáng với phẩm giá và để vươn mình ra với mọi người, thì cộng đồng ấy sẽ có nguy cơ sụp đổ, dù nó có bàn về những vấn đề xã hội hoặc chỉ trích chính quyền nhiều đến mấy đi nữa. Nó sẽ dễ dàng trôi xuôi theo tinh thần thế tục được ngụy trang bởi những thực hành tôn giáo, những cuộc họp vô ích và những diễn từ trống rỗng.

208. Nếu có ai cảm thấy bị xúc phạm vì những lời tôi nói, tôi xin thưa rằng tôi nói với họ với một tấm lòng yêu mến và những ý định tốt nhất, chứ không có bất kỳ tư lợi hay ý thức hệ chính trị nào. Những lời tôi nói không là những lời của một kẻ thù hay một đối thủ. Tôi chỉ quan tâm đến việc giúp đỡ những ai đang làm nô lệ cho một tâm trạng duy cá nhân, thờ ơ và vị kỷ, có thể thoát ra khỏi những xiềng xích không xứng đáng ấy và đạt được một cách sống và cách tư duy nhân bản hơn, cao thượng hơn và có hiệu quả hơn, đem lại phẩm giá cho sự hiện diện của họ trên trái đất này.

Quan tâm đến những người dể bị thương tổn

209. Chúa Giêsu, nhà loan báo Tin Mừng tuyệt vời và Tin Mừng hiện thân, đặc biệt đồng hóa mình với những người bé mọn (x. Mt 25: 40). Ðiều này nhắc nhở chúng ta là những Ki-tô hữu rằng chúng ta được mời gọi để chăm sóc những người dể bị thương tổn trên trần gian. Nhưng trong mô hình hiện nay, người ta nhấn mạnh đến sự thành công và tự lực cánh sinh, dường như không ai ủng hộ việc đầu tư vào những nỗ lực giúp đỡ những người chậm chạp, những người yếu đuối hoặc ít tài năng để họ gặp được những cơ hội trong cuộc sống.

210. Ðiều thiết yếu là tiếp cận với những hình thức của sự nghèo khổ và tình trạng dể bị tổn thương, trong đó chúng ta được kêu gọi nhận ra Ðức Giê-su chịu đau khổ, ngay cả nếu điều này xem ra không mang lại cho chúng ta bất kỳ lợi ích khả giác và tức thời nào. Tôi nghĩ đến những người vô gia cư, nghiện ngập, tị nạn, thổ dân, những người già cả bị cô lập và bị bỏ rơi càng ngày càng đông, và nhiều người khác. Những người di cư đưa ra một thách đố đặc biệt cho tôi, vì tôi là mục tử của một Giáo Hội không biên giới, một Giáo Hội tự nhận mình là mẹ của tất cả mọi người. Vì lý do này, tôi kêu mời các quốc gia hãy mở rộng cửa đón tiếp họ, thay vì lo sợ đánh mất căn tính địa phương, thì lại cho thấy khả năng tạo ra những hình thức tổng hợp văn hóa mới. Ðẹp thay các thành phố vượt qua nỗi nghi nan ngờ vực không lành mạnh, hội nhập những người khác biệt và biến việc hội nhập này thành một tác nhân mới của sự phát triển! Hấp dẫn thay các thành phố, thậm chí trong thiết kế kiến ##trúc của chúng, có đầy những không gian kết nối, liên hệ và ủng hộ việc nhìn nhận người khác!

211. Tôi rất đau lòng vì nhiều người là nạn nhân của những hình thức buôn người khác nhau. Tôi thật lòng mong ước tất cả chúng ta nghe được tiếng kêu của Thiên Chúa: "anh chị em con đâu?" (St 4: 9). Anh chị em con đang sống trong cảnh nô lệ ở đâu? Những anh chị em đang chết dần chết mòn mỗi ngày trong những xưởng máy bí mật nhỏ, trong những ổ mại dâm, trong việc sử dụng những trẻ em để ăn xin, trong tình trạng khai thác bất hợp lệ sức lao động, họ đang ở đâu? Chúng ta giả vờ như không có chuyện gì xảy ra. Có một sự đồng lõa lớn hơn mà tôi nghĩ. Vấn nạn dính líu đến hết mọi người! Mạng lưới tội ác bỉ ổi này hiện đang được thiết lập trong các thành phố của chúng ta, và có những bàn tay vấy máu của nhiều người vì sự đồng lõa thoải mái và im lặng của họ.

212. Những người nghèo gấp bội là các phụ nữ chịu đựng những hoàn cảnh khai trừ, ngược đãi và bạo lực, bởi vì họ thường ít có khả năng để bảo vệ quyền lợi của mình. Dù vậy, chúng ta thường hằng chứng kiến ở giữa họ những mẫu gương anh hùng thường ngày trong việc bênh vực và bảo vệ gia đình dể bị thương tổn của mình.

213. Trong số những người dể bị thương tổn, mà Giáo Hội mong muốn chăm sóc với lòng yêu thương đặc biệt, là các thai nhi, các em không có khả năng tự vệ và vô tội nhất ở giữa chúng ta. Ngày nay, người ta ra sức chối bỏ nhân phẩm của các em và hành xử với các em bất cứ điều gì người ta thích, tước đoạt sự sống của các em và thông qua những đạo luật ngỏ hầu không ai có thể ngăn cản tệ nạn này. Thường xuyên, như một cách phỉ báng những nỗ lực của Giáo Hội trong việc bảo vệ sự sống của các thai nhi, người ta cố gắng trình bày lập trường của Giáo Hội là ý thức hệ, mù mờ và bảo thủ. Tuy nhiên, việc bênh vực thai nhi này liên hệ mật thiết với việc bênh vực mỗi một và mọi quyền con người khác. Nó bao hàm niềm xác tín rằng một con người luôn luôn là thánh thiêng và bất khả xâm phạm, ở bất cứ hoàn cảnh nào và ở mỗi giai đoạn phát triển. Con người là cùng đích ở nơi chính mình và không bao giờ là một phương tiện để giải quyết các vấn đề khác. Mỗi khi niềm xác tín này biến mất, thì những nền tảng vững chắc và lâu dài cũng biến mất như vậy, nghĩa là, chúng sẽ luôn luôn bị lệ thuộc vào những sở thích thoáng qua của những thế lực luân phiên. Một lý do thôi thì cũng đủ để nhận ra giá trị bất khả xâm phạm của mỗi một nhân sinh, nhưng nếu chúng ta cũng nhìn vào vấn đề từ quan điểm đức tin: "Mọi vi phạm đến phẩm giá cá nhân của con người đều là lời kêu xin báo oán lên Thiên Chúa và là tội xúc phạm chống lại Ðấng Tạo Hóa mỗi người". [176]

214. Chính xác là vì điều này có dính líu đến tính kiên định nội tại của sứ điệp của chúng ta về giá trị của con người, không ai có thể mong đợi Giáo Hội thay đổi lập trường của mình về vấn đề này. Tôi muốn hoàn toàn thẳng thắn về điểu ấy. Ðây không phải là một điều gì đó buộc phải tuân theo những cải cách hay những "hiện đại hóa". Không phải là "cấp tiến" khi cố gắng giải quyết những vấn đề bằng cách loại bỏ một nhân sinh. Mặt khác, cũng phải thú nhận rằng chúng ta đã làm rất ít để đồng hành cách thích đáng với những phụ nữ lâm vào những hoàn cảnh rất khó khăn, trong đó việc phá thai xuất hiện như một giải pháp nhanh chóng cho nỗi thống khổ tận đáy lòng của họ, đặc biệt khi sự sống đang lớn lên trong họ là kết quả của việc hãm hiếp, hay một hoàn cảnh nghèo đói cùng cực. Ai có thể cầm lòng trước những hoàn cảnh đau thương như vậy?

215. Có những hữu thể khác cũng yếu đuối và không có khả năng tự vệ, thường xuyên phó mặc cho những lợi ích kinh tế hay sự khai thác bừa bãi. Tôi đề cập đến toàn thể công trình sáng tạo. Là con người, chúng ta không chỉ là những người hưởng lợi ích nhưng cũng là những quản gia trông coi các thụ tạo khác. Nhờ thân xác của chúng ta, Thiên Chúa đã kết hợp chúng ta với thế giới chung quanh chúng ta quá mật thiết đến nỗi chúng ta có thể cảm thấy việc sa mạc hóa đất đai hầu như một căn bệnh thể lý của chúng ta và việc tuyệt chủng của các loài vật như một sự biến dạng đau đớn ở nơi chúng ta. Chúng ta đừng để lại phía sau chúng ta những mảng hủy diệt và chết chóc có ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta và của những thế hệ tương lai. [177] Ở đây, tôi xin được mượn lời than thở gây xúc động và mang tính ngôn sứ của các Giám Mục Phi Luật Tân được bày tỏ cách đây vài năm: "Sự đa dạng khó tin của các côn trùng sống trong rừng và bận rộn với đủ loại công việc Những con chim bay qua bầu trời, bộ long rực rỡ của chúng và tiếng hót đa dạng của chúng thêm màu sắc và nhạc điệu cho màu xanh của rừng Thiên Chúa có ý ban đất này cho chúng ta, những thụ tạo đặc biệt của Ngài, nhưng không phải để chúng ta tiêu diệt nó và biến nó thành một hoang mạc Chỉ sau một đêm mưa, hãy nhìn vào những dòng sông đục ngầu màu nâu sô-cô-la tại địa phương của anh chị em, và hãy nhớ rằng chúng đang mang máu sống của đất ra biển. Làm sao mà cá có thể bơi lội được trong những cống rãnh tựa như sông Pasig và nhiều con sông khác mà chúng ta đã gây ô nhiễm? Ai đã biến thế giới tuyệt vời của biển thành những nghĩa trang dưới nước mất màu sắc và sự sống?" [178]

216. Dù nhỏ bé nhưng mạnh mẽ trong tình yêu của Thiên Chúa, như thánh Phan-xi-cô Át-xi-di, tất cả chúng ta là những Ki-tô hữu đều được mời gọi trông coi và bảo vệ thế giới dể bị thương tổn ở đó chúng ta và tất cả mọi dân tộc đang sống.

 

III. Công Ích Và Hòa Bình Trong Xã Hội

217. Chúng ta đã nói rất nhiều về niềm vui và tình yêu, nhưng Lời Chúa cũng nói về hoa quả của bình an (x. Gl 5: 22).

218. Hòa bình trong xã hội không thể được hiểu như tình trạng ổn định hay như sự vắng bóng bạo lực nhờ vào sự thống trị của một thành phần xã hội trên những thành phần khác. Hòa bình đích thật cũng không hành xử như lời bào chữa để biện minh cho một cơ cấu xã hội bịt miệng người nghèo hay xoa dịu họ, ngỏ hầu thành phần có thế có quyền có thể yên tâm duy trì lối sống của họ trong khi những thành phần khác "sống chết mặc bây". Những đòi hỏi liên quan đến sự phân phối của cải và mối bận tâm đến người nghèo và nhân quyền không thể bị trấn áp dưới chiêu bài là tạo nên một sự đồng thuận trên giấy tờ hay một nền hòa bình phù du dành cho một thiểu số thỏa mãn. Nhân phẩm và công ích xếp hạng cao hơn cảnh sống sung túc của những người từ chối chuyển nhượng những đặc quyền đặc lợi của mình. Khi các giá trị ấy bị đe dọa, tiếng nói ngôn sứ phải được cất lên.

219. Hòa bình cũng không "đơn giản là sự vắng bóng chiến tranh, dựa trên thế cân bằng may rủi của quyền lực; nó được tạo nên bởi những nỗ lực ngày này qua ngày khác nhắm thẳng đến sự thiết lập của vũ trụ có trật tự mà Thiên Chúa muốn, với một công lý hoàn hảo hơn giữa con người". [179] Cuối cùng, một nền hòa bình, nếu không là kết quả của sự phát triển toàn diện, thì sẽ bị hủy diệt. Nó sẽ luôn luôn nẩy sinh những xung đột mới và các hình thức khác nhau của bạo lực.

220. Dân chúng trong mỗi quốc gia nâng cao chiều kích xã hội của cuộc sống mình bằng cách hành động như những công dân dấn thân và có trách nhiệm, chứ không như một đám đông hỗn tạp để cho mình bị các thế lực lung lạc. Chúng ta đừng quên rằng "bổn phận công dân có trách nhiệm là một nhân đức, và việc tham gia vào đời sống chính trị là một nghĩa vụ luân lý". [180] Tuy nhiên, trở thành một dân tộc đòi hỏi hơn nhiều. Nó là một tiến trình liên tục mà mỗi thế hệ mới phải dự phần vào: một nỗ lực tiệm tiến và gian khổ đòi hỏi niềm ao ước hòa nhập và một ý chí hoàn thành ước muốn này bằng cách phát triển một nền văn hóa gặp gỡ trong hòa bình và đa diện.

221. Tiến trình xây dựng một dân tộc trong hòa bình, công lý và huynh đệ tùy thuộc vào bốn nguyên tắc liên quan đến những căng thẳng thường hằng hiện diện trong mỗi thực tại xã hội. Những nguyên tắc này được rút ra từ những định đề lớn của Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội, chúng được sử dụng như "thông số tham chiếu hàng đầu và cơ bản để giải thích và đánh giá những hiện tượng xã hội". [181] Trong ánh sáng của chúng, giờ đây tôi xin được đưa ra bốn nguyên tắc đặc biệt này để có thể hướng dẫn việc phát triển cuộc sống trong xã hội và việc xây dựng một dân tộc, trong đó những khác biệt được hòa hợp trong một cuộc theo đuổi chung. Tôi làm như vậy vì xác tín rằng việc áp dụng chúng có thể là một con đường chân chính đưa đến hòa bình trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.

Thời gian cao hơn không gian

222. Có một sự căng thẳng thường hằng giữa sự viên mãn và sự giới hạn. Sự viên mãn gợi lên niềm ước muốn sở hữu mọi thứ, trong khi sự giới hạn là bức tường dựng lên trước chúng ta. Nói theo nghĩa rộng, "thời gian" phải có liên hệ đến sự viên mãn được biểu hiện như chân trời thường hằng mở ra trước chúng ta, trong khi mỗi khoảng khắc cá nhân phải có liên hệ đến sự giới hạn được biểu hiện như một mảnh đất được rào chung quanh. Cư dân bị đặt giữa mỗi khoảng khắc cá nhân và chân trời rộng lớn hơn, rực sáng hơn về một tương lai không tưởng như là cứu cánh lôi cuốn chúng ta đến với nó. Ở đây tôi thấy một nguyên tắc đầu tiên cho tiến trình xây dựng một dân tộc: thời gian cao hơn không gian.

223. Nguyên tắc này giúp chúng ta có khả năng làm việc chậm mà chắc, mà không quá bận tâm đến những kết quả tức thời. Nó giúp chúng ta kiên nhẫn chịu đựng những nghịch cảnh khó khăn hay những thay đổi không thể tránh được trong hành tinh chúng ta. Nó mời gọi chúng ta chấp nhận sự căng thẳng giữa sự viên mãn và sự giới hạn, và ban quyền ưu tiên cho thời gian. Một trong những lỗi lầm mà chúng ta thỉnh thoảng nhận thấy trong lãnh vực hoạt động chính trị xã hội đó là người ta thích không gian và quyền lực hơn thời gian và tiến trình. Ban quyền ưu tiên cho không gian có nghĩa là điên cuồng ra sức giữ mọi thứ cùng nhau trong hiện tại, cố gắng chiếm hữu tất cả không gian của quyền lực và tự khẳng định mình. Chính là kết tinh những tiến trình và dám kiềm chế chúng. Ban quyền ưu tiên cho thời gian có nghĩa là quan tâm về việc khởi xướng các tiến trình hơn là chiếm hữu các không gian. Thời gian điều khiển các không gian, soi sáng chúng và biến chúng thành những kết nối trong một chuỗi thường hằng trương rộng ra, mà bất khả đảo ngược. Vì thế, điều chúng ta cần là phải ban quyền ưu tiên cho những hành động tạo ra những tiến trình mới trong xã hội và tuyển dụng những người hay những nhóm khác để có thể phát triển chúng cho đến lúc chúng sinh hoa kết quả trong những biến cố lịch sử có ý nghĩa. Không xao xuyến, nhưng với những xác tín rõ ràng và lòng kiên trì.

224. Ðôi khi tôi tự hỏi phải chăng trong thế giới ngày nay có những người thực sự quan tâm đến việc tạo ra những tiến trình xây dựng một dân tộc, đối nghịch với việc đạt được những kết quả tức thời mang lại những lợi thế chính trị dể dàng, nhanh chóng, ngắn hạn, nhưng không nâng cao sự viên mãn cho con người. Có lẽ lịch sử sẽ phê phán lập trường thứ hai với tiêu chuẩn mà Romano Guardini đã đề ra: "Thước đo duy nhất để đánh giá đúng một thời đại là hỏi xem nó thúc đẩy việc phát triển và việc đạt được cuộc sống con người sung túc và chân chính, phù hợp với đặc tính riêng biệt và những khả năng của thời đại ấy cho đến mức độ nào". [182]

225. Tiêu chuẩn này cũng áp dụng cho công cuộc Phúc Âm Hóa, là điều đòi hỏi chú ý tới bức tranh lớn hơn, mở rộng lòng ra trước những tiến trình và quan tâm đến thời gian dài lâu. Suốt cuộc đời tại thế của Người, chính Chúa thường hay cảnh báo các môn đệ Người là có nhiều điều các ông chưa có thể hiểu được, vì thế họ sẽ phải chờ đợi Chúa Thánh Thần (x. Ga 16:12-13). Dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng lúa (x. Mt 13: 24-30) mô tả cách sinh động một khía cạnh quan trọng của công cuộc Phúc Âm Hóa: kẻ thù có thể đột nhập vào Vương Quốc và gieo mầm độc hại, nhưng cuối cùng nó bị điều thiện của lúa đánh bại.

Hiệp nhất thắng xung đột

226. Chúng ta không thể giả vờ như không biết hay che dấu sự xung đột, nhưng phải đối mặt với nó. Tuy nhiên, nếu chúng ta bị mắc kẹt trong sự xung đột, chúng ta đánh mất triển vọng của chúng ta, những chân trời của chúng ta bị thu hẹp lại và thực tại tự nó bị vỡ ra từng mảnh. Ở giữa cuộc xung đột, chúng ta đánh mất cảm thức của mình về sự hiệp nhất sâu xa của thực tại.

227. Khi cuộc xung đột xuất đầu lộ diện, một số người chỉ đơn thuần nhìn vào nó và đi con đường của mình như thử không có chuyện gì xảy ra; họ phủi tay khỏi cuộc xung đột và tiếp tục cuộc sống của mình. Những người khác trăn trở với nó đến nỗi họ trở thành tù nhân của nó; họ đánh mất tác phong của mình, phóng chiếu lên những định chế sự bối rối và bất mãn riêng của mình, và do đó, khiến cho sự hiệp nhất bất khả thi. Nhưng cũng có cách thức thứ ba và là cách thức tốt nhất để đối phó sự xung đột. Chính là tư thế sẵn sàng đối đầu với sự xung đột để giải quyết nó và biến nó thành một kết nối trong chuỗi một tiến trình mới. "Phúc thay ai xây dựng hòa bình" (Mt 5: 9).

228. Theo cách này, sự xung đột trở nên khả thi để xây dựng sự hiệp thông giữa sự bất đồng, nhưng điều này chỉ có thể đạt được bởi những người cao thượng, họ sẵn sàng vượt qua bề mặt của sự xung đột và thấy những người khác ở nơi phẩm giá sâu xa nhất của họ. Ðiều này cần phải thừa nhận một nguyên tắc không thể thiếu để xây dựng tình huynh đệ trong xã hội: tức là, sự hiệp nhất lớn hơn sự xung đột. Vì thế, tình liên đới, theo nghĩa sâu xa nhất và thách thức nhất của nó, trở thành một cách thức làm nên lịch sử trong bối cảnh của cuộc đời, trong đó những xung đột, những căng thẳng và những chống đối có thể đạt được một sự hiệp nhất đa dạng và ban sự sống. Ðây không phải chọn lựa một loại chủ nghĩa hỗn hợp hay sự thu hút của phe này vào phe kia, nhưng đúng hơn một giải pháp xảy ra trên bình diện cao hơn và gìn giữ những gì có giá trị và hữu dụng cho cả hai phía.

229. Nguyên tắc này, được rút ra từ Tin Mừng, nhắc cho chúng ta nhớ rằng Ðức Ki-tô đã hiệp nhất mọi sự trong Người: trời và đất, Thiên Chúa và con người, thời gian và vĩnh cửu, xác thịt và tinh thần, con người và xã hội. Dấu chỉ cho thấy sự hiệp nhất và hòa giải mọi sự trong Người này là bình an. Ðức Ki-tô "là bình an của chúng ta" (Ep 2:14). Sứ điệp Tin Mừng luôn luôn bắt đầu với lời chào bình an, và bình an ở mọi lúc thăng hoa và củng cố những mối liên hệ giữa các môn đệ. Bình an là khả thi bởi vì Chúa đã vượt qua thế gian và sự xung đột trường kỳ của nó bằng cách đem lại bình an "nhờ máu Người đổ ra trên thập giá" (Cl 1: 20). Nhưng nếu nhìn vào những bản văn Kinh Thánh này gần hơn, chúng ta nhận ra rằng địa điểm của việc hòa giải các sự khác biệt là ở tại lòng mình, ở tại cuộc sống riêng của mình thường hằng bị đe dọa phân thành từng mảnh và sụp đổ. [183] Những tấm lòng bị phân tán thành hằng ngàn mãnh thật khó mà tạo nên một nền hòa bình chân chính trong xã hội.

230. Sứ điệp hòa bình không nói về một sự thỏa thuận thông qua đàm phán, nhưng đúng hơn nói về niềm xác tín rằng sự hiệp nhất mà Chúa Thánh Thần đem đến có thể hòa hợp mọi sự đa dạng. Nó vượt trên mọi xung đột bằng cách tạo nên một tổng hợp mới đầy hứa hẹn. Sự đa dạng là một điều đẹp đẽ khi nó thường hằng hòa nhập vào một tiến trình hòa giải và phê chuẩn một loại hiệp ước văn hóa đưa đến "sự đa dạng được hòa giải". Như các Giám mục Congo đã phát biểu: "Tính đa dạng đạo đức của chúng tôi là sự giàu có của chúng tôi...Chính chỉ ở nơi sự hiệp nhất, qua sự sám hối thật lòng và sự hòa giải, mà chúng tôi mới có thể giúp quê hương chúng tôi phát triển trên mọi bình diện". [184]

Thực tại cao hơn ý tưởng

231. Cũng có một sự căng thẳng thường hằng giữa ý tưởng và thực tại. Thực tại như thế nào thì như thế đó, nhưng ngược lại ý tưởng cần được giải trình. Phải có cuộc đối thoại liên tục giữa thực tại và ý tưởng, nếu không ý tưởng trở nên xa rời với thực tại. Thật nguy hiểm khi chỉ sống trong địa hạt của lời nói, hình ảnh và lời hay ý đẹp mà thôi. Vì thế, chúng ta cần đến nguyên tắc thứ ba: thực tại cao hơn ý tưởng. Ðiều này đòi hỏi loại bỏ những phương tiện đa dạng để che đậy thực tại: những hình thức về sự tinh tuyền như thiên thần, sự độc tài của thuyết tương đối, lối nói hoa mỹ khoa trương nhưng rỗng tuếch, những mục tiêu lý tưởng hơn thực tế, những kiểu chủ nghĩa cơ yếu phi lịch sử, hệ thống đạo đức không sự tử tế, diễn từ tri thức không có sự khôn ngoan.

232. Ý tưởng - những trau chuốt khái niệm - đang phục vụ sự truyền thông, sự hiểu biết và sự thực tiển. Ý tưởng xa rời thực tại gây ra những hình thức vô dụng của chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa duy danh, cả hai chỉ có khả năng tối đa là phân loại và định nghĩa, nhưng chắc chắn không kêu gọi hành động. Ðiều gọi chúng ta hành động là thực tại được lý trí soi sáng. Chủ nghĩa duy danh hình thức phải nhường chỗ cho mục tiêu hòa hợp. Nếu không, chân lý bị thao túng như mỹ phẩm thế chỗ cho việc chăm sóc thân thể của chúng ta. [185] Chúng ta có những chính trị gia - và thậm chí cả các nhà lãnh đạo tôn giáo - họ tự hỏi tại sao dân chúng không hiểu họ và không chịu theo họ, cho dù những đề nghị của họ rất rõ ràng và hợp lý. Có lẽ vì họ gắn chặt vào địa hạt thuần túy ý tưởng và cuối cùng thu hẹp chính trị hay niềm tin vào lối nói hoa mỹ phô trương. Những người khác đã để lại đằng sau sự đơn giản và đã du nhập sự thuần lý xa lạ với quần chúng.

233. Thực tại cao hơn ý tưởng. Nguyên tắc này phải liên hệ đến việc nhập thể của Lời Chúa và việc đưa Lời Chúa ra thực hành: "Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: thần khí nào tuyên xưng Ğức Chúa Giêsu Kitô là Ðấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa" (1Ga 4: 2). Nguyên tắc về thực tại, về Lời nhập thể và thường hằng nổ lực nhập thể theo một cách mới, là thiết yếu cho công cuộc Phúc Âm Hóa. Nguyên tác này giúp chúng ta thấy rằng lịch sử Giáo Hội là lịch sử cứu độ và giúp chúng ta chú ý tới các thánh, những người đã hội nhập Tin Mừng vào văn hóa đời sống của các dân tộc, cũng như giúp chúng ta gặt hái những thành quả truyền thống hai ngàn năm phong phú của Giáo Hội, mà không giả vờ nẩy ra một hệ thống tư tưởng không liên hệ đến kho tàng này, như thể chúng ta muốn tái chế Tin Mừng. Ðồng thời, nguyên tắc này thúc đẩy chúng ta đưa Lời Chúa ra thực hành, thực thi những việc công lý và bác ái ngỏ hầu Lời Chúa sinh hoa kết quả. Không đem Lời Chúa ra thực hành, không biến Lời Chúa thành thực tại, tức là xây nhà trên cát, vẫn ở trong địa hạt thuần túy ý tưởng và nói cho cùng vẫn ở trong tính vị kỷ và ngộ đạo thuyết thiếu sức sống và vô bổ.

Toàn thể cao lớn từng phần

234. Cũng có một sự căng thẳng nội tại giữa việc toàn cầu hóa và địa phương hóa. Chúng ta cần chú ý đến chiều kích toàn cầu ngỏ hầu tránh tâm địa hẹp hòi và tầm nhìn vô vị. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần để mắt đến chiều kích địa phương để giữ đôi chân của mình bước đi trên mặt đất. Hai chiều kích này hợp lại với nhau ngăn cản chúng ta khỏi rơi vào một trong hai thái cực. Ở thái cực thứ nhất, người ta bị vướng mắc vào vũ trụ trừu tượng và toàn cầu hóa, rơi vào tình cảnh tụt hậu phía sau những người khác, chiêm ngưỡng sự quyến rũ của thế giới của những người khác đến nỗi chỉ còn biết há hốc miệng mà vỗ tay liên hồi. Ở thái cực thứ hai, họ biến thành một bảo tàng viện dân gian địa phương, một thế giới tách biệt, bắt phải làm đi làm lại những điều tương tự, không có khả năng để cho cái mới mẻ thách thức mình hay tán thưởng vẻ đẹp mà Thiên Chúa ban tặng vượt bên ngoài biên giới của họ.

235. Toàn thể không chỉ cao hơn từng phần, nhưng còn cao hơn tổng số của những phần của nó. Vì vậy, không cần phải lo lắng thái quá về những vấn đề bị hạn chế và đặc thù. Chúng ta phải thường hằng mở rộng những chân trời của chúng ta và thấy điều tốt hơn, điều đem lại lợi ích cho tất cả chúng ta. Nhưng chúng ta phải làm điều này mà không được thoái thác hay đánh mất cội nguồn của mình. Chúng ta phải bám rễ sâu vào mảnh đất màu mỡ và lịch sử sinh quán của mình, là một ân ban của Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm việc trên một phạm vi nhỏ, ở nơi vùng lân cận của chính mình, nhưng với một viển cảnh rộng lớn hơn. Cũng vậy, ai hết lòng hội nhập vào cuộc sống cộng đồng, người ấy không cần phải đánh mất chiều kích cá nhân của mình hay che dấu căn tính của mình; trái lại, họ nhận được những niềm hưng phấn mới thôi thúc mình lớn lên. Chiều kích toàn cầu không nhất thiết phải là ngột ngạt, và chiều kích địa phương cũng không bị coi là vô bổ.

236. Ở đây, mô hình của chúng ta không là hình cầu, là hình không lớn hơn các phần của nó, trong đó mỗi điểm là khoảng cách bằng nhau từ trung tâm, cũng như không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa chúng. Trái lại, mô hình này là một khối đa diện, khối này phản ảnh sự hội tụ của tất cả các phần của nó, mỗi phần bảo tồn đặc điểm của mình. Cả lãnh vực hoạt động mục vụ lẫn lãnh vực hoạt động chính trị đều tìm cách thu thập ở nơi khối đa diện này điều tốt nhất của riêng mình. Có chỗ cho người nghèo và văn hóa của họ, những khát vọng của họ và tiềm năng của họ. Ngay cả những người có thể bị xem là đáng ngờ vì những sai lầm của họ, cũng có một điều gì để dâng hiến mà người ta không được bỏ qua. Khối này là một sự hội tụ của các dân tộc mà, theo trật tự phổ quát, duy trì cá tính riêng của dân tộc mình; nó là tổng số những người trong một xã hội theo đuổi công ích, một xã hội thật sự có chỗ cho mọi người.

237. Ðối với các Kitô hữu, nguyên tắc này cũng gợi lên tổng thể hay sự toàn vẹn của Tin Mừng mà Giáo Hội truyền lại cho chúng ta và sai chúng ta đi công bố. Sự viên mãn và sự phong phú của nguyên tắc này bao gồm học giả và công nhân, doanh nhân và nghệ sĩ, nói tóm lại, mọi người. Thiên phú của mỗi dân tộc đón nhận theo cách thế riêng của mình toàn bộ Tin Mừng và thể hiện nó bằng những biểu thức cầu nguyện, huynh đệ, công lý, đấu tranh và cử hành. Tin Mừng là niềm vui của Chúa Cha, Ðấng không muốn mất bất cứ đứa con nào của mình, đó cũng là niềm vui của Vị Mục Tử Nhân Lành, Ðấng tìm gặp con chiên lạc và đem nó trở về đàn chiên của mình. Tin Mừng là nắm men làm dậy lên toàn thể khối bột và là thành phố trên núi mà ánh sáng của nó soi sáng mọi dân tộc. Tin Mừng có một nguyên tắc nội tại về tổng thể: nó vẫn mãi mãi là Tin Mừng cho đến khi được công bố cho tất cả mọi người, cho đến khi chữa lành và tăng cường mọi khía cạnh của nhân loại, và cho đến khi đưa mọi người cùng đến dự bàn tiệc Nước Trời. Toàn thể cao hơn từng phần.

 

IV. Ðối Thoại Xã Hội Như Một Ðóng Góp Cho Hòa Bình

238. Công cuộc Phúc Âm Hóa cũng bao hàm con đường đối thoại. Ðối với Giáo Hội ngày nay, ba lãnh vực đối thoại nỗi bật trong đó Giáo Hội cần phải hiện diện để đẩy mạnh sự phát triển toàn diện con người và theo đuổi công ích: đối thoại với các nhà nước, đối thoại với xã hội - kể cả đối thoại với các nền văn hóa và khoa học - và đối thoại với các tín hữu khác không thuộc về Giáo Hội Công Giáo. Trong mọi trường hợp, "Giáo Hội nói từ ánh sáng mà đức tin ban tặng", [186] đóng góp kinh nghiệm hai ngàn năm của mình và ghi nhớ trong tâm trí luôn mãi đời sống và những đau khổ của con người. Ánh sáng này siêu vượt trên lý trí con người, tuy nhiên nó cũng đem lại ý nghĩa và phong phú hóa những người không tin và thúc đẩy lý trí mở rộng những viễn cảnh của mình.

239. Giáo Hội công bố "Tin Mừng bình an" (Ep 6: 15) và Giáo Hội mong ước hợp tác với tất cả các chính quyền quốc gia và quốc tế để giữ gìn điều tốt đẹp bao la và phổ quát này. Qua việc công bố Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng là hiện thân hòa bình (x. Ep 2: 14), công cuộc Tân Phúc Âm hóa thúc dục mọi người đã được rửa tội trở thành người kiến tạo hòa bình và nhân chứng khả tín cho cuộc sống hòa giải. [187] Trong một nền văn hóa đề cao cuộc đối thoại như một hình thức gặp gỡ, chính là thời điểm để nghĩ ra một phương thế để vun đắp tâm đầu ý hợp trong khi nhắm đến một xã hội công bằng, cởi mở và bao gồm mọi người. Tác giả chính, chủ thể lịch sử của tiến trình này, là toàn dân chứ không một tầng lớp, một thiểu số, một nhóm hay một số người ưu tú. Chúng ta không cần những kế hoạch được hoạch định bởi một ít người cho một ít người, hay một thiểu số được khai sáng đòi quyền phát ngôn thay cho mọi người. Ðây là một thỏa thuận chung sống, một hiệp ước xã hội và văn hóa.

240. Quốc gia có trách nhiệm giữ gìn và phát huy công ích xã hội. [188] Dựa trên các nguyên tắc phụ trợ và liên đới, và dấn thân trọn vẹn vào cuộc đối thoại chính trị và vun đắp sự đồng thuận, quốc gia đóng một vai trò cơ bản, một vai trò không thể ủy thác cho bất kỳ ai được trong việc theo đuổi sự phát triển toàn diện của mọi người. Vai trò này, hiện nay, đòi hỏi đức tính khiêm nhường sâu xa về mặt xã hội.

241. Trong cuộc đối thoại của mình với Nhà Nước và với xã hội, Giáo Hội không có giải pháp cho mỗi vấn đề riêng biệt. Cùng với các bộ phận đa dạng của xã hội, Giáo Hội hổ trợ những chương trình đáp ứng tốt nhất với phẩm giá của mỗi người và công ích. Khi làm như thế, Giáo Hội đề nghị cách rõ ràng những giá trị cơ bản của nhân sinh và những xác tín mà sau đó có thể được bày tỏ ở nơi lãnh vực hoạt động chính trị.

Cuộc đối thoại giữa đức tin, lý trí và khoa học

242. Cuộc đối thoại giữa khoa học và đức tin cũng thuộc vào công việc Phúc Âm Hóa nhằm phục vụ cho hòa bình. [189] Trong khi chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy khoa học "từ chối, không công nhận giá trị của những nhận thức khác với những cách thức riêng biệt của khoa học thực tiển", [190] Giáo Hội đề nghị một con đường khác, con đường đòi hỏi một sự tổng hợp giữa việc sử dụng có trách nhiệm những phương pháp phù hợp với các khoa học thực nghiệm và các lãnh vực kiến thức khác như triết học, thần học, cũng như chính đức tin, đức tin nâng con người lên tới mầu nhiệm vượt trên thiên nhiên và trí thông minh của loài người. Ðức tin không sợ lý trí; trái lại, đức tin tìm kiếm và tin vào lý tri bởi vì "ánh sáng lý trí và ánh sáng đức tin đều đến từ Thiên Chúa", [191] và cả hai không thể mâu thuẫn nhau. Công cuộc Phúc Âm Hóa chú ý đến những tiến bộ khoa học và ước muốn soi sáng chúng bằng ánh sáng đức tin và luật tự nhiên, ngỏ hầu chúng luôn luôn tôn trọng tính trung tâm và giá trị tối cao của con người ở mọi giai đoạn của đời sống. Toàn thể xã hội có thể được phong phú hóa nhờ cuộc đối thoại này, mở ra những chân trời mới để suy nghĩ và trải rộng các khả năng của lý trí. Ðây cũng là con đường của hòa hợp và hòa bình.

243. Giáo Hội không muốn kiềm chế sự tiến bộ phi thường của khoa học một chút nào. Trái lại, Giáo Hội vui mừng và thậm chí thích thú khi nhận ra tiềm năng vĩ đại mà Thiên Chúa đã ban cho tâm trí con người. Khi nào khoa học - tập trung cách nghiêm ngặt vào lãnh vực nghiên cứu chuyên môn của mình - đi đến một kết luận mà lý trí không thể phủ nhận, thì đức tin cũng không mâu thuẫn với nó. Các tín hữu cũng không thể cho rằng một quan điểm khoa học hấp dẫn nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ có cùng một tầm mức quan trọng như một tín điều. Ðôi khi vài nhà khoa học đưa ra vài phát biểu hay yêu sách vượt quá giới hạn thẩm quyền khoa học của mình. Nhưng ở đây vấn đề không phải với chính lý trí, nhưng với sự thúc đẩy của một ý thức hệ đặc thù, điều này chận kín lối ngõ mở ra một cuộc đối thoại chân chính, thanh thản và hữu ích.

Ðối thoại đại kết

244. Dấn thân vào phong trào đại kết là đáp lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: "Xin cho tất cả nên một" (Ga 17: 21). Sự khả tín của sứ điệp Ki-tô giáo sẽ lớn hơn nhiều nếu các Kitô hữu khắc phục những chia rẽ của họ và Giáo Hội có thể nhận ra "sự chia rẽ giữa các Ki-tô hữu ngăn trở Giáo Hội thực hiện đầy đủ tính cách công giáo riêng biệt nơi những con cái đã chịu phép Rửa Tội nhưng còn xa cách, chưa hoàn toàn thông hiệp với Giáo Hội". [192] Chúng ta đừng bao giờ quên rằng mình là những khách hành hương đang cùng nhau lữ hành trên đường. Ðiều này muốn nói rằng chúng ta phải có niềm tin tưởng chân thành vào những người bạn hành hương của chúng ta, để sang một bên tất cả ngờ vực hay nghi kỵ mà hướng ánh mắt mình đến những gì chúng ta đang tìm kiếm: bình an rạng rỡ trên khuôn mặt của Thiên Chúa. Tin tưởng vào người khác là một nghệ thuật và hòa bình cũng là một nghệ thuật. Chúa Giêsu bảo chúng ta: "Phúc thay ai xây dựng hòa bình" (Mt 5: 9). Khi đảm nhận tác vụ này, ngay cả ở giữa chúng ta, chúng ta kiện toàn sấm ngôn xưa: "Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày" (Is 2: 4).

245. Trong viễn cảnh này, phong trào đại kết có thể được xem như một đóng góp cho sự hiệp nhất của gia đình nhân loại. Tại Thượng Hội Ðồng Giám Mục, sự hiện diện của Thượng Phụ Constantinople, Ðức Bartholomew I và của Tổng Giám Mục Canterbury, Ðức Rowan Douglas Williams, đã là một ân ban thật sự từ Thiên Chúa và lời chứng Kitô giáo quý giá. [193]

246. Có chú ý đến tính nghiêm trọng của việc phản chứng vì sự chia rẽ giữa các Ki-tô hữu, đặc biệt là ở Á Châu và Phi Châu, việc tìm kiếm những con đường hiệp nhất trở nên càng cấp bách hơn. Các nhà truyền giáo ở những lục địa ấy thường kể ra những lời chỉ trích, than phiền và chế nhạo mà gương xấu của người Kitô hữu ly khai gây ra. Nếu chúng ta tập trung vào những xác tín mà chúng ta chia sẻ với nhau, và nếu chúng ta ghi nhớ nguyên tắc về phẩm trật chân lý, chúng ta sẽ có thể quyết tâm tiến đến những biểu thức chung để công bố, phục vụ và làm chứng. Ðám đông bao la chưa đón nhận sứ điệp của Ðức Chúa Giêsu Kitô, họ không thể để chúng ta thờ ơ được. Do đó, dấn thân vào sự hợp nhất để giúp họ chấp nhận Ðức Chúa Giêsu Kitô không còn có thể là vấn đề đơn thuần ngoại giao hoặc phục tùng vì bị ép buộc, nhưng đúng hơn một lộ trình cần thiết cho công cuộc Phúc Âm Hóa. Những dấu chỉ của việc chia rẽ giữa những người Ki-tô hữu trong các quốc gia bị tàn phá vì bạo lực cộng thêm những nguyên nhân xung đột về phía những người đáng lẽ phải là nắm men của hòa bình. Có biết bao điều quan trọng hiệp nhất chúng ta! Và nếu chúng ta thực sự tin tưởng vào hoạt động tự do đến mức phong phú của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể học không biết bao nhiêu điều từ nhau! Chúng ta không chỉ có một sự hiểu biết tốt hơn về những người khác, nhưng còn gặt hái những gì Chúa Thánh Thần đã gieo ở nơi họ nữa, đó cũng là món quà cho chúng ta. Xin đan cử một thí dụ, trong cuộc đối thoại với anh chị em Chính Thống của chúng ta, người Công giáo chúng ta có cơ hội để họ biết thêm về ý nghĩa của Giám Mục Ðoàn và kinh nghiệm của họ về Thượng Hội Ðồng Giám Mục. Qua việc trao đổi quà tặng, Chúa Thánh Thần có thể dẫn chúng ta ngày càng tròn đầy hơn vào chân lý và sự thiện hảo.

Quan hệ với Do Thái giáo

247. Chúng ta có một cái nhìn rất đặc biệt đối với người Do Thái bởi vì Giao Ước của họ với Thiên Chúa chưa bao giờ bị thu hồi, vì "Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Ngài không hề đổi ý" (Rm 11: 29). Giáo Hội chia sẻ với người Do Thái một phần quan trọng của bộ Kinh Thánh, vì thế Giáo Hội coi dân của Giao Ước và đức tin của họ là một trong những cội nguồn thánh thiêng của căn tính Kitô giáo của mình (x. Rm 11: 16-18). Là Kitô hữu, chúng ta không thể coi Do Thái giáo là một tôn giáo xa lạ; chúng ta cũng không đưa người Do Thái vào số những người được mời gọi từ bỏ các ngẫu tượng để phục vụ Thiên Chúa chân thật (x. 1Tx 1: 9). Cùng với họ, chúng ta tin vào một Thiên Chúa duy nhất, Ðấng hoạt động trong lịch sử, và cùng với họ chúng ta chấp nhận Lời Mặc Khải của Ngài.

248. Ðối thoại và tình huynh đệ với con cái Ít-ra-en là một phần đời sống của các môn đệ Chúa Giê-su. Tình huynh đệ đã lớn lên giữa chúng ta khiến chúng ta đắng cay và chân thành hối tiếc vì những cuộc bách hại khủng khiếp mà họ đã và đang phải chịu, đặc biệt là những cuộc bách hại có dính líu đến các Kitô hữu.

249. Thiên Chúa tiếp tục làm việc trong dân Cựu Ước và làm phát sinh những kho tàng khôn ngoan tuôn trào từ cuộc gặp gỡ của họ với Lời Chúa. Vì thế, Giáo Hội cũng được phong phú hóa khi đón nhận các giá trị của Do Thái giáo. Trong khi thật ra là một số niềm tin Ki-tô giáo không thể được Do thái giáo chấp nhận, nhưng Giáo Hội không thể không công bố Chúa Giêsu là Chúa và là Ðấng Mê-si-a (Ki-tô), cũng có một sự bổ túc phong phú cho phép chúng ta cùng nhau đọc các bản văn Kinh Thánh Do thái và giúp nhau khai thác sự phong phú của Lời Chúa. Chúng ta cũng có thể chia sẻ nhiều xác tín đạo đức và mối quan tâm chung về công lý và sự phát triển của các dân tộc.

Ðối thoại giữa các tôn giáo

250. Một thái độ mở lòng ra trong chân lý và tình yêu phải là đặc điểm của cuộc đối thoại với các tín đồ của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, bất chấp những trở ngại và những khó khăn khác nhau, đặc biệt những hình thức của chủ nghĩa cơ yếu của cả hai bên. Cuộc đối thoại liên tôn là một điều kiện cần thiết cho hòa bình trên thế giới, và do đó là một nhiệm vụ đối với các Kitô hữu, cũng như đối với các cộng đồng tôn giáo khác. Cuộc đối thoại này trên hết là một cuộc trò chuyện về đời sống con người hay đơn giản, như các Giám Mục Ấn Ðộ đưa ra, là chuyện "mở lòng ra với họ, chia vui xẻ buồn với họ". [194] Theo cách này, chúng ta học biết chấp nhận tha nhân và cách sống, cách tư duy và cách nói năng khác của họ. Sau đó, chúng ta có thể cùng chung nhau đảm nhận trách nhiệm phục vụ công lý và hòa bình, điều đó phải trở nên nguyên tắc cơ bản của tất cả mọi trao đổi của chúng ta. Một cuộc đối thoại tự bản chất tìm kiếm hòa bình và công bằng trong xã hội là cuộc đối thoại vượt qua tất cả những tính toán hoàn toàn thực dụng, một dấn thân luân lý dẫn đến một hoàn cảnh mới. Việc cùng chung sức bàn đến một chủ đề đặc biệt có thể trở thành một tiến trình trong đó, nhờ lắng nghe nhau, cả hai bên đều có thể được thanh lọc và phong phú hóa. Vì vậy, những nỗ lực này cũng có thể diễn tả tình yêu dành cho chân lý.

251. Trong cuộc đối thoại này, luôn luôn thân thiện và chân thành, chúng ta phải luôn luôn chú ý đến mối dây liên hệ tất yếu giữa đối thoại và công bố, là điều giúp Giáo Hội duy trì và tăng cường mối quan hệ của mình với những người ngoài Kitô giáo. [195] Một chủ nghĩa hỗn hợp dể dãi rốt cuộc sẽ là một thái độ chuyên chế về phía những ai giả vờ như không biết các giá trị lớn hơn mà họ không phải là chủ nhân của chúng. Sự cỡi mở đích thật đòi hỏi vẫn một lòng một dạ trong những xác tín sâu xa nhất của mình, vẫn trong sáng và vui tươi trong căn tính của mình, đồng thời mở lòng mình ra "để hiểu những người khác" và "biết rằng cuộc đối thoại có thể phong phú hóa mỗi bên". [196] Ðiều vô bổ chính là một thái độ cỡi mở ngoại giao chỉ biết "đồng ý" với mọi sự để tránh phiền toái, bởi vì điều này sẽ là một cách thế lừa dối tha nhân và từ chối cho họ điều thiện hảo mà chúng ta đã được ban cho nhằm hết lòng chia sẻ với họ. Công cuộc Phúc Âm Hóa và đối thoại liên tôn, thay vì đối nghịch nhau, lại là hỗ trợ nhau và nuôi dưỡng nhau. [197]

252. Mối quan hệ của chúng ta với các tìn đồ Hồi Giáo mặc lấy một tầm quan trọng lớn lao, bởi vì hiện nay họ đang hiện diện trong nhiều quốc gia có truyền thống Kitô giáo, ở đó họ có thể tự do phụng thờ và hội nhập trọn vẹn vào xã hội. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng họ "kiên vững tuyên xưng đức tin của ông Áp-ra-ham, và cùng với chúng ta, họ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất đầy lòng xót thương, Ðấng sẽ phán xét con người vào ngày sau hết". [198] Các sách thánh của Hồi Giáo vẫn giữ lại một số giáo huấn của Kitô giáo; Ðức Giê-su và Ðức Ma-ri-a được vô cùng tôn kính và thật thán phục biết bao khi thấy những tín đồ Hồi Giáo, trẻ cũng như già, nam cũng như nữ, dành thì giờ để cầu nguyện hàng ngày và trung thành tham dự các việc phụng tự. Nhiều người trong họ có một niềm xác tín sâu xa rằng toàn thể đời sống của họ đến từ Thiên Chúa và dành cho Thiên Chúa. Họ cũng nhận ra nhu cầu đáp trả cho Thiên Chúa bằng một dấn thân luân lý và lòng thương xót đối với người nghèo.

253. Ðể hỗ trợ việc đối thoại với Hồi Giáo, cần phải đào tạo cách thích đáng tất cả những ai có liên quan, không chỉ để họ có thể có nền tảng vững chắc và vui tươi trong căn tính riêng của mình, nhưng cũng để họ có thể nhận ra những giá trị của người khác, đánh giá cao những mối bận tâm bên dưới những đòi hỏi của họ và dọi sáng trên những niềm tin được chia sẻ. Chúng ta, những người Kitô hữu, nên mở rộng vòng tay chào đón những di dân Hồi Giáo đến các đất nước chúng ta với một lòng yêu thương và tôn trọng theo cùng cách thức như chúng tôi hy vọng và đòi hỏi được đón nhận và được tôn trọng ở các nước theo truyền thống Hồi giáo. Tôi khiêm tốn yêu cầu các nước Hồi Giáo làm ơn bảo đảm sự tự do cho các Kitô hữu để họ có thể phụng thờ và thực hành đức tin của mình, trong ánh sáng của sự tự do mà các tín đồ Hồi Giáo vui hưởng ở các nước Tây Phương! Ðối mặt với những giai đoạn gây bối rối của chủ nghĩa cơ yếu bạo lực, lòng tôn trọng của chúng tôi đối với các tin đồ Hồi Giáo chân chính phải giúp chúng ta tránh những khái quát thù hận, bởi vì Hồi Giáo chính thống và việc đọc kinh Koran đúng đắn chống lại mọi hình thức bạo lực.

254. Nhờ sáng kiến đầy lòng nhân hậu của Thiên Chúa, khi họ trung thành với lương tâm của chính mình, những người ngoài Kitô giáo có thể sống một cuộc sống "được công chính hóa nhờ ân sủng của Thiên Chúa" [199] và do đó "được liên kết với mầu nhiệm Vượt Qua của Ðức Chúa Giêsu Kitô". [200] Tuy nhiên, do chiều kích bí tích của ơn thánh sủng, tác động của Thiên Chúa trong họ có khuynh hướng sản sinh các dấu chỉ, các nghi lễ, các biểu thức thánh thiêng, những điều này lại đưa người khác đến kinh nghiệm cộng đồng trong cuộc hành trình tiến đến Thiên Chúa. [201] Dù thiếu ý nghĩa và hiệu quả của các Bí Tích do Ðức Ki-tô thiết lập, những điều này có thể là những cách thế chuyển thông mà Chúa Thánh Thần nuôi dưỡng để giải thoát những người ngoài Ki-tô giáo khỏi chủ nghĩa vô thần nội tại hoặc những kinh nghiệm tôn giáo thuần túy cá nhân. Cùng một Chúa Thánh Thần tạo ra ở khắp nơi những hình thức khôn ngoan thực hành để giúp dân chúng chịu đựng đau khổ và sống trong bình an và và hòa hợp hơn. Là người Kitô hữu, chúng ta có thể được hưởng lợi từ những kho tàng này được vun đắp qua nhiều kỷ nguyên, chúng có thể giúp chúng ta sống tốt hơn những xác tín riêng của mình.

Ðối thoại xã hội trong bối cảnh tự do tôn giáo

255. Các Nghị Phụ Thượng Hội Ðồng đã nói về tầm quan trọng của việc tôn trọng sự tự do tôn giáo, được quan niệm như là một quyền cơ bản của con người. [202] Ðiều này bao gồm "quyền tự do lựa chọn một tôn giáo mà người ta coi là chân thật và công khai bày tỏ đức tin của mình". [203] Một chủ nghĩa đa phức lành mạnh, chủ nghĩa này chân thành tôn trọng những sự khác biệt và coi trọng chúng như thế, không bắt phải tư nhân hóa các tôn giáo nhằm nỗ lực thu hẹp chúng vào bóng tối thầm lặng của lương tâm cá nhân, hoặc khép kín chúng vào trong khuôn viên kín cổng cao tường của các nhà thờ, các hội đường Do Thái hoặc các đền thờ Hồi giáo. Thực tế, điều này biểu thị một hình thức mới của kỳ thị và chuyên chế. Sự tôn trọng phải có đối với thiểu số người bất khả tri hay người vô tín ngưỡng không được áp đặt một độc đoán theo lối bắt đa số người có tín ngưỡng không được bày tỏ công khai những xác tín của mình hoặc giả vờ như không biết sự giàu có của các truyền thống tôn giáo. Về lâu dài, điều này sẽ gây ra bất mãn chứ không phải là lòng khoan dung và hòa bình.

256. Khi xem xét tác động của tôn giáo trên đời sống công cộng, người ta phải phân định những cách thức khác nhau theo đó tôn giáo được thực hành. Cả giới trí thức lẫn các nhà báo nghiêm túc thường rơi vào những khái quát nông cạn và thô thiển khi nói về những thiếu sót của các tôn giáo, và thường chứng tỏ là không có khả năng nhận ra rằng không phải tất cả các tín hữu - hay các nhà lãnh đạo tôn giáo - đều như nhau. Một số chính trị gia lạm dụng sự nhầm lẫn này để biện minh cho những hành động kỳ thị của họ. Những lần khác, họ tỏ ra khinh miệt những tác phẩm phản ảnh những xác tín tôn giáo và bỏ qua sự kiện là các tác phẩm kinh điển tôn giáo có thể chứng tỏ là có ý nghĩa ở mỗi thời đại; những tác phẩm này có một quyền năng bền bĩ để mở ra những chân trời mới, để kích thích tư tưởng, mở rộng tâm trí. Thái độ khinh thường này là do sự thiển cận của chủ nghĩa duy lý. Có hợp lý và sáng suốt không khi thải hồi một số tác phẩm đơn giản vì chúng xuất hiện trong bối cảnh của niềm tin tôn giáo? Những tác phẩm này đưa vào những nguyên tắc nhân văn sâu sắc, và dù chịu tác động nhẹ bởi những biểu tượng và những gíao huấn tôn giáo, chúng có giá trị nào đó cho lý trí.

257. Với tư cách là những người tin, chúng ta cũng cảm thấy gần gũi với những người không nhận mình thuộc vào bất kỳ truyền thống tôn giáo nào, nhưng chân thành tìm kiếm chân, thiện, mỹ mà chúng ta tin đó là biểu thức và nguồn suối cao nhất của chúng nơi Thiên Chúa. Chúng ta coi họ là những đồng minh quý báu trong việc dấn thân bảo vệ nhân quyền, trong việc vun đắp cuộc chung sống hoà bình giữa các dân tộc và trong việc bảo vệ công trình sáng tạo. Một chỗ gặp gỡ đặc biệt là Aeropagus mới được đề nghị là "Sân của dân ngoại", trong đó "những người tin cũng như những người không tin có thể tham gia vào cuộc đối thoại về những vấn đề cơ bản của đạo đức, nghệ thuật và khoa học, cũng như về việc tìm kiếm sự siêu việt". [204] Ðây cũng là một con đường hòa bình trong thế giới phiền phức của chúng ta.

258. Khởi đi từ một số vấn đề xã hội có một tầm quan trọng lớn lao đối với tương lai của nhân loại, tôi đã cố gắng làm rõ một lần nữa chiều kích xã hội không thể tránh được của sứ điệp Tin Mừng và khuyến khích mọi Kitô hữu chứng minh sứ điệp này bằng lời nói, thái độ và việc làm của họ.

 

Chương 5

Những Người Loan Báo Tin Mừng

Ðầy Thánh Thần

 

259. Những người loan báo Tin Mừng đầy Thánh Thần có nghĩa là những nhà truyền giáo mở lòng ra với tác động của Chúa Thánh Thần mà không hề sợ hãi. Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã làm cho các Tông Ðồ ra khỏi chính mình và biến các ngài thành những người loan báo những kỳ công của Thiên Chúa, có khả năng nói với mỗi thính giả bằng tiếng bản xứ của mình. Chúa Thánh Thần cũng ban dũng khí để công bố cách mạnh mẻ sự mới mẻ của Tin Mừng vào mọi thời và mọi nơi, thậm chí khi sứ điệp này vấp phải sự chống đối. Ngày nay chúng ta hãy cầu khẩn Chúa Thánh Thần cho chúng ta được cắm rễ vững chắc trong lời cầu nguyện, vì nếu không cầu nguyện, mọi hoạt động của chúng ta có nguy cơ không sinh hoa trái và sứ điệp của chúng ta trống rỗng. Chúa Giêsu muốn chúng ta loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời nói, nhưng trên hết, bằng một cuộc sống được sự hiện diện của Thiên Chúa biến đổi.

260. Trong chương cuối cùng này, tôi không có ý định đưa ra một tổng hợp linh đạo Ki-tô giáo, hay khảo sát tỉ mỉ những chủ đề lớn như cầu nguyện, tôn thờ Thánh Thể hoặc cử hành đức tin trong phụng vụ. Ðối với tất cả những điều này, chúng ta đã có những bản văn Huấn Quyền có giá trị và những tác phẩm nổi tiếng của các tác giả thời danh. Tôi không đòi hỏi thay thế hoặc vượt qua những kho báu này. Tôi chỉ mong muốn đưa ra một số suy nghĩ về tinh thần của công cuộc Tân Phúc Âm Hóa.

261. Hễ khi nào chúng ta rằng nói một điều gì "được linh hứng", thì điều đó thường quy chiếu đến một niềm phấn chấn nội tại đem lại niềm khích lệ, động lực, sự nuôi dưỡng và ý nghĩa cho lãnh vực hoạt động cá nhân và cộng đồng. Công cuộc Phúc Âm Hóa đầy thần khí không giống như một tập hợp các nhiệm vụ mà chúng ta có bổn phận phải thực hiện bất chấp những xu hướng và ước muốn của chúng ta. Tôi mong ước biết bao được tìm thấy những ngôn từ chính xác để khuấy động niềm say mê cho một chương mới của công cuộc Phúc Âm Hóa bừng cháy ngọn lửa nhiệt thành, niềm vui chan chứa, tấm lòng rộng mở, tinh thần dũng cảm, tình yêu vô bờ và sức hấp dẫn khôn nguôi! Nhưng tôi biết rằng không có ngôn từ nào có đủ khả năng khuấy động niềm say mê như thế nếu ngọn lửa của Chúa Thánh Thần không bừng cháy trong lòng chúng ta. Công cuộc Phúc Âm Hóa đầy tràn thần khí là công việc được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, vì Ngài là linh hồn của Giáo Hội được mời gọi công bố Tin Mừng. Trước khi đưa ra một số động lực và đề nghị tâm linh, một lần nữa tôi cầu khẩn Chúa Thánh Thần, tôi cầu xin Ngài đến để canh tân Giáo Hội, khuấy động và thôi thúc Giáo Hội mạnh dạn ra đi để loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc.

 

I. Những Lý Do Cho Niềm Hưng Phấn Truyền Giáo Mới

262. Những người loan báo Tin Mừng đầy Chúa Thánh Thần là những nhà truyền giáo vừa cầu nguyện vừa hoạt động. Những khái niệm thần bí mà không có một vươn mình mạnh mẻ ra ngoài xã hội để truyền giáo thì chẳng có ích gì cho công cuộc Phúc Âm Hóa, chẳng khác gì những tiểu luận hay những thực hành xã hội và mục vụ mà không có một linh đạo có sức biến đổi tâm hồn. Những đề nghị đơn phương và thiếu sót này chỉ đạt đến một vài nhóm người và cho thấy không có khả năng lan tỏa ra bên ngoài chúng bởi vì chúng cắt xén Tin Mừng. Ðiều cần thiết là khả năng bồi đắp một không gian nội tại có khả năng đem lại ý nghĩa Ki-tô giáo cho cuộc dấn thân và hoạt động. [205] Nếu không có những giờ phút lâu dài để tôn thờ, gặp gỡ Lời Chúa trong cầu nguyện, chân thành đối thoại với Chúa, thì công việc của chúng ta dể dàng mất hết ý nghĩa; chúng ta mất đi năng lực vì sự mệt mỏi hay vì những khó khăn, và ngọn lửa nhiệt thành của chúng ta bị dập tắt. Giáo Hội rất cần hơi thở sâu xa của cầu nguyện, và tôi rất vui mừng khi thấy rằng nhiều nhóm sốt sáng cầu nguyện và chuyển cầu, đọc Lời Chúa trong trong cầu nguyện và siêng năng tôn thờ Thánh Thể mỗi ngày mỗi lớn mạnh ở mọi bình diện đời sống của Giáo Hội. Dù vậy, "chúng ta phải loại bỏ chước cám dỗ là đưa ra một linh đạo riêng tư và cá nhân không phù hợp với những đòi hỏi của đức ái, không nói gì về những ám chỉ của nhập thể". [206] Luôn luôn có nguy cơ là một số giờ phút cầu nguyện có thể trở thành lời bào chữa để thoái thác dâng hiến cuộc đời vào sứ vụ; một lối sống riêng tư có thể dẫn các Kitô hữu đến việc ẩn náu vào một số hình thức linh đạo sai lầm.

263. Chúng ta nên nhớ đến những Ki-tô hữu tiên khởi và nhiều anh chị em của chúng ta suốt lịch sử, những người đầy tràn niềm vui, dũng khí và nhiệt tâm trong việc công bố Tin Mừng. Hiện nay, một số người tự an ủi mình khi nói rằng mọi việc không dể dàng như xưa kia, tuy nhiên chúng ta biết rằng đế quốc Rô-ma không có lợi gì cho sứ điệp Tin Mừng, hay đấu tranh cho công lý, hoặc bảo vệ nhân phẩm. Mỗi giai đoạn lịch sử được ghi dấu bởi sự hiện diện của sự yếu đuối, vụ lợi, tự mãn và vị kỷ của con người, và cuối cùng lòng ham muốn nhục dục giày vò tất cả chúng ta. Những sự việc này mãi mãi hiện diện dưới chiêu bài này hay chiêu bài khác; chúng đến từ những giới hạn của con người chứ không từ hoàn cảnh đặc thù. Vì thế, chúng ta không được nói rằng ngày nay mọi việc khó khăn hơn; chúng đơn giản là khác nhau. Chúng ta cũng hãy học hỏi từ các thánh, là những vị đã đi trước chúng ta và đã đương đầu với những khó khăn của thời đại các ngài. Thế nên, tôi đề nghị chúng ta tạm nghỉ một lát để tái khám phá ra một số lý do giúp chúng ta noi gương các ngài trong thời đại chúng ta. [207]

Cuộc gặp gỡ đích thân với tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu

264. Lý do tối thượng cho việc loan báo Tin Mừng là tình yêu của Ðức Giê-su mà chúng ta đã đón nhận, kinh nghiệm về ơn cứu độ thúc bách chúng ta yêu Người mỗi ngày mỗi hơn. Thử hỏi có loại tình yêu nào không cảm thấy nhu cầu phải nói về người mình yêu, lưu ý đến người ấy, cho người khác biết đến người ấy không? Nếu chúng ta không cảm thấy một ước muốn mãnh liệt để chia sẻ tình yêu này, chúng ta cần phải tha thiết cầu xin Người chạm đến con tim của mình một lần nữa. Chúng ta cần phải cầu xin ân sủng của Người hằng ngày, xin Người mở rộng con tim giá lạnh của mình và lay động cuộc sống lãnh đạm và nông cạn của mình. Hãy đặt mình trước mặt Người với một tấm lòng rộng mở, hãy để cho Người ngắm nhìn mình, chúng ta thấy ánh mắt chan chứa tình yêu của Người mà Na-tha-na-en đã thoáng thấy vào ngày Chúa Giê-su nói với ông: "Lúc anh đang ỏ dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi" (Ga 1: 48). Thật tốt lành biết bao khi đứng trước Thánh Giá, hoặc quỳ gối trước Thánh Thể, và chỉ là được ở trong sự hiện diện của Người! Tốt lành biết mấy cho chúng ta khi Người một lần nữa chạm đến cuộc đời chúng ta và thúc đẩy chúng ta chia sẻ sự sống mới của Người! Cái gì xảy ra sau đó chính là "Ðiều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo" (1Ga 1: 3). Sự động viên tốt nhất để chia sẻ Tin Mừng đến từ chiêm niệm Tin Mừng với tình yêu, trầm tư trên những trang sách Tin Mừng và đọc Tin Mừng bằng tấm lòng của mình. Nếu chúng ta tiếp cận Tin Mừng theo cách này, vẻ đẹp Tin Mừng khiến chúng ta phải kinh ngạc và thường hằng làm cho chúng ta phải phấn chấn. Nhưng nếu điều này đổi hướng, chúng ta cần phải khôi phục tinh thần chiêm niệm, là điều giúp chúng ta nhận ra mỗi ngày mỗi mới rằng chúng ta đã được ủy thác một báu vật, báu vật này làm cho chúng ta nhân bản hơn và giúp chúng ta sống cuộc đời mới. Không có gì quý giá hơn mà chúng ta có thể ban tặng cho người khác.

265. Toàn thể cuộc sống của Chúa Giêsu: cách thế Người giao du với người nghèo, những hành động của Người, sự quang minh chính trực của Người, những hành vi giản dị hằng ngày đầy lòng quảng đại của Người, và cuối cùng cuộc tận hiến của Người, thật là quý báu để biểu lộ mầu nhiệm cuộc sống thần linh của Người. Khi nào chúng ta gặp lại điều này, chúng ta được thuyết phục rằng đây đúng là điều mà những người khác cần, thậm chí dù họ không nhận biết điều này: "Ðấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị" (Cv 17: 23). Ðôi khi lòng nhiệt thành của chúng ta dành cho sứ vụ trở nên nguội lạnh bởi vì chúng ta quên rằng Tin Mừng đáp ứng những nhu cầu sâu xa nhất của mình, vì chúng ta đã được tạo ra cho những gì Tin Mừng cung hiến cho mình: tình bằng hữu với Chúa Giê-su và lòng yêu thương anh chị em chúng ta. Nếu chúng ta thành công trong việc diễn tả cách thích đáng và có nghệ thuật nội dung cốt yếu của Tin Mừng, sứ điệp ấy chắc chắn sẽ nói đến những khao khát tận đáy lòng của dân chúng: "Nhà truyền giáo xác tín rằng, nơi cá nhân cũng như nơi các dân tộc, nhờ Chúa Thánh Thần hoạt động, đã có sẵn một thái độ mong chờ, cho dù tiệm tiến, nhận biết sự thật về Thiên Chúa, về con người, con đường dẫn đến việc giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Lòng nhiệt thành loan báo Ðức Ki-tô phát xuất từ việc người ta đáp lại sự mong chờ đó một cách xác tín". [208] Lòng nhiệt thành cho công cuộc Phúc Âm Hóa dựa trên niềm xác tín này. Chúng ta có một báu vật đầy tràn sức sống và tình yêu đến như thế nên sứ điệp này không thể lừa dối chúng ta được và không thể làm cho chúng ta lầm đường lạc lối cũng như gây thất vọng cho chúng ta được. Nó thấu suốt tận đáy lòng chúng ta, nâng đỡ chúng ta và làm cho chúng ta trở nên cao quý. Ðó là chân lý không bao giờ lỗi thời bởi vì nó thâm nhập chúng ta cho đến tận những nơi mà không một điều gì khác có thể đến được. Nỗi buồn vô hạn của chúng ta chỉ có thể được chữa lành bằng một tình yêu vô hạn.

266. Tuy nhiên, niềm xác tín này phải được nâng đỡ bằng kinh nghiệm thường hằng đổi mới của chính chúng ta để tận hưởng tình bằng hữu của Chúa Giê-su và sứ điệp của Người. Chúng ta không thể giữ vững lòng nhiệt thành truyền giáo nếu chúng ta không được thuyết phục từ kinh nghiệm riêng của mình rằng đã biết Chúa Giê-su không giống như chưa biết Người, bước đi với Người không giống như bước đi một cách mù quáng, nghe Lời Người không giống như biết Lời Người, chiêm ngắm Người, thờ phượng Người, gặp thấy bình an ở nơi Người không giống như không làm những điều ấy. Cố gắng xây dựng thế giới với Tin Mừng của Người không giống như cố gắng làm như vậy bởi ánh sáng của riêng mình. Chúng ta biết rõ rằng với Chúa Giêsu cuộc đời trở nên phong phú hơn và với Người chúng ta dể dàng gặp thấy ý nghĩa ở nơi mọi sự hơn. Ðó là lý do tại sao chúng ta loan báo Tin Mừng. Một nhà truyền giáo đích thực không bao giờ ngừng là môn đệ, người ấy biết rằng Chúa Giêsu đồng hành với mình, cùng nói, cùng thở, cùng làm việc với mình. Người ấy cảm thấy Chúa Giêsu đang sống với mình ở giữa sứ vụ truyền giáo. Nếu chúng ta không thấy Người hiện diện ở trung tâm cuộc dấn thân truyền giáo của chúng ta, lòng nhiệt thành của chúng ta sớm suy yếu và chúng ta không còn chắc chắn về điều mình thông truyền, chúng ta thiếu nghị lực và niềm say mê. Người nào không xác tín, không nhiệt tình, không chắc chắn vào tình yêu, người ấy sẽ không thuyết phục bất kỳ ai.

267. Hiệp nhất với Chúa Giêsu, chúng ta tìm kiếm những gì Người tìm kiếm và chúng ta yêu mến những gì Người yêu mến. Cuối cùng, điều chúng ta đang tìm kiếm là vinh quang của Chúa Cha, chúng ta sống và hành động "để ta ngợi khen ân sủng rạng ngời của Ngài" (Ep 1: 6). Nếu chúng ta muốn dấn thân cách trọn vẹn và kiên định, chúng ta cần phải bỏ lại đằng sau mọi động lực khác. Ðây là động lực dứt khoát, sâu sắc nhất, cao cả nhất của chúng ta, là lý do và ý nghĩa tối hậu mà chúng ta bỏ lại tất cả đằng sau. Ðó chính là vinh quang của Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã tìm kiếm ở mỗi giây phút của cuộc đời mình. Với tư cách là Con, Người muôn đời vui thích là "ở nơi cung lòng Chúa Cha" (Ga 1: 18). Nếu chúng ta là những nhà truyền giáo, chủ yếu vì Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: "Ðiều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ Thầy" (Ga 15: 8). Vượt trên tất cả những ưu tiên và những lợi ích riêng của mình, sự hiểu biết và những động lực của mình, chúng ta loan báo Tin Mừng vì vinh quang cao cả của Chúa Cha, Ðấng yêu thương chúng ta.

Hương vị tinh thần là một dân

268. Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta nhận ra rằng chúng ta là một dân: "Xưa kia anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa" (1Pr 2: 10). Ðể là những nhà truyền giáo đích thật, chúng ta cần phải phát triển sở thích tinh thần là gần gũi với đời sống của dân chúng và phát hiện rằng điều này tự nó là nguồn vui cao cả hơn. Sứ mạng là niềm say mê Chúa Giêsu, đồng thời là niềm say mê dân Người. Khi chúng ta đứng trước Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta thấy chiều sâu tình yêu của Người, điều này nâng cao chúng ta và nâng đỡ chúng ta, nhưng đồng thời, trừ khi chúng ta bị mù, chúng ta bắt đầu nhận thức rằng ánh mắt của Chúa Giê-su, bừng sáng tình yêu, trải rộng ra để ôm trọn tất cả dân của Người vào vòng tay yêu thương của Người. Chúng ta lại nhận ra rằng Người muốn dùng chúng ta để xích lại gần hơn với dân yêu quý của Người. Người chọn chúng ta từ giữa dân Người và sai chúng ta đến với dân của Người; nếu không có cảm thức thuộc về này, chúng ta không thể hiểu được căn tính sâu xa nhất của mình.

269. Chính Chúa Giêsu là kiểu mẫu của phương pháp loan báo Tin Mừng này, là đưa chúng ta đến tận trung tâm của dân Người. Thật thiện hảo biết bao khi chúng ta chiêm ngắm sự gần gũi thân thiết mà Người bày tỏ với mọi người! Nếu Người nói chuyện với ai đó, Người nhìn vào mắt người ấy với ánh mắt ân cần trìu mến: "Ðức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến" (Mc 10: 21). Chúng ta thấy Chúa là Ðấng có thể đến gần như thế nào khi Người lôi kéo anh mù càng lúc càng gần hơn với Người (x. Mc 10: 46-52) và Người đồng bàn với những kẻ tội lỗi (x. Mc 2: 16), mà chẳng bận tâm gì đến việc thiên hạ coi Người là tay ăn nhậu là bạn bè với quân tội lỗi (x. Mt 11: 19). Chúng ta thấy độ nhạy bén của Người khi cho phép một người phụ nữ tội lỗi xức dầu thơm trên chân của Người (x. Lc 7: 36-50), và khi tiếp ông Nicôđêmô vào ban đêm (Ga 3: 1-15). Sự tự hiến của Chúa Giêsu trên thập giá không gì khác hơn là tột đỉnh của cách thế Người đã sống toàn thể cuộc sống của Người. Xúc động bởi mẫu gương của Người, chúng ta muốn hội nhập cách trọn vẹn vào cơ cấu của xã hội, chia sẻ cuộc sống của tất cả mọi người, lắng nghe những nỗi bận lòng của họ, giúp đỡ họ cả về vật chất lẫn tinh thần trong những nhu cầu của họ, vui với người vui, khóc với người khóc; cùng chung tay với những người khác, chúng ta dấn thân vào việc xây dựng một thế giới mới. Nhưng chúng ta làm như thế không từ một cảm thức về bổn phận, không như một nghĩa vụ nặng nề mà là kết quả của một quyết định cá nhân đem lại niềm vui cho chúng ta và ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta.

270. Ðôi khi chúng ta bị cám dỗ trở nên loại người Ki-tô hữu chỉ biết giữ những vết thương của Chúa ở ngoài vòng tay của mình. Tuy nhiên, Chúa Giê-su muốn chúng ta chạm vào nỗi khốn khổ của con người, chạm vào da thịt đau khổ của những người khác. Người hy vọng rằng chúng ta thôi tìm kiếm những nơi trú ẩn cá nhân hay cộng đồng, là những nơi che chắn chúng ta tránh khỏi tình trạng hỗn loạn của những thảm cảnh con người, thay vì hội nhập vào thực tại cuộc sống của những người khác và biết quyền năng của tấm lòng nhân hậu. Hễ khi nào chúng ta làm như thế, đời sống của chúng ta trở nên phức tạp một cách kỳ diệu và chúng ta trải nghiệm một cách mãnh liệt điều gì là một dân và điều gì là phần tử của một dân.

271. Thật sự là trong những mối quan hệ của chúng ta với thế giới, chúng ta được yêu cầu đưa ra những lý do cho niềm hy vọng của mình, nhưng không như kẻ thù bằng những lời chỉ trích và lên án. Chúng ta được yêu cầu khá rõ ràng: "Phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng" (1Pr 3: 16), và "Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hòa thuận với mọi người" (Rm12: 18). Chúng ta cũng được bảo "Hãy lấy thiện mà thắng ác" (Rm 12: 21) và "Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí" (Gl 6: 9). Thay vì cố tỏ ra tốt hơn người khác, chúng ta "Hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình" (Phl 2: 3). Chính các Tông Ðồ của Chúa "được toàn dân thương mến" (Cv 2: 47, x. 4: 21, 33; 5: 13). Rõ ràng Chúa Giêsu không muốn chúng ta là những kẻ quyền cao chức trọng xem thường người khác, nhưng những người nam người nữ của dân chúng. Ðây không phải là ý kiến ##của vị Giáo Hoàng, hay một chọn lựa mục vụ trong số những chọn lựa khác; chúng là những lệnh truyền được chứa đựng trong Lời Chúa rất rõ ràng, trực tiếp và có sức thuyết phục đến nỗi chúng không cần bất kỳ lời giải thích nào vì sợ làm giảm bớt sức mạnh thách đố của chúng. Chúng ta hãy sống chúng "sine glossa", mà không cần chú giải. Bằng cách này, chúng ta sẽ biết niềm vui của nhà truyền giáo là chia sẻ cuộc sống với những người trung thành của Thiên Chúa trong khi chúng ta nỗ lực đốt lên ngọn lửa ở lòng thế giới.

272. Yêu người là sức mạnh tâm linh lối kéo chúng ta đến hiệp thông với Thiên Chúa; quả thật, ai không yêu người thì "đi trong bóng tối" (1Ga 2: 11), "ở lại trong sự chết" (1Ga 3: 14) và "không biết Thiên Chúa" (1Ga 4: 8). Ðức Bê-nê-đic-tô XVI đã nói rằng "nhắm mắt trước những người lân cận của chúng ta cũng làm cho chúng ta ra mù lòa không gặp được Thiên Chúa" [209] và cuối cùng tình yêu là ánh sáng duy nhất "sẽ làm cho một thế giới đen tối được sáng trở lại và ban cho chúng ta dũng khí cần thiết để tiếp tục sống và hành động". [210] Vì vậy, khi chúng ta sống nền linh đạo thân cận với người khác và tìm kiếm phúc lợi cho họ, chúng ta mở rộng lòng mình cho những ân ban lớn nhất và đẹp nhất của Chúa. Hễ khi nào chúng ta gặp gỡ người khác trong tình yêu, chúng ta học được điều gì đó mới về Thiên Chúa. Hễ khi nào chúng ta mở to đôi mắt để nhận ra người khác, chúng ta lớn lên trong ánh sáng đức tin và sự hiểu biết về Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn tiến bước trong đời sống tâm linh, vì thế, chúng ta phải thường hằng là những nhà truyền giáo. Công việc Phúc Âm Hóa phong phú hóa khối óc và con tim; nó mở rộng những chân trời tâm linh; nó làm cho chúng ta càng ngày càng nhạy bén hơn với những hoạt động của Chúa Thánh Thần, và nó đưa chúng ta vượt qua những mô thức tâm linh hữu hạn của chúng ta. Một nhà truyền giáo dấn thân biết niềm vui vì mình là nguồn nước phun trào và làm tươi mát người khác. Chỉ người nào cảm thấy hạnh phúc khi tìm kiếm điều thiện hảo cho người khác, ước muốn hạnh phúc cho người khác, người ấy mới có thể là một nhà truyền giáo. Tấm lòng rộng mở như vậy là nguồn hạnh phúc, bởi vì "cho đi thì có phúc hơn nhận" (Cv 20: 35). Chúng ta không sống tốt hơn khi chúng ta trốn chạy, ẩn núp, từ chối chia sẻ, không chịu cho đi và đóng kín mình trong cuộc sống thoải mái của mình. Một cuộc đời như vậy chẳng khác gì một việc tự vận từ từ.

273. Sứ vụ ở giữa lòng dân chúng không phải là một phần đời sống của tôi hay một huy hiệu mà tôi có thể tháo bỏ; sứ vụ này không phải là một "vai phụ" hay là một thời gian phụ trội trong cuộc đời. Trái lại, sứ vụ là điều gì đó tôi không thể nhổ tận gốc rễ khỏi con người của tôi mà không hủy diệt chính bản thân mình. Tôi là một sứ vụ trên thế gian này; đó là lý do tại sao tôi có mặt ở đây trong thế gian này. Tôi phải đánh giá mình là được đóng ấn, thậm chí được đóng dấu bằng sắt nung nóng, qua sứ vụ đem ánh sáng, ban phúc, làm sinh động, nuôi dưỡng, chữa lành và giải phóng. Chung quanh mình, chúng ta bắt đầu thấy các y tá có tấm lòng, các thầy giáo có tấm lòng, các chính trị gia có tấm lòng, là những người đã quyết tâm sống với người khác và cho người khác. Tuy nhiên, chỉ một lần chúng ta phân biệt sứ vụ của mình với cuộc sống riêng tư của mình, thì tất cả mọi sự sẽ trở nên buồn tẻ và chúng ta sẽ luôn luôn tìm kiếm danh vọng hoặc khẳng định những nhu cầu của mình. Chúng ta không còn là một dân nữa.

274. Nếu chúng ta có ý định chia sẻ cuộc sống của mình với người khác và hiến thân một cách quảng đại, chúng ta cũng phải nhận ra rằng mỗi người đều đáng cho chúng ta hiến thân. Không phải vì dáng vẻ bề ngoài của họ, khả năng của họ, ngôn ngữ của họ, cách tư duy của họ hoặc vì bất kỳ sự thỏa mãn nào mà chúng ta có thể nhận được, nhưng đúng hơn vì họ là một tác phẩm do bàn tay Thiên Chúa làm ra, là thụ tạo của Ngài. Ngài đã tạo dựng người ấy theo hình ảnh của Ngài, và người ấy phản ảnh điều gì đó về vinh quang của Ngài. Mỗi con người là đối tượng của tấm lòng nhân hậu vô hạn của Thiên Chúa, và Ngài đích thân hiện diện trong cuộc sống của họ. Ðức Giêsu đã dâng hiến bửu huyết của Người trên Thánh Giá cho người ấy. Bất kể dáng vẻ bề ngoài như thế nào, mỗi người đều vô cùng thánh thiêng và đáng được chúng ta yêu thương. Do đó, nếu tôi có thể giúp ít ra một người có một cuộc sống tốt hơn, điều đó thôi cũng đủ để biện minh hiến lễ của cuộc đời tôi. Chính là một điều kỳ diệu để là dân trung thành của Thiên Chúa. Và chúng ta đạt được sự viên mãn khi chúng ta phá đổ các bức tường và tấm lòng của chúng ta đầy ắp những gương mặt và những tên của họ!

Công trình mầu nhiệm của Chúa Ki-tô Phục Sinh và Thánh Thần của Người

275. Trong chương hai, chúng ta đã suy nghĩ về việc thiếu nền linh đạo sâu xa, điều này khiến con người bi quan, tin vào số mệnh và mất niềm tin. Một số người không dấn thân vào sứ vụ bởi vì họ nghĩ rằng chẳng có gì sẽ thay đổi và phấn đấu chẳng có tác dụng gì. Họ nghĩ như thế này: "Tại sao tôi phải từ bỏ bản thân của tôi, những tiện nghi và những thú vui của tôi, nếu tôi không nhìn thấy một kết quả có ý nghĩa nào?". Với thái độ này, chúng ta không thể là những nhà truyền giáo được. Thái độ này chỉ là cái cớ hiểm độc để biện minh cho việc mình vẫn còn bị vướng mắc vào sự thoải mái, sự lười biếng, sự bất mãn mơ hồ và tính vị kỷ trống rỗng. Nó là một thái độ tự hủy vì "con người không thể sống mà không có hy vọng: đời sống sẽ trở nên vô nghĩa và không thể chịu đựng nổi". [211] Nếu chúng ta nghĩ rằng mọi sự sẽ chẳng có gì thay đổi, chúng ta hãy nhớ rằng Ðức Giê-su Ki-tô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết và hiện nay là Ðấng toàn năng. Ðức Giêsu Kitô thật sự đang sống. Hãy đặt cách khác, "nếu Ðức Ki-tô đã không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng" (1Cr 15: 14). Tin Mừng nói với chúng ta rằng khi các môn đệ tiên khởi ra đi rao giảng, "Chúa cùng hoạt động với các ông và xác nhận lời rao giảng của các ông" (Mc 16: 20). Ngày nay cũng xảy ra như thế. Chúng ta được mời gọi phát hiện điều này và trải nghiệm điều này. Ðức Kitô Phục Sinh và vinh quang là nguồn hy vọng của chúng ta, và Người sẽ không lấy đi khỏi chúng ta ơn phù trợ mà chúng ta cần để thực thi sứ vụ mà Người đã ủy thác cho chúng ta.

276. Cuộc Phục Sinh của Chúa Ki-tô không phải là một biến cố của thời dĩ vãng; nó chứa đựng một sức sống đã thấm nhập vào thế giới này. Ở đâu mọi sự dường như đã chết, ở đó những dấu chỉ của sự phục sinh đột nhiên trào dâng. Nó là một sức mạnh bất khả kháng. Ðôi khi dường như Thiên Chúa không hiện hữu: chung quanh mình, chúng ta thấy bất công, gian ác, lãnh đạm và tàn nhẫn không hề thuyên giảm. Nhưng thật ra, ở giữa lòng bóng tối, điều gì mới luôn luôn trào dâng sức sống và sớm hay muộn sản sinh hoa trái. Trên vùng đất trơ trụi, sự sống nẩy mầm, một cách bướng bỉnh nhưng bất khả thắng. Dù mọi việc tăm tối đến mức nào, điều thiện luôn luôn lại nẩy sinh và lan tỏa. Mỗi ngày trên thế giới, vẻ đẹp của thế giới chúng ta được tái sinh, nó vươn mình lên thay hình đổi dạng qua những phong ba bảo tố của lịch sử. Các giá trị luôn luôn có khuynh hướng tái xuất hiện dưới những bộ dạng mới, và thực ra nhân loại được tái sinh lần này đến lần khác từ những hoàn cảnh tưởng chừng như bị hủy diệt. Ðây là quyền năng phục sinh và tất cả những ai loan báo Tin Mừng đều là khí cụ của quyền năng ấy.

277. Ðồng thời, những khó khăn mới thường hằng xuất đầu lộ diện; những kinh nghiệm về sự thất bại và những yếu đuối của con người đem lại quá nhiều nỗi khổ đau. Tất cả chúng ta đều biết từ kinh nghiệm rằng đôi khi một nhiệm vụ không đem lại sự thỏa mãn mà chúng ta kiếm tìm, những thành quả thì thưa thớt, còn những thay đổi thì chậm chạp, và chúng ta bị cám dỗ trở nên mệt mỏi. Tuy nhiên, những người hạ đôi tay xuống trong chốc lát vì sự mệt mõi không giống như những người hạ đôi tay xuống vì buông xuôi không làm điều thiện nữa, chứng bất mãn kinh niên đã chế ngự họ và sự thiếu nghị lực làm cho tâm hồn của họ khô héo. Cũng xảy ra là tâm hồn của chúng ta không còn muốn đấu tranh nữa bởi vì cuối cùng chúng ta quá lo lắng đến bản thân mình, đến thói ham danh hám lợi như khao khát được người khác biết đến, được ca tụng, được tưởng thưởng và có địa vị. Trong trường hợp này, chúng ta không hạ đôi tay xuống vì buông xuôi, nhưng chúng ta không còn hiểu những gì chúng ta tìm kiếm, sự phục sinh không ở đó. Trong những trường hợp tương tự như thế, Tin Mừng, dù là sứ điệp đẹp nhất mà thế giới này có thể dâng hiến, cũng bị chôn vùi dưới một đống của những lời bào chữa.

278. Ðức tin cũng có nghĩa là tin vào Thiên Chúa, tin rằng Ngài thực sự yêu thương chúng ta, tin rằng Ngài hằng sống, tin rằng Ngài có thể can thiệp một cách mầu nhiệm, tin rằng Ngài không bỏ rơi chúng ta và tin rằng Ngài có thể rút ra sự tốt lành từ sự dữ bởi quyền năng sáng tạo vô biên của Ngài. Ðức tin có nghĩa tin rằng Ngài khải hoàn bước đi trong lịch sử với "những kẻ được kêu gọi, được tuyển chọn và luôn trung thành" (Kh 17: 14). Chúng ta hãy tin Tin Mừng khi Tin Mừng nói với chúng ta rằng Nước Thiên Chúa hiện diện trong thế gian này rồi và mỗi ngày mỗi tăng trưởng ở đây và ở đó, bằng nhiều cách khác nhau: như hạt cải nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống mọc lên thành một cây lớn (x. Mt 13: 31-32), như nắm men làm dậy men cả một đống bột (x. Mt 13: 33) và như hạt giống mọc lên ở giữa cỏ dại (x. Mt 13: 24-30), và có thể luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên thích thú. Nước Thiên Chúa đang hiện diện ở đây, sẽ trở lại và phấn đấu để lại đơm bông kết trái. Sự Phục Sinh của Ðức Ki-tô ở khắp nơi kêu gọi những hạt giống cho thế giới mới đó; và thậm chí nếu chúng có bị cắt tỉa, chúng cũng sẽ mọc lại, vì sự Phục Sinh của Chúa được âm thầm dệt thành cơ cấu của lịch sử này rồi, bởi vì Chúa Giê-su đã không sống lại một cách vô ích. Chớ gì chúng ta đừng ở bên lề cuộc hành trình chan chứa niềm hy vọng sống động này!

279. Vì chúng ta không luôn luôn nhìn thấy những hạt giống đang tăng trưởng này, nên chúng ta cần một sự chắc chắn nội tâm, một niềm xác tín rằng Thiên Chúa có thể hoạt động ở mọi hoàn cảnh, ngay cả giữa những cản trở hiện hình, bởi vì "những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành" (2Cr 4: 7). Sự chắc chắn này thường được gọi là "một cảm thức về mầu nhiệm". Cảm thức này cần phải biết một cách chắc chắn rằng tất cả những ai phó thác vào Thiên Chúa trong tình yêu, nhất định sẽ sinh nhiều hoa trái (x. Ga 15, 5). Khả năng đơm bông kết trái này thường là vô hình, khó nắm bắt và không thể đong đếm được. Chúng ta có thể biết khá rõ rằng cuộc sống của mình sẽ đơm bông kết trái, mà không cần phải biết bằng cách nào, hay ở đâu, hay khi nào. Chúng ta có thể chắc chắn rằng không một hành vi nào chúng ta làm vì yêu thương, hay không một hành vi nào chúng ta làm vì chân thành quan tâm đến người khác, sẽ bị mất đi cả. Không bất kỳ một hành vi nào chúng ta làm vì lòng mến Thiên Chúa sẽ bị mất đi cả, không một nổ lực nào chúng ta làm với tấm lòng quảng đại là vô nghĩa cả, không một đau khổ nào mà chúng ta phải chịu đựng là lãng phí cả. Tất cả những điều này bao bọc chung quanh thế giới của chúng ta như một sức mạnh cần cho sự sống. Ðôi khi dường như công việc của chúng ta không sinh hoa trái, nhưng sứ vụ thì không giống một vụ giao dịch hay một cuộc đầu tư buôn bán, hay thậm chí một lãnh vực hoạt động nhân đạo. Sứ vụ không phải là một buổi trình diễn ở đó chúng ta tính được bao nhiêu người tham dự nhờ chiến dịch quảng cáo của chúng ta; sứ vụ là một điều gì đó còn sâu xa hơn nhiều, vượt ra ngoài tất cả cân, đo, đếm. Sứ vụ có thể là rằng Chúa sử dụng những hy sinh của chúng ta để tuôn đổ muôn phúc lành xuống một nơi nào khác trên thế giới mà chúng ta chưa bao giờ viếng thăm. Chúa Thánh Thần hoạt động như Ngài muốn, khi Ngài muốn và nơi Ngài muốn; chúng ta phó thác mà không cần phải thấy những kết quả tỏ tường. Chúng ta chỉ biết rằng việc chúng ta dấn thân là điều cần thiết. Chúng ta hãy học biết nghỉ ngơi trong vòng tay trìu mến của Chúa Cha, giữa cuộc dấn thân sáng tạo và quảng đại của mình. Chúng ta hãy tiếp tục tiến bước; chúng ta hãy dâng hiến mọi sự cho Ngài, cho phép Ngài làm cho những nỗ lực của chúng ta sinh hoa kết quả vào lúc thuận tiện mà Ngài biết.

280. Ðể duy trì lòng nhiệt thành truyền giáo, phải có một niềm tin cậy vững vàng vào Chúa Thánh Thần, vì chính Ngài "giúp đỡ chúng ta là là những kẻ yếu hèn" (Rm 8: 26). Nhưng niềm tin cậy quảng đại này phải được nuôi dưỡng, vì thế chúng ta phải thường hằng khẩn cầu Ngài. Chúa Thánh Thần có thể chữa lành tất cả những gì làm cho nổ lực truyền giáo của chúng ta suy giảm. Thật ra niềm tin cậy này vào Ðấng vô hình có thể làm cho chúng ta cảm thấy mất phương hướng: giống như một người lao mình xuống vực thẳm mà không biết mình sẽ gặp phải những gì. Tự bản thân tôi đã thường kinh qua điều này. Tuy nhiên, không có sự tự do nào lớn hơn là để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình. Thay vì tự mình hoạch định kế hoạch và kiểm soát tất cả mọi sự cho đến chi tiết cuối cùng, chúng ta hãy để cho Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn và định hướng cho chúng ta, cứ để Ngài dẫn đưa chúng ta đến nơi mà Ngài muốn. Chúa Thánh Thần biết rõ những gì chúng ta cần ở mọi thời và ở mọi nơi. Ðây là điều được gọi là sinh hoa trái cách huyền nhiệm!

Sức mạnh truyền giáo của việc chuyển cầu

281. Một hình thức cầu nguyện đặc biệt thúc đẩy chúng ta đảm nhận nhiệm vụ Phúc Âm Hóa và tìm kiếm điều tốt lành cho người khác chính là việc chuyển cầu. Chúng ta hãy chăm chú nhìn vào tấm lòng của thánh Phao-lô trong một ít phút để thấy lời cầu nguyện của thánh nhân như thế nào. Lời cầu nguyện này đầy ắp những người: "Tôi luôn luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh chị em hết thảy bởi vì tôi mang anh chị em trong lòng tôi" (Pl 1: 4, 7). Ở đây chúng ta thấy rằng việc chuyển cầu không khiến chúng ta xao lãng việc chiêm niệm đích thật, bởi vì chiêm niệm đích thật luôn luôn có chỗ cho người khác.

282. Thái độ này trở thành một cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa thay cho người khác: "Trước tiên, nhờ Ðức Giêsu Kitô, tôi tạ ơn Thiên Chúa của tôi về tất cả anh chị em" (Rm 1:8). Ðó là một lời cảm tạ thường hằng: "Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh chị em về ân huệ Ngài đã ban cho anh chị em nơi Ðức Giêsu Kitô" (1Cr 1: 4); "Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi mỗi lần nhớ đến anh chị em" (Pl 1: 3). Ðây không là thái độ hoài nghi, tiêu cực và vô vọng, nhưng là một cái nhìn tâm linh phát sinh từ đức tin sâu xa của người nhận biết những gì Thiên Chúa đang làm trong cuộc sống của người khác. Ðồng thời, đó là lòng biết ơn tuôn trào từ một tấm lòng của người biết quan tâm đến người khác. Bằng cách này, khi các nhà truyền giáo cầu nguyện xong, tấm lòng của họ rộng mở hơn, được giải thoát khỏi tính vị kỷ, ao ước làm điều thiện và chia sẻ cuộc sống mình với người khác.

283. Những bậc vĩ nhân của Thiên Chúa đã là những đấng cầu bầu vĩ đại. Việc chuyển cầu tựa như "nắm men" ở cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ðây là cách thế thâm nhập vào cung lòng Chúa Cha để phát hiện những chiều kích mới có thể giãi chiếu ánh sáng trên những hoàn cảnh cụ thể và thay đổi chúng. Chúng ta có thể nói rằng cung lòng của Thiên Chúa được lời chuyển cầu của chúng ta chạm đến, tuy nhiên thực ra Ngài luôn luôn là người đầu tiên ở đó rồi. Ðiều mà lời chuyển cầu của chúng ta thành tựu chính là làm cho quyền năng của Ngài, tình yêu của Ngài và lòng trung tín của Ngài được hiển lộ hơn mãi ở giữa dân Ngài.

 

II. Ðức Ma-ri-a, Mẹ Của Công Cuộc Phúc Âm Hóa

284. Với Chúa Thánh Thần, Ðức Ma-ri-a luôn luôn hiện diện giữa lòng dân Thiên Chúa. Mẹ đã tụ họp với các môn đệ để cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống (Cv 1: 14), và quả thật đã làm cho sự bùng nổ truyền giáo khả dĩ xảy ra vào ngày lễ Ngũ Tuần. Mẹ là Mẹ của Giáo Hội truyền giáo, nếu không có Mẹ chúng ta không bao giờ có thể thật sự hiểu được tinh thần của công cuộc Tân Phúc Âm Hóa.

Ân ban của Chúa Giêsu cho dân Người

285. Trên Thánh Giá, khi chịu đau khổ trong thân thể của chính Người ở đó xảy ra cuộc gặp gỡ bi thảm giữa tội lỗi của thế gian và lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giê-su có thể cảm thấy ở dưới chân của Người sự hiện diện an ủi của Mẹ Người và người bạn thân yêu của Người. Vào thời điểm chủ chốt đó, trước khi hoàn thành cách viên mãn công việc mà Chúa Cha đã trao phó cho Người, Chúa Giêsu thưa với Mẹ Người: "Thưa Bà, đây là con Bà!". Sau đó, Người nói với người bạn thân yêu của Người: "Này là Mẹ con!" (Ga 19: 26-27). Những lời này của Chúa Giêsu đang hấp hối chủ yếu không diễn tả tấm lòng tận tụy đối với Mẹ Người; đúng hơn là một biểu thức mặc khải nhằm tỏ lộ mầu nhiệm của một sứ vụ cứu độ đặc biệt. Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta Mẹ Người để là Mẹ của chúng ta. Chỉ sau khi làm thế, Chúa Giêsu biết rằng "mọi sự đã hoàn tất" (Ga 19: 28). Dưới chân Thánh Giá, vào thời điểm tuyệt mức của cuộc tạo dựng mới, Ðức Ki-tô dẫn chúng ta đến Ðức Ma-ri-a. Người đem chúng ta đến với Mẹ bởi vì Người không muốn chúng ta trên dặm đường lữ hành mà vắng bóng Mẹ, và chúng ta đọc thấy ở nơi hình ảnh người Mẹ này tất cả những mầu nhiệm Tin Mừng. Chúa không muốn rời Giáo Hội mà không có hình tượng người Phụ Nữ này. Mẹ đã đưa Chúa Giê-su vào trần thế bằng một đức tin vĩ đại, cũng đồng hành với "những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ lời chứng của Ðức Giê-su" (Kh 12: 17). Sự nối kết mật thiết giữa Ðức Ma-ri-a, Giáo Hội và mỗi tín hữu, dựa trên sự kiện là mỗi bên theo cách thế riêng của mình đã sinh hạ Ðức Ki-tô, đã được thánh Isaac đệ Stella diễn tả cách tuyệt mỹ như sau: "Trong Kinh Thánh được Thiên Chúa linh hứng, điều gì được nói theo nghĩa phổ quát về người mẹ trinh khiết, tức Giáo Hội, được hiểu theo nghĩa cá nhân về Ðức Trinh Nữ Maria...Ở một mức độ nào đó, người ta cũng tin rằng mỗi Ki-tô hữu là hiền thê của Lời Chúa, là mẹ của Ðức Ki-tô, là con gái và em gái của Người, đồng trinh và đồng thời đông con.... Ðức Kitô đã cư ngụ chín tháng trong nhà tạm của cung lòng Ðức Ma-ri-a. Người cư ngụ trong nhà tạm của đức tin Giáo Hội cho đến thời sau hết. Người cư ngụ mãi mãi trong sự hiểu biết và tình yêu của tâm hồn mỗi người tín hữu". [212]

286. Ðức Ma-ri-a đã có thể biến chuồng bò thành mái ấm cho Ðức Giê-su, với chiếc tã nghèo nàn và tình mẫu tử dư dật. Mẹ là nữ tỳ của Chúa Cha, Mẹ hát lên lời chúc tụng Ngài. Mẹ là người bạn luôn luôn quan tâm đến việc rượu không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Mẹ là người phụ nữ có trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu qua, Mẹ hiểu tất cả nỗi thống khổ của chúng ta. Với tư cách là Mẹ của mọi người, Mẹ là một dấu chỉ của niềm hy vọng cho các dân tộc đang trải qua những cơn đau đớn trong việc sinh hạ công lý. Mẹ là nhà truyền giáo đến gần chúng ta để đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc sống, mở lòng chúng ta ra với đức tin bằng tình mẫu tử của Mẹ. Với tư cách là người Mẹ thật, Mẹ bước đi bên cạnh chúng ta, Mẹ cùng chiến đấu với chúng ta, và thường hằng bao bọc chung quanh chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa. Qua nhiều tước hiệu của Mẹ, thường liên kết với những thánh địa của Mẹ, Ðức Ma-ri-a chia sẻ lịch sử của mỗi dân tộc đón nhận Tin Mừng và Mẹ dự phần vào căn tính lịch sử của họ. Nhiều cha mẹ Ki-tô giáo xin cho con cái được Rửa Tội tại thánh địa của Mẹ, như dấu chỉ biểu lộ niềm tin vào tình mẫu tử của Mẹ, tình mẫu tử này sinh ra những người con mới cho Thiên Chúa. Ở đó, trong nhiều thánh địa này, chúng ta có thể thấy cách thế Ðức Maria quy tụ con cái của Mẹ, những người nổ lực đến với Mẹ trong những chuyến hành hương để nhìn ngắm Mẹ và được Mẹ nhìn ngắm. Ở đây họ gặp thấy sức mạnh từ Thiên Chúa để chịu đựng sự mệt mõi và đau khổ trong cuộc sống của họ. Như đã làm với thánh Juan Diego, Mẹ ban cho họ sự an ủi và tình mẫu tử của Mẹ bằng những lời thì thầm bên tai họ: "Lòng các con đừng xao xuyến...Mẹ là Mẹ của các con, Mẹ không ở đây sao?" [213]

Ngôi sao của công cuộc Tân Phúc Âm Hóa

287. Chúng ta xin Mẹ của Tin Mừng sống động chuyển cầu cho chúng ta để toàn thể cộng đồng Giáo Hội chấp nhận lời mời gọi dấn thân vào một giai đoạn mới của công cuộc Phúc Âm Hóa. Mẹ là người nữ của đức tin, Mẹ sống và tiến bước trong đức tin, [214] và "cuộc hành trình đức tin phi thường của Mẹ tiêu biểu một sự đối chiếu liên tục cho Giáo Hội". [215] Mẹ để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt Mẹ qua cuộc hành trình đức tin, hướng về một vận mệnh phục vụ và sinh hoa trái. Ngày nay, chúng ta ngước mắt nhìn lên Mẹ để xin Mẹ giúp chúng ta công bố sứ điệp cứu độ cho mọi người và giúp các môn đệ mới đến phiên mình có khả năng trở thành những nhà truyền giáo. [216] Dọc theo cuộc hành trình của công cuộc Phúc Âm Hóa này, chúng ta sẽ có những thời điểm khô khan, đen tối và thậm chí mệt mỏi. Chính Ðức Ma-ri-a đã kinh qua như thế suốt những năm tháng thơ ấu của Ðức Giê-su ở làng quê Na-da-rét, như theo cách nói của thánh Gioan Thánh Giá: "Ðây là khởi đầu Tin Mừng, tin vui mừng. Tuy nhiên, không khó để thấy ở nơi khởi đầu đó một tâm hồn nặng nề đặc biệt, kết hợp với một loại 'đêm tối của đức tin', một loại 'bức màn che' qua đó người ta phải tiếp cận với Ðấng Vô Hình và sống trong sự thân mật với mầu nhiệm. Thực ra, đây là cách thế mà Ðức Ma-ri-a, trong nhiều năm, đã sống mật thiết với mầu nhiệm của Con Mẹ và tiến bước trong cuộc hành trình đức tin của Mẹ". [217]

288. Có một "kiểu mẫu" Ma-ri-a cho công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội. Hễ khi nào chúng ta ngước mắt nhìn lên Ðức Ma-ri-a, chúng ta lại tin vào bản chất cách mạng của tấm lòng yêu thương và nhân ái. Nơi Mẹ, chúng ta thấy rằng đức khiêm tốn và lòng nhân ái không phải là những nhân đức của những người yếu đuối nhưng của những người mạnh mẻ, những người không cần phải ngược đãi người khác để cảm thấy mình quan trọng. Chiêm ngắm Ðức Ma-ri-a, chúng ta nhận ra rằng Mẹ ca ngợi Thiên Chúa vì "Chúa hạ bệ những ai quyền thế" và "Người giàu có, lại đuổi về tay trắng" (Lc 1: 52, 53), Mẹ cũng là người đem hơi ấm gia đình cho việc chúng ta theo đuổi công lý. Mẹ cũng là người "hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2: 19). Ðức Ma-ri-a có khả năng nhận biết những dấu vết của Thần Khí Thiên Chúa trong những biến cố lớn và nhỏ. Mẹ thường hằng chiêm niệm mầu nhiệm Thiên Chúa trong thế giới của chúng ta, trong lịch sử nhân loại và trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Mẹ là người phụ nữ cầu nguyện và làm việc ở làng quê Na-da-rét, và Mẹ cũng là Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp của chúng ta, Mẹ "vội vã" lên đường từ làng quê của Mẹ để đi phục vụ người khác (Lc 1: 39). Tác động qua lại giữa công lý và nhân ái, giữa chiêm niệm và quan tâm đến người khác, là những gì làm cho cộng đồng Giáo Hội nhìn lên Mẹ như một mô hình của công cuộc Phúc Âm Hóa. Chúng ta cầu xin Mẹ với tình mẫu tử của Mẹ chuyển cầu cho Giáo Hội, cũng là mẹ của mọi dân tộc, để Giáo Hội trở thành mái ấm cho nhiều dân tộc, và chuyển cầu cho con người để con người mở ra một con đường cho cuộc sinh hạ một thế giới mới. Chính Ðức Ki-tô Phục Sinh đã hứa với chúng ta, bằng một lời quyền năng khiến cho lòng chúng ta tràn đầy niềm tin tưởng và niềm hy vọng bất khả chuyển lay: "Này đây, Ta đổi mới mọi sự" (Kh 21: 5). Cùng Mẹ Ma-ri-a, chúng ta tiến bước trên con đường ứng nghiệm lời hứa này, và với Mẹ chúng ta cầu nguyện:

 

Lạy Mẹ Ma-ri-a, Nữ Trinh và Hiền Mẫu

Mẹ là Ðấng đã được Chúa Thánh Thần tác động,

đã đón nhận Lời Hằng Sống

trong cõi thẩm sâu đức tin khiêm hạ của Mẹ,

khi Mẹ tận hiến cho Ðấng Vĩnh Cửu,

xin giúp chúng con biết thân thưa tiếng "xin vâng"

trước lời mời gọi cấp bách và khẩn thiết hơn bao giờ hết

công bố Tin Mừng của Chúa Giêsu.

 

Lòng đầy tràn sự hiện diện của Ðức Ki-tô,

Mẹ mang niềm vui đến cho Gioan Tẩy Giả,

khiến thánh nhân nhảy mừng trong dạ mẹ.

Lòng ngập tràn niềm vui,

Mẹ đã ca ngợi những kỳ công của Chúa.

Ðứng vững dưới chân Thập Giá

với một đức tin kiên vững,

Mẹ đã nhận được niềm an ủi vui mừng về sự Phục Sinh,

và đã hợp cùng các môn đệ trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần

ngõ hầu Giáo Hội truyền giáo được sinh hạ.

 

Xin cầu cho chúng con giờ đây có một nhiệt huyết mới phát sinh từ cuộc Phục Sinh

để mang Tin Mừng Hằng Sống đến cho hết mọi người

Tin Mừng chiến thắng sự chết.

Xin ban cho chúng con lòng can đảm thánh thiện để kiếm tìm những con đường mới

để đem đến cho mọi người

ân ban của vẻ đẹp không bao giờ phai tàn.

 

Lạy Ðức Trinh Nữ của lắng nghe và chiêm niệm,

Mẹ của tình yêu, nàng dâu của tiệc cưới vĩnh cửu,

xin cầu cho Giáo Hội, mà Mẹ là hình tượng khiết trinh,

để Giáo Hội không bao giờ tự khép kín nơi mình

hoặc mất lòng say mê thiết lập Nước Trời.

 

Lạy Mẹ là Ngôi Sao của Tân Phúc Âm Hóa,

xin giúp chúng con trở thành nhân chứng rạng ngời của hiệp thông,

phục vụ, đức tin nhiệt thành và quảng đại,

công lý và lòng yêu thương người nghèo,

để cho niềm vui Tin Mừng

có thể đi đến tận cùng trái đất

và chiếu sáng cho đến ngoại vi của thế giới.

 

Lạy Mẹ là Mẹ của Tin Mừng Hằng Sống,

nguồn hạnh phúc cho nhũng người bé mọn của Chúa,

xin cầu cho chúng con.

Amen. Alleluia!

 

Ban hành tại Rôma, nơi Ðền Thờ Thánh Phêrô, vào dịp kết thúc năm của Ðức Tin, ngày 24 tháng 11, Ðại Lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua Vũ Trụ, năm 2013, năm thứ nhất của triều đại Giáo Hoàng của tôi.

Phanxicô

 

Sao Biển Nha Trang

I-nha-xi-ô Hồ Thông chuyển dịch Việt ngữ

 

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Notes:

[1] PAUL VI, Apostolic Exhortation Gaudete in Domino (9 May 1975), 22: AAS 67 (1975), 297.

[2] Ibid. 8: AAS 67 (1975), 292.

[3] Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 1: AAS 98 (2006), 217.

[4] FIFTH GENERAL CONFERENCE OF THE LATIN AMERICAN AND CARIBBEAN BISHOPS, Aparecida Document, 29 June 2007, 360.

[5] Ibid.

[6] PAUL VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 80: AAS 68 (1976), 75.

[7] Spiritual Canticle, 36, 10.

[8] Adversus Haereses, IV, c. 34, n. 1: PG 7, pars prior, 1083: "Omnem novitatem attulit, semetipsum afferens".

[9] PAUL VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 7: AAS 68 (1976), 9.

[10] Cf. Propositio 7.

[11] BENEDICT XVI, Homily at Mass for the Conclusion of the Synod of Bishops (28 October 2012): AAS 104 (2102), 890.

[12] Ibid.

[13] BENEDICT XVI, Homily at Mass for the Opening of the Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops (13 May 2007), Aparecida, Brazil: AAS 99 (2007), 437.

[14] Encyclical Letter, Redemptoris Missio (7 December 1990), 34: AAS 83 (1991), 280.

[15] Ibid., 40: AAS 83 (1991), 287.

[16] Ibid., 86: AAS 83 (1991), 333.

[17] FIFTH GENERAL CONFERENCE OF THE LATIN AMERICAN AND CARIBBEAN BISHOPS, Aparecida Document, 29 June 2007, 548.

[18] Ibid., 370.

[19] Cf. Propositio 1.

[20] JOHN PAUL II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 32: AAS 81 (1989) 451.

[21] FIFTH GENERAL CONFERENCE OF THE LATIN AMERICAN AND CARIBBEAN BISHOPS, Aparecida Document, 29 June 2007, 201.

[22] Ibid., 551.

[23] PAUL VI, Encyclical Letter Ecclesiam Suam (6 August 1964), 9, 10, 11: AAS 56 (1964), 611-612.

[24]SECOND ECUMENICAL VATICAN COUNCIL, Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 6.

[25] JOHN PAUL II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Oceania (22 November 2001), 19: AAS 94 (2002), 390.

[26] JOHN PAUL II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 September 1988), 26: AAS 81 (1989), 438.

[27] Cf. Propositio 26.

[28] Cf. Propositio 44.

[29] Cf. Propositio 26.

[30] Cf. Propositio 41.

[31] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Decree on the Pastoral Office of Bishops Christus Dominus, 11.

[32] Cf. BENEDICT XVI, Address for the Fortieth Anniversary of the Decree Ad Gentes (11 March 2006): AAS 98 (2006), 337.

[33] Cf. Propositio 42.

[34] Cf. Canons 460-468; 492-502; 511-514; 536-537.

[35] Encyclical Letter Ut Unum Sint (25 May 1995), 95: AAS 87 (1995), 977-978.

[36] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIl, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 23.

[37] JOHN PAUL II, Motu Proprio Apostolos Suos (21 May 1998): AAS 90 (1998), 641-658.

[38] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 11.

[39] Cf. S. Th., I-II, q. 66, a. 4-6.

[40] S. Th., I-II, q. 108, a. 1.

[41] S. Th., II-II, q. 30, a. 4: "We do not worship God with sacrifices and exterior gifts for him, but rather for us and for our neighbour. He has no need of our sacrifices, but he does ask that these be offered by us as devotion and for the benefit of our neighbour. For him, mercy, which overcomes the defects of our devotion and sacrifice, is the sacrifice which is most pleasing, because it is mercy which above all seeks the good of one's neighbour" (S. Th., II-II, q. 30, a. 4, ad 1).

[42] SECOND VATICAN ECUMENICAL COUNCIL, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 12.

[43] Motu Proprio Socialium Scientiarum (1 January 1994): AAS 86 (1994), 209.

[44] Saint Thomas Aquinas noted that the multiplicity and variety "were the intention of the first agent", who wished that "what each individual thing lacked in order to reflect the divine goodness would be made up for by other things", since the Creator's goodness "could not be fittingly reflected by just one creature" (S. Th., I, q. 47, a. 1). Consequently, we need to grasp the variety of things in their multiple relationships (cf. S. Th., I, q. 47, a. 2, ad 1; q. 47, a. 3). By analogy, we need to listen to and complement one another in our partial reception of reality and the Gospel.

[45] JOHN XXIII, Address for the Opening of the Second Vatican Council (11 October 1962): AAS 54 (1962), 792: "Est enim aliud ipsum depositum fidei, seu veritates, quae veneranda doctrina nostra continentur, aliud modus, quo eaedem enuntiantur".

[46] JOHN PAUL II, Encyclical Letter Ut Unum Sint (25 May 1995), 19: AAS 87 (1995), 933.

[47] S. Th., I-II, q. 107, a. 4.

[48] Ibid.

[49] No. 1735

[50] Cf. JOHN PAUL II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Familiaris Consortio (22 November 1981), 34: AAS 74 (1982), 123.

[51] Cf. SAINT AMBROSE, De Sacramentis, IV, 6, 28: PL 16, 464: "I must receive it always, so that it may always forgive my sins. If I sin continually, I must always have a remedy"; ID., op. cit., IV, 5, 24: PL 16, 463: "Those who ate manna died; those who eat this body will obtain the forgiveness of their sins"; SAINT CYRIL OF ALEXANDRIA, In Joh. Evang., IV, 2: PG 73, 584-585: "I examined myself and I found myself unworthy. To those who speak thus I say: when will you be worthy? When at last you present yourself before Christ? And if your sins prevent you from drawing nigh, and you never cease to fall - for, as the Psalm says, 'what man knows his faults?' - will you remain without partaking of the sanctification that gives life for eternity?"

[52] BENEDICT XVI, Address to the Brazilian Bishops in the Cathedral of São Paulo, Brazil (11 May 2007), 3: AAS 99 (2007), 428.

[53] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 10: AAS 84 (1992), 673.

[54] Paul VI, Encyclical Letter Ecclesiam Suam (6 August 1964), 19: AAS 56 (1964), 609.

[55] Saint John Chrysostom, De Lazaro Concio, II, 6: PG 48, 992D.

[56] Cf. Propositio 13.

[57] John Paul II, Apostolic Exhortation Ecclesia in Africa (14 September 1995), 52: AAS 88 (1996), 32-33; ID.,Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 22: AAS 80 (1988), 539.

[58] John Paul II, Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia (6 November 1999), 7: AAS 92 (2000), 458.

[59] United States Conference Of Catholic Bishops, Ministry to Persons with a Homosexual Inclination: Guidelines for Pastoral Care (2006), 17.

[60] Conférence Des Évêques De France, Conseil Famille et Société, Élargir le mariage aux personnes de même sexe? Ouvrons le débat! (28 September 2012).

[61] Cf. Propositio 25.

[62] Azione Cattolica Italiana, Messaggio della XIV Assemblea Nazionale alla Chiesa ed al Paese (8 May 2011).

[63] J. Ratzinger, The Current Situation of Faith and Theology. Conference given at the Meeting of Presidents of Latin American Episcopal Commissions for the Doctrine of the Faith, Guadalajara, Mexico, 1996. Translation in L'Osservatore Romano, English Language Edition, 6 November 1996. Cf. Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Aparecida Document, 29 June 2007, 12.

[64] G. Bernanos, Journal d'un curé de campagne, Paris, 1974, 135.

[65] Address for the Opening of the Second Vatican Council (11 October 1962): 4, 2-4: AAS 54 (1962), 789.

[66] J.H. Newman, Letter of 26 January 1833, in The Letters and Diaries of John Henry Newman, vol. III, Oxford, 1979, 204.

[67] Benedict XVI, Homily at Mass for the Opening of the Year of Faith (11 October 2012): AAS 104 (2012), 881.

[68] Thomas À Kempis, De Imitatione Christi, Lib. I, IX, 5: "Dreaming of different places, and moving from one to another, has misled many".

[69] We can benefit from the testimony of Saint Thérèse of Lisieux, who speaks of one particular Sister whom she found especially disagreeable, where an interior experience had a decisive impact: "One winter afternoon I was engaged as usual in my little task. It was cold and growing dark. Suddenly I heard in the distance the harmonious sounds of a musical instrument. I began to imagine a well-lit room, draped in gold, and in it, elegantly dressed young ladies exchanging worldly compliments and courtesies. Then I looked at the poor sick woman whom I was attending. In place of a melody, I heard her occasional groans and sighs# I cannot express what took place in my soul. All that I do know is that the Lord illumined it with the rays of truth which so surpassed the flickering glow of earthly revels, that I could scarcely believe my happiness" (Ms. C, 29v-30r, in Oeuvres Complètes, Paris, 1992, 274-275).

[70] Cf. Propositio 8.

[71] H. De Lubac, Méditation sur l'Église, Paris, 1968, 321.

[72] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 295.

[73] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 51: AAS 81 (1989), 413.

[74] Congregation for the Doctrine of the Faith, Declaration Inter Insigniores on the Question of the Admission of Women to the Ministerial Priesthood (15 October 1976): AAS 68 (1977) 115, cited in John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), note 190: AAS 81 (1989), 493.

[75] John Paul II, Apostolic Letter Mulieris Dignitatem (15 August 1988), 27: AAS 80 (1988), 1718.

[76] Cf. Propositio 51.

[77] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia (6 November 1999), 19: AAS 92 (2000), 478.

[78] Ibid, 2: AAS 92 (2000), 451.

[79] Cf. Propositio 4.

[80] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 1.

[81] Meditation during the First General Congregation of the XIII Ordinary General Assembly of the Synod of Bishops (8 October 2012): AAS 104 (2012), 897.

[82] Cf. Propositio 6; Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern WorldGaudium et Spes, 22.

[83] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 9.

[84] Cf. Third General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Puebla Document, 23 March 1979, Nos. 386-387.

[85] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 36.

[86] Ibid, 25.

[87] Ibid, 53.

[88] John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 40: AAS 93 (2001), 295.

[89] Ibid.

[90] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 52: AAS 83 (1991), 300; cf. Apostolic Exhortation Catechesi Tradendae (16 October 1979) 53: AAS 71 (1979), 1321.

[91] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Oceania (22 November 2001), 16: AAS 94 (2002), 383.

[92] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Africa (14 September 1995), 61: AAS 88 (1996), 39.

[93] Saint Thomas Aquinas, S. Th. I, q. 39, a. 8 cons. 2: "Without the Holy Spirit who is the bond of both, one cannot understand the connecting unity between the Father and the Son"; cf. I, q. 37, a. 1, ad 3.

[94] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Oceania (22 November 2001), 17: AAS 94 (2002), 385.

[95] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia (6 November 1999), 20: AAS 92 (2000), 478-482.

[96] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 12.

[97] John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 71: AAS 91 (1999), 60.

[98] Third General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Puebla Document, 23 March 1979, 450; cf. Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Aparecida Document, 29 June 2007, 264.

[99] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia (6 November 1999), 21: AAS 92 (2000), 482-484.

[100] No. 48: AAS 68 (1976), 38.

[101] Ibid.

[102] Opening Address of the Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops (13 May 2007), 1: AAS 90 (2007), 446.

[103] Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Aparecida Document, 29 June 2007, 262.

[104] Ibid., 263.

[105] Cf. Saint Thomas Aquinas, S. Th., II-II, q. 2, a. 2.

[106] Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Aparecida Document, 29 June 2007, 264.

[107] Ibid.

[108] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 12.

[109] Cf. Propositio 17.

[110] Cf. Propositio 30.

[111] Cf. Propositio 27.

[112] John Paul II, Apostolic Letter Dies Domini (31 May 1998), 41: AAS 90 (1998), 738-739.

[113] Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 78: AAS 68 (1976), 71.

[114] Ibid.

[115] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 26: AAS 84 (1992), 698.

[116] Ibid., 25: AAS 84 (1992), 696.

[117] Saint Thomas Aquinas, S. Th. II-II, q. 188, a. 6.

[118] Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 76: AAS 68 (1976), 68.

[119] Ibid., 75: AAS 68 (1976), 65.

[120] Ibid., 63: AAS 68 (1976), 53

[121] Ibid., 43: AAS 68 (1976), 33

[122] Ibid.

[123] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 10: AAS 84 (1992), 672.

[124] Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 40: AAS 68 (1976), 31.

[125] Ibid., 43: AAS 68 (1976), 33.

[126] Cf. Propositio 9.

[127] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 26: AAS 84 (1992), 698.

[128] Cf. Propositio 38.

[129] Cf. Propositio 20.

[130] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Means of Social Communication Inter Mirifica, 6.

[131] Cf. De Musica, VI, 13, 38: PL 32, 1183-1184; Confessiones, IV, 13.20: PL 32, 701.

[132] Benedict XVI, Address for the Screening of the Documentary "Art and Faith" - Via Pulchritudinis (25 October 2012): L'Osservatore Romano (27 October 2012), 7.

[133] S. Th., I-II, q. 65, a. 3, ad 2: "propter aliquas dispositiones contrarias".

[134] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Asia (6 November 1999), 20: AAS 92 (2000), 481.

[135] Benedict XVI , Post-Synodal Apostolic Exhortation Verbum Domini (30 September 2010), 1: AAS 102 (2010), 682.

[136] Cf. Propositio 11.

[137] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on Divine Revelation Dei Verbum, 21-22.

[138] Cf. Benedict XVI, Post-Synodal Apostolic Exhortation Verbum Domini (30 September 2010), 86-87: AAS 102 (2010), 757-760.

[139] Benedict XVI, Address during the First General Congregation of the Synod of Bishops (8 October 2012): AAS 104 (2012), 896.

[140] Paul VI, Post-Synodal Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 17: AAS 68 (1976), 17.

[141] John Paul II, Message to the Handicapped, Angelus (16 November 1980): Insegnamenti, 3/2 (1980), 1232.

[142] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 52.

[143] John Paul, Catechesis (24 April 1991): Insegnamenti, 14/1 (1991), 853.

[144] Benedict XVI, Motu Proprio Intima Ecclesiae Natura (11 November 2012): AAS 104 (2012), 996.

[145] Encyclical Letter Populorum Progressio (16 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[146] Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 29: AAS 68 (1976), 25.

[147] Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops, Aparecida Document, 29 June 2007, 380.

[148] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 9.

[149] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in America (22 January 1999), 27: AAS 91 (1999), 762.

[150] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 28: AAS 98 (2006), 239-240.

[151] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 12.

[152] Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4: AAS 63 (1971), 403.

[153] Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction Libertatis Nuntius (6 August 1984), XI, 1: AAS 76 (1984), 903.

[154] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 157.

[155] Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 23: AAS 63 (1971), 418.

[156] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 65: AAS 59 (1967), 289.

[157] Ibid., 15: AAS 59 (1967), 265.

[158] Conferência Nacional Dos Bispos Do Brazil, Exigências evangélicas e éticas de superação da miséria e da fome"(April 2002), Introduction, 2.

[159] John XIII, Encyclical Letter Mater et Magistra (15 May 1961), 3: AAS 53 (1961), 402.

[160] Saint Augustine, De Catechizandis Rudibus, I, XIX, 22: PL 40, 327.

[161] Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction Libertatis Nuntius (6 August 1984), XI, 18: AAS 76 (1984), 907-908.

[162] John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus

(1 May 1991), 41: AAS 83 (1991), 844-845.

[163] John Paul II, Homily at Mass for the Evangelization of Peoples in Santo Domingo (11 October 1984), 5: AAS 77 (1985), 358.

[164] John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 42: AAS 80 (1988), 572.

[165] Address at the Inaugural Session of the Fifth General Conference of the Latin American and Caribbean Bishops (13 May 2007), 3: AAS 99 (2007), 450.

[166] Saint Thomas Aquinas, S. Th., II-II, q. 27, a. 2.

[167] Ibid., I-II, q. 110, a. 1.

[168] Ibid., I-II, q. 26, a. 3.

[169] John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 50: AAS 93 (2001), 303.

[170] Ibid.

[171] Cf. Propositio 45.

[172] Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction Libertatis Nuntius (6 August 1984), XI, 18: AAS 76 (1984), 908.

[173] This implies a commitment to "eliminate the structural causes of global economic dysfunction": Benedict XVI,Address to the Diplomatic Corps (8 January 2007): AAS 99 (2007), 73.

[174] Cf. Commission Sociale de L'épiscopat Français, Réhabiliter la politique (17 February 1999); cf. PIUS XI, Message of 18 December 1927.

[175] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 2: AAS 101 (2009), 642.

[176] John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 37: AAS 81 (1989), 461.

[177] Cf. Propositio 56.

[178] Catholic Bishops Conference of the Philippines, Pastoral Letter What is Happening to our Beautiful Land? (29 January 1988).

[179] Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 76: AAS 59 (1967), 294-295.

[180] United States Conference of Catholic Bishops, Pastoral Letter Forming Conscience for Faithful Citizenship(November 2007), 13.

[181] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 161.

[182] Das Ende der Neuzeit, W#rzburg, 1965, 30-31.

[183] Cf. I. Quiles, S.J., Filosofía de la educación personalista, Buenos Aires, 1981, 46-53.

[184] Comité Permanent De La Conférence Épiscopale Nationale Du Congo, Message sur la situation sécuritaire dans le pays (5 December 2012), 11.

[185] Cf. Plato, Gorgias, 465.

[186] Benedict XVI, Address to the Roman Curia (21 December 2012): AAS 105 (2013), 51.

[187] Cf. Propositio 14.

[188] Cf. Catechism of the Catholic Church, 1910; Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 168.

[189] Cf. Propositio 54.

[190] John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 88: AAS 91 (1999), 74.

[191] Saint Thomas Aquinas, Summa contra Gentiles, I, 7; cf. John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 43: AAS 91 (1999), 39.

[192] Second Vatican Council, Decree on Ecumenism Unitatis Redintegratio, 4.

[193] Cf. Propositio 52.

[194] Indian Bishops' Conference, Final Declaration of the XXX Assembly: The Role of the Church for a Better India(8 March 2013), 8.9.

[195] Cf. Propositio 53.

[196] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 56: AAS 83 (1991), 304.

[197] Cf. Benedict XVI, Address to the Roman Curia (21 December 2012): AAS 105 (2006), 51; Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 9; Catechism of the Catholic Church, 856.

[198] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 16.

[199] International Theological Commission, Christianity and the World Religions (1996), 72: Enchiridion Vaticanum 15, No. 1061.

[200] Ibid.

[201] Cf. ibid., 81-87: Enchiridion Vaticanum 15, Nos. 1070-1076.

[202] Cf. Propositio 16.

[203] Benedict XVI, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Medio Oriente (14 September 2012), 26: AAS 104 (2012), 762.

[204] Cf. Propositio 55.

[205] Cf. Propositio 36.

[206] John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 52: AAS 93 (2001), 304.

[207] Cf. V.M. Fernández, "Espiritualidad para la esperanza activa. Discurso en la apertura del I Congreso Nacional de Doctrina Social de la Iglesia (Rosario 2011)", in UCActualidad, 142 (2011), 16.

[208] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 45: AAS 83 (1991), 292.

[209] Benedict XVI, Encyclical Letter, Deus Caritas Est (25 December 2005), 16: AAS 98 (2006), 230.

[210] Ibid., 39: AAS 98 (2006), 250.

[211] Second Special Assembly for Europe of the Synod of Bishops, Final Message, 1: L'Osservatore Romano, Weekly English-language edition, 27 October 1999, 5.

[212] Isaac of Stella, Sermo 51: PL 194, 1863, 1865.

[213] Nican Mopohua, 118-119.

[214] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 52-69.

[215] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Mater (25 March 1987), 6: AAS 79 (1987), 366-367.

[216] Cf. Propositio 58.

[217] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Mater (25 March 1987), 17: AAS 79 (1987), 381.

 

(Lm. Inhaxiô Hồ Thông chuyển dịch Việt ngữ)

 


Back to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page